Cảnh báo lừa đảo‼️ Cuối tuần bàn chuyện chính em: VÌ SAO CONAN TRUNG QUỐC KHÔNG CÓ GHẾ TRONG THƯỜNG VỤ BỘ ÍT NGƯỜI

TUG

Thích phó đà
Vatican-City
Trong hệ thống chính trị Trung Quốc, việc người đứng đầu ngành an ninh không có mặt trong nhóm 7 người quyền lực nhất, tức Thường vụ Bộ Chính trị, không phải là chuyện ngẫu nhiên. Đây là kết quả của một thiết kế thể chế có chủ đích, hình thành từ hệ thống tiêu chí tuyển chọn lãnh đạo và từ những bài học cay đắng trong lịch sử chính trị nội bộ của đảng.

TIÊU CHÍ NGẦM TUYỂN CHỌN THƯỜNG VỤ BỘ CHÍNH TRỊ
Để lọt vào nhóm 7 người lãnh đạo cao nhất, một quan chức Trung Quốc gần như bắt buộc phải chứng minh được năng lực quản lý toàn diện, thường thông qua việc từng làm Bí thư Tỉnh ủy của ít nhất 2 tỉnh hoặc thành phố lớn như Quảng Đông, Thượng Hải, Chiết Giang hay Giang Tô. Yêu cầu này nhằm kiểm chứng khả năng điều hành kinh tế, ngân sách và xã hội trên quy mô hàng chục triệu dân. Hệ quả trực tiếp là những cán bộ đi lên thuần túy từ ngành công an, tình báo hay an ninh, tức nhóm chuyên gia lĩnh vực hẹp, gần như luôn bị loại khỏi danh sách vì thiếu kinh nghiệm quản trị vĩ mô. Cấu trúc 7 ghế Thường vụ khóa gần đây nhất thường gắn với các trụ cột quốc gia gồm Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước, Thủ tướng phụ trách kinh tế, Chủ tịch Nhân đại phụ trách lập pháp, Chủ tịch Chính hiệp phụ trách mặt trận và dân vận, Bí thư Ban Bí thư phụ trách công tác đảng và nhân sự, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương phụ trách chống tham nhũng, và một Phó Thủ tướng thường trực phụ trách chính sách vĩ mô. Không có ghế nào trong số này dành riêng cho ngành công an.
Sự phân công điều tra kỷ luật đảng được giao cho Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương chứ không phải Bộ Công an, vốn chỉ xử lý vi phạm pháp luật ngoài xã hội hoặc thực thi bắt giữ khi hồ sơ đã được chuyển giao. Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc cũng không báo cáo trực tiếp lên Thường vụ mà phải qua một cơ quan trung gian là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, người đứng đầu ủy ban này thường chỉ là Ủy viên Bộ Chính trị chứ không thuộc Thường vụ. Việc tạo ra nhiều tầng nấc giám sát như vậy khiến Bộ Công an chỉ đóng vai trò cơ quan thực thi lệnh, không có quyền tự quyết chính trị.
Việt Nam và Trung Quốc vận hành hai mô hình quản lý công an khác hẳn nhau. Tại Việt Nam, sau các đợt tinh gọn bộ máy từ năm 2018, Bộ Công an vận hành theo mô hình ngành dọc xuyên suốt từ Trung ương đến cấp xã. Giám đốc Công an tỉnh do Bộ trưởng Bộ Công an bổ nhiệm và luân chuyển, thường là người từ địa phương khác đến, giúp vị trí này độc lập với chính quyền tỉnh về cả nhân sự lẫn chỉ đạo nghiệp vụ. Một Bí thư Tỉnh ủy tại Việt Nam không thể đơn phương cách chức hay điều chuyển Giám đốc Công an tỉnh, và trong nhiều vụ án tham nhũng lớn tại địa phương, lực lượng công an vẫn có thể điều tra cả cán bộ thuộc Thường vụ Tỉnh ủy mà không cần báo trước cho lãnh đạo tỉnh đó. Vị thế của Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam trong Bộ Chính trị vì vậy thường rất cao, và quyền lực thực tế của vị trí này thường vượt xa các bộ trưởng kinh tế hay dân sự khác. Việc đưa công an chính quy về cấp xã cũng là một bước đi cụ thể nhằm cắt đứt mối quan hệ phụ thuộc còn sót lại của công an cơ sở vào chính quyền địa phương.
