TUG
Thích phó đà
Trong hệ thống chính trị Trung Quốc, việc người đứng đầu ngành an ninh không có mặt trong nhóm 7 người quyền lực nhất, tức Thường vụ Bộ Chính trị, không phải là chuyện ngẫu nhiên. Đây là kết quả của một thiết kế thể chế có chủ đích, hình thành từ hệ thống tiêu chí tuyển chọn lãnh đạo và từ những bài học cay đắng trong lịch sử chính trị nội bộ của đảng.

TIÊU CHÍ NGẦM TUYỂN CHỌN THƯỜNG VỤ BỘ CHÍNH TRỊ
Để lọt vào nhóm 7 người lãnh đạo cao nhất, một quan chức Trung Quốc gần như bắt buộc phải chứng minh được năng lực quản lý toàn diện, thường thông qua việc từng làm Bí thư Tỉnh ủy của ít nhất 2 tỉnh hoặc thành phố lớn như Quảng Đông, Thượng Hải, Chiết Giang hay Giang Tô. Yêu cầu này nhằm kiểm chứng khả năng điều hành kinh tế, ngân sách và xã hội trên quy mô hàng chục triệu dân. Hệ quả trực tiếp là những cán bộ đi lên thuần túy từ ngành công an, tình báo hay an ninh, tức nhóm chuyên gia lĩnh vực hẹp, gần như luôn bị loại khỏi danh sách vì thiếu kinh nghiệm quản trị vĩ mô. Cấu trúc 7 ghế Thường vụ khóa gần đây nhất thường gắn với các trụ cột quốc gia gồm Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước, Thủ tướng phụ trách kinh tế, Chủ tịch Nhân đại phụ trách lập pháp, Chủ tịch Chính hiệp phụ trách mặt trận và dân vận, Bí thư Ban Bí thư phụ trách công tác đảng và nhân sự, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương phụ trách chống tham nhũng, và một Phó Thủ tướng thường trực phụ trách chính sách vĩ mô. Không có ghế nào trong số này dành riêng cho ngành công an.
Sự phân công điều tra kỷ luật đảng được giao cho Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương chứ không phải Bộ Công an, vốn chỉ xử lý vi phạm pháp luật ngoài xã hội hoặc thực thi bắt giữ khi hồ sơ đã được chuyển giao. Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc cũng không báo cáo trực tiếp lên Thường vụ mà phải qua một cơ quan trung gian là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, người đứng đầu ủy ban này thường chỉ là Ủy viên Bộ Chính trị chứ không thuộc Thường vụ. Việc tạo ra nhiều tầng nấc giám sát như vậy khiến Bộ Công an chỉ đóng vai trò cơ quan thực thi lệnh, không có quyền tự quyết chính trị.
Việt Nam và Trung Quốc vận hành hai mô hình quản lý công an khác hẳn nhau. Tại Việt Nam, sau các đợt tinh gọn bộ máy từ năm 2018, Bộ Công an vận hành theo mô hình ngành dọc xuyên suốt từ Trung ương đến cấp xã. Giám đốc Công an tỉnh do Bộ trưởng Bộ Công an bổ nhiệm và luân chuyển, thường là người từ địa phương khác đến, giúp vị trí này độc lập với chính quyền tỉnh về cả nhân sự lẫn chỉ đạo nghiệp vụ. Một Bí thư Tỉnh ủy tại Việt Nam không thể đơn phương cách chức hay điều chuyển Giám đốc Công an tỉnh, và trong nhiều vụ án tham nhũng lớn tại địa phương, lực lượng công an vẫn có thể điều tra cả cán bộ thuộc Thường vụ Tỉnh ủy mà không cần báo trước cho lãnh đạo tỉnh đó. Vị thế của Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam trong Bộ Chính trị vì vậy thường rất cao, và quyền lực thực tế của vị trí này thường vượt xa các bộ trưởng kinh tế hay dân sự khác. Việc đưa công an chính quy về cấp xã cũng là một bước đi cụ thể nhằm cắt đứt mối quan hệ phụ thuộc còn sót lại của công an cơ sở vào chính quyền địa phương.
