club_libertad
Đàn iem Duy Mạnh
Xưa có ba nhà sư: Thích Nhất Hạnh, Thích Trí Quang và Thích Quảng Độ. Cả bà đều tinh thông Phật pháp. Nhất Hạnh nói hay và viết giỏi. Trí Quang có tài lãnh đạo và được quần chúng tin tưởng. Quảng Độ học vấn cao và giỏi ngoại ngữ.
Khi chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, họ tranh đấu cùng những nhà sư khác. Nhất Hạnh kêu gọi tự do tôn giáo và hòa bình cho Việt Nam ở hải ngoại. Trí Quang dẫn đầu hàng vạn các nhà sư, Phật tử biểu tình ở Sài Gòn. Quảng Độ, nhỏ tuổi nhất trong ba người, sát cánh cùng Phật tử trên đường phố.
Khi những người kongsan đến, họ rẽ ra ba hướng khác nhau. Nhất Hạnh nổi tiếng thế giới với tăng đoàn Làng Mai. Trí Quang chịu cảnh tù đày và không bao giờ nói về chính trị nữa. Quảng Độ tiếp tục cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo và nhân quyền, trở thành nhà sư bị giam lỏng lâu nhất ở Việt Nam.
1997
Đó là vào một ngày tháng 10 năm 1997, trong một rạp hát ở thành phố Berkeley nước Mỹ, khoảng 3.500 người đã mua vé 20 đô-la mỗi người ngồi im lặng để đợi gặp một nhà sư mà họ kính trọng nhất.
Tiếng chuông vang lên, một nhà sư hô “tất cả đứng”, Thiền sư Nhất Hạnh trong bộ áo tràng màu nâu dẫn đầu 35 tăng, ni bước chậm rãi ra sân khấu.
Nhiều khán giả chấp hai tay trước ngực, hướng mắt về sân khấu. Ngồi trên một bục cao bên cạnh một chiếc chuông đồng lớn và một dàn hoa mặt trời khổng lồ, Thiền sư Nhất Hạnh bắt đầu nói về chánh niệm. “Hãy học cách thôi vội vã”, ông nói với khán giả. “Nhiều người trong chúng ta lúc nào cũng vội vã với mọi thứ trong cuộc sống”.
“Xã hội của chúng ta rất là cá nhân, ích kỷ vì nhiều người chỉ biết nghĩ cho họ bản thân họ mà thôi… Thế nhưng, thật ra nếu bạn có khao khát, có ý định để giúp đời thì điều đó vẫn còn rất khó khăn đối với bạn, bởi vì nếu bạn không an yên trong chính bản thân mình thì thật rất khó để kết nối với người khác một cách an lạc để giúp đỡ họ”, ông nói với nhà báo Don Lattin của San Francisco Chronicle.
Vào lúc này, Thiền sư Nhất Hạnh đã nổi tiếng trên thế giới nhờ nói về chánh niệm và hòa bình cho nhân loại. Sau năm 1975, ông không nói về nhân quyền ở Việt Nam trên báo chí quốc tế nữa, mặc dù Phật giáo nước ông đương lúc nghiêng ngửa.
Cũng vào lúc này, cách nước Mỹ hàng vạn dặm, Hòa thượng Quảng Độ đang viết bộ từ điển Phật Quang trong nhà tù. Ông bị kết án tù 5 năm vào năm 1995 vì đi giúp đồng bào miền Tây gặp lũ lụt. Mười năm trước đó, ông chứng kiến mẹ mình đã chết trong đói rét vì bị chính quyền lưu đày cùng ông ở Thái Bình.
Vào năm 1997, Hòa thượng Trí Quang đã quen với cuộc sống êm đềm của mình. Ông không nói về chính trị hay tranh đấu bất bạo động nữa.
Sau năm 1975, ông phải ngồi xe lăn để trị đôi chân đã teo lại vì bị chính quyền mới tra tấn, theo một nhà sư bị giam giữ cùng ông khi đó. Báo chí quốc tế cũng thôi nhắc đến ông trong các bi kịch của Phật giáo miền Nam từ thập niên 1980.
Tuổi thơ thời loạn
Sinh ra trong thời kỳ loạn khi người Pháp, người Nhật thay nhau điều khiển đất nước, họ đều đã chứng kiến những điều kinh hoàng của lịch sử.