Tại Trung Quốc, mô hình vận hành theo kiểu song trùng lãnh đạo, trong đó công an cấp tỉnh chịu sự quản lý và phụ thuộc tài chính lẫn nhân sự rất lớn từ Ủy ban Chính trị Pháp luật và Bí thư Tỉnh ủy địa phương, còn Bộ Công an Trung ương chỉ điều hành về mặt chuyên môn nghiệp vụ và người đứng đầu khối an ninh còn chịu thêm một tầng giám sát riêng từ Quân ủy Trung ương. Một vụ việc nổi tiếng trong chính trường Trung Quốc từng cho thấy rõ điều này, khi một bí thư thành ủy cách chức giám đốc công an thành phố của mình mà không cần phê chuẩn từ Bắc Kinh, minh chứng cho việc quyền lực của Bí thư Tỉnh ủy đối với công an địa phương ở Trung Quốc mang tính trực tiếp và áp đặt, khác hẳn thực tế Việt Nam. Mỗi mô hình cũng mang một nguy cơ hệ thống riêng. Ở Việt Nam, quyền lực tập trung cao vào một bộ dễ dẫn đến nguy cơ bộ này lấn lướt các khối hành chính khác. Ở Trung Quốc, nguy cơ lớn hơn lại nằm ở việc công an địa phương cấu kết với quan chức địa phương, tức tình trạng cát cứ.
Sự khác biệt giữa hai mô hình không đến từ ngẫu nhiên mà bắt nguồn từ vài nhóm nguyên nhân. Về địa chính trị, Trung Quốc có diện tích gần 9,6 triệu km2 với 33 đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong đó một tỉnh như Tứ Xuyên hay Quảng Đông có dân số ngang bằng hoặc lớn hơn cả một quốc gia, khiến Bắc Kinh khó lòng quản lý trực tiếp công an đến từng địa phương và buộc phải trao bớt quyền cho chính quyền tỉnh. Việt Nam với quy mô diện tích và dân số nhỏ hơn nhiều cho phép mô hình tập trung ngành dọc vận hành hiệu quả. Về bài học lịch sử, một vụ án chính trị chấn động liên quan đến người từng đứng đầu ngành an ninh Trung Quốc khiến Bắc Kinh lo sợ việc hình thành một đế chế an ninh độc lập có thể đe dọa quyền lãnh đạo tập trung, nên chủ động phân tán quyền lực khối này. Ngược lại, thách thức lớn nhất của Việt Nam trong nhiều thập kỷ lại là tình trạng cát cứ địa phương và nguy cơ suy thoái ở cấp cán bộ tỉnh, nên Việt Nam chọn hướng ngược lại là tăng quyền cho công an như một công cụ thanh tra và kiểm tra độc lập với chính quyền địa phương.
Về thiết kế thể chế, Trung Quốc cài thêm lớp đệm là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương giữa Bộ Công an và Thường vụ, trong khi Việt Nam không có cơ quan đệm tương đương, để Bộ Công an báo cáo trực tiếp cho Bộ Chính trị và Tổng Bí thư. Về văn hóa quản trị, Trung Quốc vận hành theo cơ chế cạnh tranh phát triển kinh tế giữa các tỉnh, trao cho Bí thư Tỉnh ủy quyền sinh sát khá lớn kể cả với lực lượng công an địa phương để chủ động giữ ổn định và phát triển kinh tế tỉnh nhà, còn Việt Nam ưu tiên tính thống nhất từ Trung ương xuống địa phương nhằm tránh tình trạng chỉ đạo không được thực thi ở cấp dưới.