Tại Trung Quốc, mô hình vận hành theo kiểu song trùng lãnh đạo, trong đó công an cấp tỉnh chịu sự quản lý và phụ thuộc tài chính lẫn nhân sự rất lớn từ Ủy ban Chính trị Pháp luật và Bí thư Tỉnh ủy địa phương, còn Bộ Công an Trung ương chỉ điều hành về mặt chuyên môn nghiệp vụ và người đứng đầu khối an ninh còn chịu thêm một tầng giám sát riêng từ Quân ủy Trung ương. Một vụ việc nổi tiếng trong chính trường Trung Quốc từng cho thấy rõ điều này, khi một bí thư thành ủy cách chức giám đốc công an thành phố của mình mà không cần phê chuẩn từ Bắc Kinh, minh chứng cho việc quyền lực của Bí thư Tỉnh ủy đối với công an địa phương ở Trung Quốc mang tính trực tiếp và áp đặt, khác hẳn thực tế Việt Nam. Mỗi mô hình cũng mang một nguy cơ hệ thống riêng. Ở Việt Nam, quyền lực tập trung cao vào một bộ dễ dẫn đến nguy cơ bộ này lấn lướt các khối hành chính khác. Ở Trung Quốc, nguy cơ lớn hơn lại nằm ở việc công an địa phương cấu kết với quan chức địa phương, tức tình trạng cát cứ.
Sự khác biệt giữa hai mô hình không đến từ ngẫu nhiên mà bắt nguồn từ vài nhóm nguyên nhân. Về địa chính trị, Trung Quốc có diện tích gần 9,6 triệu km2 với 33 đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong đó một tỉnh như Tứ Xuyên hay Quảng Đông có dân số ngang bằng hoặc lớn hơn cả một quốc gia, khiến Bắc Kinh khó lòng quản lý trực tiếp công an đến từng địa phương và buộc phải trao bớt quyền cho chính quyền tỉnh. Việt Nam với quy mô diện tích và dân số nhỏ hơn nhiều cho phép mô hình tập trung ngành dọc vận hành hiệu quả. Về bài học lịch sử, một vụ án chính trị chấn động liên quan đến người từng đứng đầu ngành an ninh Trung Quốc khiến Bắc Kinh lo sợ việc hình thành một đế chế an ninh độc lập có thể đe dọa quyền lãnh đạo tập trung, nên chủ động phân tán quyền lực khối này. Ngược lại, thách thức lớn nhất của Việt Nam trong nhiều thập kỷ lại là tình trạng cát cứ địa phương và nguy cơ suy thoái ở cấp cán bộ tỉnh, nên Việt Nam chọn hướng ngược lại là tăng quyền cho công an như một công cụ thanh tra và kiểm tra độc lập với chính quyền địa phương.
Về thiết kế thể chế, Trung Quốc cài thêm lớp đệm là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương giữa Bộ Công an và Thường vụ, trong khi Việt Nam không có cơ quan đệm tương đương, để Bộ Công an báo cáo trực tiếp cho Bộ Chính trị và Tổng Bí thư. Về văn hóa quản trị, Trung Quốc vận hành theo cơ chế cạnh tranh phát triển kinh tế giữa các tỉnh, trao cho Bí thư Tỉnh ủy quyền sinh sát khá lớn kể cả với lực lượng công an địa phương để chủ động giữ ổn định và phát triển kinh tế tỉnh nhà, còn Việt Nam ưu tiên tính thống nhất từ Trung ương xuống địa phương nhằm tránh tình trạng chỉ đạo không được thực thi ở cấp dưới.
Song song với sự khác biệt về mô hình công an, xuất thân học vấn của giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc cũng trải qua 3 làn sóng dịch chuyển rõ rệt trong khoảng 40 năm qua.