Ở tận làng Diêm Điền, tỉnh Quảng Bình, một hôm mẹ của Trí Quang ra chợ thì gặp hai nhà sư làm bà bị ấn tượng mạnh, ông kể trong tự truyện tự ghi. Về nhà, bà nói với ông xã rằng gia đình phải có ai đi tu như hai thầy ấy. Thế là vào giao thừa năm 1938, Trí Quang bấy giờ 15 tuổi được xuống tóc rồi đi tu chùa Phổ Minh. Một năm sau, ông chuyển vào Huế để tu học trong sáu năm. Khi phụ trách Ủy ban Phật giáo Cứu Quốc tỉnh Quảng Bình (được xem như thành viên của Mặt trận Việt Minh), ông chứng kiến cảnh đồng môn mình kẻ chết, người đổ máu trong kháng chiến chống Pháp.
Ở Huế, Nhất Hạnh lớn lên trong một gia đình có cha làm việc cho chính quyền của vua Bảo Đại. Ông nói rằng từ nhỏ ông đã thấy hạt giống của Phật tổ nảy sinh trong ông. Trả lời phóng vên Don Lattin về thời thơ ấu, ông nói, những ngày đi học ở trường làng, ông cùng bạn bè đi xin từng nhà mỗi chén gạo để cứu đói cho dân chúng, nhưng họ cũng phải sớm quyết định rằng ai được ăn và ai không vì không đủ gạo. Năm 1942, Thiền sư Nhất Hạnh khi đó 16 tuổi xuất gia tại chùa Từ Hiếu, Huế.
Cũng trong năm đó, một người thiếu niên 15 tuổi ở Thái Bình ra tỉnh Hà Đông (Hà Nội ngày nay) để xuất gia tại chùa Thanh Lam, lấy pháp danh là Quảng Độ. Ông kể rằng, chỉ ba năm sau khi xuất gia, ông chứng kiến thầy của mình bị nghi là Việt gian rồi bị Việt Minh trói như một tên tội phạm để mang ra sân đình, tại đó thầy ông bị đấu tố rồi xử tử bằng ba phát đạn. Lúc đó, người thanh niên 18 tuổi thề rằng sẽ lấy lòng từ bi, khoan dung và bất bạo động của Phật giáo để chống sự cuồng tín, bất dung.
Khi chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, họ tranh đấu cùng những nhà sư khác. Nhất Hạnh kêu gọi tự do tôn giáo và hòa bình cho Việt Nam ở hải ngoại. Trí Quang dẫn đầu hàng vạn các nhà sư, Phật tử biểu tình ở Sài Gòn. Quảng Độ, nhỏ tuổi nhất trong ba người, sát cánh cùng Phật tử trên đường phố.
Khi những người kongsan đến, họ rẽ ra ba hướng khác nhau. Nhất Hạnh nổi tiếng thế giới với tăng đoàn Làng Mai. Trí Quang chịu cảnh tù đày và không bao giờ nói về chính trị nữa. Quảng Độ tiếp tục cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo và nhân quyền, trở thành nhà sư bị giam lỏng lâu nhất ở Việt Nam.
1997
Đó là vào một ngày tháng 10 năm 1997, trong một rạp hát ở thành phố Berkeley nước Mỹ, khoảng 3.500 người đã mua vé 20 đô-la mỗi người ngồi im lặng để đợi gặp một nhà sư mà họ kính trọng nhất.
Tiếng chuông vang lên, một nhà sư hô “tất cả đứng”, Thiền sư Nhất Hạnh trong bộ áo tràng màu nâu dẫn đầu 35 tăng, ni bước chậm rãi ra sân khấu.
Nhiều khán giả chấp hai tay trước ngực, hướng mắt về sân khấu. Ngồi trên một bục cao bên cạnh một chiếc chuông đồng lớn và một dàn hoa mặt trời khổng lồ, Thiền sư Nhất Hạnh bắt đầu nói về chánh niệm. “Hãy học cách thôi vội vã”, ông nói với khán giả. “Nhiều người trong chúng ta lúc nào cũng vội vã với mọi thứ trong cuộc sống”.