Song song với sự khác biệt về mô hình công an, xuất thân học vấn của giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc cũng trải qua 3 làn sóng dịch chuyển rõ rệt trong khoảng 40 năm qua.
Làn sóng đầu tiên, kéo dài từ thập niên 1990 đến đầu những năm 2000 dưới thời Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, là giai đoạn các kỹ sư kỹ thuật chiếm ưu thế tuyệt đối trong Thường vụ, tiêu biểu như Giang Trạch Dân tốt nghiệp kỹ sư điện, Lý Bằng kỹ sư thủy điện, Hồ Cẩm Đào kỹ sư thủy lợi từ Đại học Thanh Hoa, và Ôn Gia Bảo học ngành địa chất. Sự ưu tiên này phản ánh nhu cầu hiện đại hóa hạ tầng và công nghiệp sau Cách mạng Văn hóa dưới chủ trương của Đặng Tiểu Bình.
Làn sóng thứ hai bắt đầu từ khoảng năm 2007, gắn với nửa đầu thời kỳ Tập Cận Bình, khi tỷ lệ kỹ sư trong Thường vụ sụt giảm mạnh, nhường chỗ cho những người có nền tảng luật, kinh tế và khoa học xã hội, như Tập Cận Bình có bằng kỹ thuật hóa học rồi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ luật và chính trị học, Lý Khắc Cường có bằng cử nhân luật và tiến sĩ kinh tế từ Đại học Bắc Kinh, còn Vương Hỗ Ninh là giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Phục Đán. Sự dịch chuyển này phản ánh việc các thách thức quản trị chuyển từ xây dựng hạ tầng sang chính sách tiền tệ, thương mại quốc tế và cải cách pháp lý.
Làn sóng thứ ba đang diễn ra từ sau Đại hội 20, khi nhóm cán bộ xuất thân từ ngành hàng không vũ trụ và công nghệ cao dần nổi lên trong Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, tiêu biểu như Trương Khánh Vĩ, cựu lãnh đạo Tập đoàn Khoa học và Công nghiệp Vũ trụ Trung Quốc, và Viên Gia Quân, người từng chỉ huy các dự án tàu vũ trụ Thần Châu, cả hai sau đó đều từng làm Bí thư Tỉnh ủy. Sự trỗi dậy của nhóm này gắn với ưu tiên tự chủ công nghệ của Trung Quốc trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược với Mỹ.
Xuyên suốt cả 3 làn sóng, giới tinh hoa Trung Quốc gần như luôn tốt nghiệp các trường đại học hàng đầu như Thanh Hoa và Bắc Kinh, đồng thời đều trải qua các khóa đào tạo lý luận chính trị tại Trường Đảng Trung ương trước khi được thăng tiến. Và dù chuyên môn nền tảng có thay đổi qua từng thời kỳ, một điểm gần như không đổi là những người có xuất thân thuần túy từ ngành công an hay tình báo vẫn hầu như không bao giờ lọt vào danh sách ứng viên cho Thường vụ Bộ Chính trị.
 
VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH CHO SỰ SỤP ĐỔ QUYỀN LỰC AN NINH
Trường hợp gần nhất ngành an ninh Trung Quốc có ghế trong Thường vụ Bộ Chính trị là Chu Vĩnh Khang, giữ chức Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 11 năm 2012, kế nhiệm La Cán, người đã mở đường đưa ghế này vào Thường vụ từ khóa trước đó, giai đoạn 2002 đến 2007. Trước đó nữa, từ năm 1985 đến năm 1992, Kiều Thạch từng nắm một sự tập trung quyền lực còn đậm đặc hơn khi vừa đứng đầu Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương vừa là ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị vừa kiêm luôn Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, tức nắm cả khối an ninh, khối kỷ luật đảng và ghế lãnh đạo cao nhất cùng lúc. Điều này cho thấy nỗi lo về một đế chế an ninh độc lập trong đảng đã manh nha từ rất sớm, không chỉ bắt đầu với Chu Vĩnh Khang. Sự xuất hiện của Chu Vĩnh Khang gắn với 3 yếu tố đặc thù của thời Hồ Cẩm Đào. Trước hết là mô hình lãnh đạo tập thể 9 ủy viên Thường vụ, mỗi người phụ trách độc lập một mảng, khiến ghế phụ trách duy trì ổn định nội địa được nâng cấp. Kế đến, Chu Vĩnh Khang không xuất thân thuần túy từ ngành công an mà từng tốt nghiệp ngành thăm dò dầu khí tại Học viện Dầu khí Bắc Kinh, làm Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc, rồi làm Bí thư Tỉnh ủy Tứ Xuyên từ năm 2000 đến năm 2002, tức có kinh nghiệm quản lý địa phương và kinh tế bên cạnh xuất thân ngành dầu khí.