Làn sóng đầu tiên, kéo dài từ thập niên 1990 đến đầu những năm 2000 dưới thời Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, là giai đoạn các kỹ sư kỹ thuật chiếm ưu thế tuyệt đối trong Thường vụ, tiêu biểu như Giang Trạch Dân tốt nghiệp kỹ sư điện, Lý Bằng kỹ sư thủy điện, Hồ Cẩm Đào kỹ sư thủy lợi từ Đại học Thanh Hoa, và Ôn Gia Bảo học ngành địa chất. Sự ưu tiên này phản ánh nhu cầu hiện đại hóa hạ tầng và công nghiệp sau Cách mạng Văn hóa dưới chủ trương của Đặng Tiểu Bình.
Làn sóng thứ hai bắt đầu từ khoảng năm 2007, gắn với nửa đầu thời kỳ Tập Cận Bình, khi tỷ lệ kỹ sư trong Thường vụ sụt giảm mạnh, nhường chỗ cho những người có nền tảng luật, kinh tế và khoa học xã hội, như Tập Cận Bình có bằng kỹ thuật hóa học rồi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ luật và chính trị học, Lý Khắc Cường có bằng cử nhân luật và tiến sĩ kinh tế từ Đại học Bắc Kinh, còn Vương Hỗ Ninh là giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Phục Đán. Sự dịch chuyển này phản ánh việc các thách thức quản trị chuyển từ xây dựng hạ tầng sang chính sách tiền tệ, thương mại quốc tế và cải cách pháp lý.
Làn sóng thứ ba đang diễn ra từ sau Đại hội 20, khi nhóm cán bộ xuất thân từ ngành hàng không vũ trụ và công nghệ cao dần nổi lên trong Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, tiêu biểu như Trương Khánh Vĩ, cựu lãnh đạo Tập đoàn Khoa học và Công nghiệp Vũ trụ Trung Quốc, và Viên Gia Quân, người từng chỉ huy các dự án tàu vũ trụ Thần Châu, cả hai sau đó đều từng làm Bí thư Tỉnh ủy. Sự trỗi dậy của nhóm này gắn với ưu tiên tự chủ công nghệ của Trung Quốc trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược với Mỹ.
Xuyên suốt cả 3 làn sóng, giới tinh hoa Trung Quốc gần như luôn tốt nghiệp các trường đại học hàng đầu như Thanh Hoa và Bắc Kinh, đồng thời đều trải qua các khóa đào tạo lý luận chính trị tại Trường Đảng Trung ương trước khi được thăng tiến. Và dù chuyên môn nền tảng có thay đổi qua từng thời kỳ, một điểm gần như không đổi là những người có xuất thân thuần túy từ ngành công an hay tình báo vẫn hầu như không bao giờ lọt vào danh sách ứng viên cho Thường vụ Bộ Chính trị.

TIÊU CHÍ NGẦM TUYỂN CHỌN THƯỜNG VỤ BỘ CHÍNH TRỊ
Để lọt vào nhóm 7 người lãnh đạo cao nhất, một quan chức Trung Quốc gần như bắt buộc phải chứng minh được năng lực quản lý toàn diện, thường thông qua việc từng làm Bí thư Tỉnh ủy của ít nhất 2 tỉnh hoặc thành phố lớn như Quảng Đông, Thượng Hải, Chiết Giang hay Giang Tô. Yêu cầu này nhằm kiểm chứng khả năng điều hành kinh tế, ngân sách và xã hội trên quy mô hàng chục triệu dân. Hệ quả trực tiếp là những cán bộ đi lên thuần túy từ ngành công an, tình báo hay an ninh, tức nhóm chuyên gia lĩnh vực hẹp, gần như luôn bị loại khỏi danh sách vì thiếu kinh nghiệm quản trị vĩ mô. Cấu trúc 7 ghế Thường vụ khóa gần đây nhất thường gắn với các trụ cột quốc gia gồm Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước, Thủ tướng phụ trách kinh tế, Chủ tịch Nhân đại phụ trách lập pháp, Chủ tịch Chính hiệp phụ trách mặt trận và dân vận, Bí thư Ban Bí thư phụ trách công tác đảng và nhân sự, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương phụ trách chống tham nhũng, và một Phó Thủ tướng thường trực phụ trách chính sách vĩ mô. Không có ghế nào trong số này dành riêng cho ngành công an.