“Xã hội của chúng ta rất là cá nhân, ích kỷ vì nhiều người chỉ biết nghĩ cho họ bản thân họ mà thôi… Thế nhưng, thật ra nếu bạn có khao khát, có ý định để giúp đời thì điều đó vẫn còn rất khó khăn đối với bạn, bởi vì nếu bạn không an yên trong chính bản thân mình thì thật rất khó để kết nối với người khác một cách an lạc để giúp đỡ họ”, ông nói với nhà báo Don Lattin của San Francisco Chronicle.
Vào lúc này, Thiền sư Nhất Hạnh đã nổi tiếng trên thế giới nhờ nói về chánh niệm và hòa bình cho nhân loại. Sau năm 1975, ông không nói về nhân quyền ở Việt Nam trên báo chí quốc tế nữa, mặc dù Phật giáo nước ông đương lúc nghiêng ngửa.
Cũng vào lúc này, cách nước Mỹ hàng vạn dặm, Hòa thượng Quảng Độ đang viết bộ từ điển Phật Quang trong nhà tù. Ông bị kết án tù 5 năm vào năm 1995 vì đi giúp đồng bào miền Tây gặp lũ lụt. Mười năm trước đó, ông chứng kiến mẹ mình đã chết trong đói rét vì bị chính quyền lưu đày cùng ông ở Thái Bình.
Vào năm 1997, Hòa thượng Trí Quang đã quen với cuộc sống êm đềm của mình. Ông không nói về chính trị hay tranh đấu bất bạo động nữa.
Sau năm 1975, ông phải ngồi xe lăn để trị đôi chân đã teo lại vì bị chính quyền mới tra tấn, theo một nhà sư bị giam giữ cùng ông khi đó. Báo chí quốc tế cũng thôi nhắc đến ông trong các bi kịch của Phật giáo miền Nam từ thập niên 1980.
Tuổi thơ thời loạn
Sinh ra trong thời kỳ loạn khi người Pháp, người Nhật thay nhau điều khiển đất nước, họ đều đã chứng kiến những điều kinh hoàng của lịch sử.
Ở tận làng Diêm Điền, tỉnh Quảng Bình, một hôm mẹ của Trí Quang ra chợ thì gặp hai nhà sư làm bà bị ấn tượng mạnh, ông kể trong tự truyện tự ghi. Về nhà, bà nói với ông xã rằng gia đình phải có ai đi tu như hai thầy ấy. Thế là vào giao thừa năm 1938, Trí Quang bấy giờ 15 tuổi được xuống tóc rồi đi tu chùa Phổ Minh. Một năm sau, ông chuyển vào Huế để tu học trong sáu năm. Khi phụ trách Ủy ban Phật giáo Cứu Quốc tỉnh Quảng Bình (được xem như thành viên của Mặt trận Việt Minh), ông chứng kiến cảnh đồng môn mình kẻ chết, người đổ máu trong kháng chiến chống Pháp.
Ở Huế, Nhất Hạnh lớn lên trong một gia đình có cha làm việc cho chính quyền của vua Bảo Đại. Ông nói rằng từ nhỏ ông đã thấy hạt giống của Phật tổ nảy sinh trong ông. Trả lời phóng vên Don Lattin về thời thơ ấu, ông nói, những ngày đi học ở trường làng, ông cùng bạn bè đi xin từng nhà mỗi chén gạo để cứu đói cho dân chúng, nhưng họ cũng phải sớm quyết định rằng ai được ăn và ai không vì không đủ gạo. Năm 1942, Thiền sư Nhất Hạnh khi đó 16 tuổi xuất gia tại chùa Từ Hiếu, Huế.
Cũng trong năm đó, một người thiếu niên 15 tuổi ở Thái Bình ra tỉnh Hà Đông (Hà Nội ngày nay) để xuất gia tại chùa Thanh Lam, lấy pháp danh là Quảng Độ. Ông kể rằng, chỉ ba năm sau khi xuất gia, ông chứng kiến thầy của mình bị nghi là Việt gian rồi bị Việt Minh trói như một tên tội phạm để mang ra sân đình, tại đó thầy ông bị đấu tố rồi xử tử bằng ba phát đạn. Lúc đó, người thanh niên 18 tuổi thề rằng sẽ lấy lòng từ bi, khoan dung và bất bạo động của Phật giáo để chống sự cuồng tín, bất dung.