Sau khi vào Thường vụ, ông thâu tóm toàn bộ khối Bộ Công an, Bộ Quốc an, tòa án, viện kiểm sát và Cảnh sát Vũ trang, biến khối an ninh thành một cỗ máy khép kín. Năm 2011, lần đầu tiên trong lịch sử, ngân sách an ninh nội địa của Trung Quốc vượt ngân sách quốc phòng chính thức, đạt khoảng 624 tỷ nhân dân tệ, tương đương hơn 100 tỷ USD. Vì Chu Vĩnh Khang ngang hàng chính trị với Tổng Bí thư và Thủ tướng trong Thường vụ, nguyên tắc lãnh đạo tập thể khiến không cá nhân nào có quyền đơn phương can thiệp vào mảng an ninh của ông. Ông còn bị cáo buộc dùng hạ tầng nghe lén của Bộ Công an để thu thập thông tin của các lãnh đạo khác và cấu kết với Bạc Hy Lai nhằm cản trở việc Tập Cận Bình kế nhiệm tại Đại hội 18 năm 2012.
Trước thời Tập Cận Bình, đảng có một thông lệ ngầm kéo dài nhiều thập kỷ là các cựu ủy viên Thường vụ khi đã nghỉ hưu sẽ được miễn trừ truy cứu hình sự để bảo đảm ổn định nội bộ. Chu Vĩnh Khang, nghỉ hưu tháng 11 năm 2012, trở thành ủy viên Thường vụ đầu tiên bị điều tra hình sự kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, đồng thời là quan chức cấp cao nhất bị đưa ra xét xử kể từ phiên tòa xử nhóm Tứ nhân bang năm 1981. Quá trình xử lý diễn ra theo kiểu bóc tách từng lớp. Chỉ 18 ngày sau khi Chu Vĩnh Khang nghỉ hưu, một phó bí thư Tứ Xuyên thân cận với ông đã bị điều tra tham nhũng, mở đầu cho một loạt vụ bắt giữ nhắm vào mạng lưới của ông tại Tứ Xuyên và ngành dầu khí, trong đó có cựu Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc và một thứ trưởng Bộ Công an từng là cánh tay phải của ông trong ngành an ninh.
Con trai ông cùng nhiều doanh nhân thân tín cũng bị điều tra thu giữ tài sản. Theo Reuters, hơn 300 người thân, đồng minh chính trị và nhân viên của Chu Vĩnh Khang đã bị tạm giữ hoặc thẩm vấn trong quá trình điều tra, và nhà chức trách đã tịch thu tài sản trị giá ít nhất 90 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 14,5 tỷ USD, từ gia đình và cộng sự của ông. Tháng 12 năm 2013, đảng chính thức mở cuộc điều tra nội bộ với Chu Vĩnh Khang, công khai vào tháng 7 năm 2014, rồi khai trừ đảng tịch và bắt giữ chính thức vào tháng 12 năm 2014. Tòa án Nhân dân Trung cấp số 1 Thiên Tân tuyên án tù chung thân đối với ông vào ngày 11 tháng 6 năm 2015 với các tội danh nhận hối lộ, lạm dụng quyền lực và cố ý làm lộ bí mật nhà nước.