Sự phân công điều tra kỷ luật đảng được giao cho Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương chứ không phải Bộ Công an, vốn chỉ xử lý vi phạm pháp luật ngoài xã hội hoặc thực thi bắt giữ khi hồ sơ đã được chuyển giao. Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc cũng không báo cáo trực tiếp lên Thường vụ mà phải qua một cơ quan trung gian là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, người đứng đầu ủy ban này thường chỉ là Ủy viên Bộ Chính trị chứ không thuộc Thường vụ. Việc tạo ra nhiều tầng nấc giám sát như vậy khiến Bộ Công an chỉ đóng vai trò cơ quan thực thi lệnh, không có quyền tự quyết chính trị.
Việt Nam và Trung Quốc vận hành hai mô hình quản lý công an khác hẳn nhau. Tại Việt Nam, sau các đợt tinh gọn bộ máy từ năm 2018, Bộ Công an vận hành theo mô hình ngành dọc xuyên suốt từ Trung ương đến cấp xã. Giám đốc Công an tỉnh do Bộ trưởng Bộ Công an bổ nhiệm và luân chuyển, thường là người từ địa phương khác đến, giúp vị trí này độc lập với chính quyền tỉnh về cả nhân sự lẫn chỉ đạo nghiệp vụ. Một Bí thư Tỉnh ủy tại Việt Nam không thể đơn phương cách chức hay điều chuyển Giám đốc Công an tỉnh, và trong nhiều vụ án tham nhũng lớn tại địa phương, lực lượng công an vẫn có thể điều tra cả cán bộ thuộc Thường vụ Tỉnh ủy mà không cần báo trước cho lãnh đạo tỉnh đó. Vị thế của Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam trong Bộ Chính trị vì vậy thường rất cao, và quyền lực thực tế của vị trí này thường vượt xa các bộ trưởng kinh tế hay dân sự khác. Việc đưa công an chính quy về cấp xã cũng là một bước đi cụ thể nhằm cắt đứt mối quan hệ phụ thuộc còn sót lại của công an cơ sở vào chính quyền địa phương.
Tại Trung Quốc, mô hình vận hành theo kiểu song trùng lãnh đạo, trong đó công an cấp tỉnh chịu sự quản lý và phụ thuộc tài chính lẫn nhân sự rất lớn từ Ủy ban Chính trị Pháp luật và Bí thư Tỉnh ủy địa phương, còn Bộ Công an Trung ương chỉ điều hành về mặt chuyên môn nghiệp vụ và người đứng đầu khối an ninh còn chịu thêm một tầng giám sát riêng từ Quân ủy Trung ương. Một vụ việc nổi tiếng trong chính trường Trung Quốc từng cho thấy rõ điều này, khi một bí thư thành ủy cách chức giám đốc công an thành phố của mình mà không cần phê chuẩn từ Bắc Kinh, minh chứng cho việc quyền lực của Bí thư Tỉnh ủy đối với công an địa phương ở Trung Quốc mang tính trực tiếp và áp đặt, khác hẳn thực tế Việt Nam. Mỗi mô hình cũng mang một nguy cơ hệ thống riêng. Ở Việt Nam, quyền lực tập trung cao vào một bộ dễ dẫn đến nguy cơ bộ này lấn lướt các khối hành chính khác. Ở Trung Quốc, nguy cơ lớn hơn lại nằm ở việc công an địa phương cấu kết với quan chức địa phương, tức tình trạng cát cứ.