Một câu hỏi logic đặt ra là nếu Chu Vĩnh Khang nắm toàn bộ công an và tình báo, ai đủ sức điều tra và bắt giữ ông. Câu trả lời nằm ở 3 công cụ nằm ngoài tầm kiểm soát của ông. Thứ nhất là Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, cơ quan kỷ luật nội bộ đảng hoàn toàn độc lập với Bộ Công an, có thẩm quyền giam giữ và thẩm vấn đảng viên mà không cần qua thủ tục tố tụng thông thường. Người đứng đầu cơ quan này khi đó là Vương Kỳ Sơn, đồng minh thân cận của Tập Cận Bình, trực tiếp chỉ đạo chiến dịch điều tra trong bí mật. Thứ hai là Cục Cảnh vệ Trung ương, lực lượng đặc nhiệm chịu trách nhiệm bảo vệ các lãnh đạo cao nhất, báo cáo trực tiếp cho Văn phòng Trung ương Đảng chứ không phải Bộ Công an, và chính lực lượng này đã thực thi việc khống chế khi có quyết định chính thức từ Trung ương. Thứ ba là Quân ủy Trung ương và Quân Giải phóng Nhân dân do Tập Cận Bình làm Chủ tịch, đóng vai trò răn đe để đề phòng lực lượng Cảnh sát Vũ trang khi đó vẫn còn do Bộ Công an quản lý. Cỗ máy công an của Chu Vĩnh Khang vì vậy hoàn toàn bị vô hiệu hóa trước khi lệnh bắt chính thức được đưa ra.
Ngay tại Đại hội 18 tháng 11 năm 2012, Thường vụ Bộ Chính trị được thu hẹp từ 9 xuống còn 7 ủy viên, và suất dành cho người đứng đầu Ủy ban Chính trị Pháp luật không còn được đưa vào Thường vụ kể từ đó đến nay. Cụ thể, Mạnh Kiến Trụ làm Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật giai đoạn 2012 đến 2017 sau khi từng là Bộ trưởng Công an giai đoạn 2007 đến 2012. Quách Thanh Côn làm Bộ trưởng Công an giai đoạn 2012 đến 2017 rồi chuyển sang làm Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật giai đoạn 2017 đến 2022. Triệu Khắc Chí làm Bộ trưởng Công an giai đoạn 2017 đến 2022. Vương Tiểu Hồng làm Bộ trưởng Công an từ năm 2022 đến nay. Tất cả những người này đều chỉ dừng ở cấp Ủy viên Bộ Chính trị hoặc Ủy viên Trung ương, không ai được đưa vào Thường vụ.
Cơ chế báo cáo cũng được siết chặt, buộc người đứng đầu khối an ninh phải định kỳ báo cáo trước Thường vụ và cá nhân Tổng Bí thư, tước bỏ hoàn toàn sự độc lập trước đây của ngành công an. Đến Đại hội 20 vào tháng 10 năm 2022, người kế nhiệm Quách Thanh Côn đứng đầu Ủy ban Chính trị Pháp luật là Trần Văn Thanh, người trước đó phụ trách Bộ Quốc an, cũng chỉ dừng ở cấp Ủy viên Bộ Chính trị chứ không được đưa vào Thường vụ, cho thấy quy tắc loại ghế an ninh khỏi nhóm 7 người quyền lực nhất tiếp tục được duy trì đến hiện tại.
Trong giai đoạn 2007 đến 2012, đảng đã ngầm chốt Tập Cận Bình là người kế nhiệm Tổng Bí thư tại Đại hội 18. Bạc Hy Lai, khi đó là Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, từng kinh qua các vị trí Thị trưởng Đại Liên, Thống đốc tỉnh Liêu Ninh và Bộ trưởng Bộ Thương mại, sở hữu một hồ sơ lãnh đạo toàn diện gần như hoàn hảo theo tiêu chí tuyển chọn. Ông phát động chiến dịch xướng hồng đả hắc tại Trùng Khánh để xây dựng uy tín dân túy, đồng thời công khai tạo sức ép nhằm tranh một suất trong Thường vụ. Chu Vĩnh Khang khi đó đã ở tuổi phải nghỉ hưu và cần một người kế thừa để bảo vệ mạng lưới quyền lực cùng gia tộc mình sau khi rời chính trường, nên đã chọn ủng hộ Bạc Hy Lai bước vào khối an ninh và Ủy ban Chính trị Pháp luật, đổi lại Bạc Hy Lai sẽ là tấm lá chắn bảo vệ cho Chu Vĩnh Khang sau khi ông về hưu.
Vương Lập Quân, Giám đốc Công an kiêm Phó Thị trưởng Trùng Khánh, được Bạc Hy Lai đưa từ Liêu Ninh về làm ngọn cờ trong chiến dịch trấn áp tội phạm có tổ chức tại Trùng Khánh. Khi quan hệ giữa hai người rạn nứt vì vụ án mạng của doanh nhân Anh Neil Heywood liên quan đến vợ Bạc Hy Lai là Cốc Khai Lai, Bạc Hy Lai đã cách chức Giám đốc Công an của Vương Lập Quân vào ngày 2 tháng 2 năm 2012 mà không cần phê chuẩn từ Bộ Công an Trung ương. Ngày 6 tháng 2 năm 2012, Vương Lập Quân bất ngờ vào Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô xin tị nạn, ở lại hơn 24 giờ trước khi rời đi, và tiết lộ với phía Mỹ những chi tiết liên quan đến vụ án mạng cùng kế hoạch chính trị của Bạc Hy Lai. Sự việc này khiến Bạc Hy Lai bị đình chỉ chức vụ vào tháng 3 năm 2012 và sau đó bị Tòa án Trung cấp Tế Nam tuyên án tù chung thân vào tháng 9 năm 2013. Chu Vĩnh Khang là ủy viên Thường vụ duy nhất công khai bảo vệ Bạc Hy Lai vào thời điểm đó, trước khi chính ông cũng bị nhắm tới trong những tháng sau.
Sự khác biệt vai trò giữa hai người bắt nguồn từ 2 rào cản thể chế mà Chu Vĩnh Khang không thể vượt qua. Rào cản đầu tiên là tuổi tác. Theo thông lệ ngầm được công khai hóa như một chuẩn mực từ sau Đại hội 17 năm 2007, gọi nôm na là 67 tuổi ở lại 68 tuổi nghỉ hưu, Chu Vĩnh Khang sinh năm 1942 nên đến năm 2012 đã 70 tuổi, quá tuổi để tiếp tục giữ các vị trí lãnh đạo cao nhất theo thông lệ đó. Trong khi đó Bạc Hy Lai sinh năm 1949, mới 63 tuổi vào năm 2012, vẫn còn đủ độ tuổi để bước vào Thường vụ cho một nhiệm kỳ mới.
Rào cản thứ hai là xuất thân chuyên môn. Chưa từng có tiền lệ một người đi lên thuần túy từ khối an ninh hay dầu khí bước thẳng lên vị trí Tổng Bí thư, trong khi Bạc Hy Lai lại có hồ sơ quản lý toàn diện qua nhiều vị trí thị trưởng, tỉnh trưởng và bộ trưởng, cùng bằng thạc sĩ báo chí tại Đại học Bắc Kinh, khả năng tiếng Anh tốt và xuất thân con của nguyên lão cách mạng Bạc Nhất Ba, tương đồng với chính Tập Cận Bình. Vì vậy trong cuộc đối đầu này, Bạc Hy Lai là người trực tiếp thách thức Tập Cận Bình, còn Chu Vĩnh Khang chỉ có thể đóng vai trò hậu thuẫn từ phía sau bằng nguồn lực an ninh và tình báo.
 
Bảo vệ ngồi ghế HĐQT thì đỡ sao :vozvn (22):
Bảo vệ làm chủ tịch HĐQT xong bổ nhiệm đám đàn em cũ vào hết các vị trí lãnh đạo phòng ban của công ty.
Công ty đang từ sản xuất chuyển sang dịch vụ đòi nợ thuê. Quá đỉnh
 
Top