Sự khác biệt giữa hai mô hình không đến từ ngẫu nhiên mà bắt nguồn từ vài nhóm nguyên nhân. Về địa chính trị, Trung Quốc có diện tích gần 9,6 triệu km2 với 33 đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong đó một tỉnh như Tứ Xuyên hay Quảng Đông có dân số ngang bằng hoặc lớn hơn cả một quốc gia, khiến Bắc Kinh khó lòng quản lý trực tiếp công an đến từng địa phương và buộc phải trao bớt quyền cho chính quyền tỉnh. Việt Nam với quy mô diện tích và dân số nhỏ hơn nhiều cho phép mô hình tập trung ngành dọc vận hành hiệu quả. Về bài học lịch sử, một vụ án chính trị chấn động liên quan đến người từng đứng đầu ngành an ninh Trung Quốc khiến Bắc Kinh lo sợ việc hình thành một đế chế an ninh độc lập có thể đe dọa quyền lãnh đạo tập trung, nên chủ động phân tán quyền lực khối này. Ngược lại, thách thức lớn nhất của Việt Nam trong nhiều thập kỷ lại là tình trạng cát cứ địa phương và nguy cơ suy thoái ở cấp cán bộ tỉnh, nên Việt Nam chọn hướng ngược lại là tăng quyền cho công an như một công cụ thanh tra và kiểm tra độc lập với chính quyền địa phương.
Về thiết kế thể chế, Trung Quốc cài thêm lớp đệm là Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương giữa Bộ Công an và Thường vụ, trong khi Việt Nam không có cơ quan đệm tương đương, để Bộ Công an báo cáo trực tiếp cho Bộ Chính trị và Tổng Bí thư. Về văn hóa quản trị, Trung Quốc vận hành theo cơ chế cạnh tranh phát triển kinh tế giữa các tỉnh, trao cho Bí thư Tỉnh ủy quyền sinh sát khá lớn kể cả với lực lượng công an địa phương để chủ động giữ ổn định và phát triển kinh tế tỉnh nhà, còn Việt Nam ưu tiên tính thống nhất từ Trung ương xuống địa phương nhằm tránh tình trạng chỉ đạo không được thực thi ở cấp dưới.
Song song với sự khác biệt về mô hình công an, xuất thân học vấn của giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc cũng trải qua 3 làn sóng dịch chuyển rõ rệt trong khoảng 40 năm qua.
Làn sóng đầu tiên, kéo dài từ thập niên 1990 đến đầu những năm 2000 dưới thời Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, là giai đoạn các kỹ sư kỹ thuật chiếm ưu thế tuyệt đối trong Thường vụ, tiêu biểu như Giang Trạch Dân tốt nghiệp kỹ sư điện, Lý Bằng kỹ sư thủy điện, Hồ Cẩm Đào kỹ sư thủy lợi từ Đại học Thanh Hoa, và Ôn Gia Bảo học ngành địa chất. Sự ưu tiên này phản ánh nhu cầu hiện đại hóa hạ tầng và công nghiệp sau Cách mạng Văn hóa dưới chủ trương của Đặng Tiểu Bình.
Làn sóng thứ hai bắt đầu từ khoảng năm 2007, gắn với nửa đầu thời kỳ Tập Cận Bình, khi tỷ lệ kỹ sư trong Thường vụ sụt giảm mạnh, nhường chỗ cho những người có nền tảng luật, kinh tế và khoa học xã hội, như Tập Cận Bình có bằng kỹ thuật hóa học rồi làm nghiên cứu sinh tiến sĩ luật và chính trị học, Lý Khắc Cường có bằng cử nhân luật và tiến sĩ kinh tế từ Đại học Bắc Kinh, còn Vương Hỗ Ninh là giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Phục Đán. Sự dịch chuyển này phản ánh việc các thách thức quản trị chuyển từ xây dựng hạ tầng sang chính sách tiền tệ, thương mại quốc tế và cải cách pháp lý.
Làn sóng thứ ba đang diễn ra từ sau Đại hội 20, khi nhóm cán bộ xuất thân từ ngành hàng không vũ trụ và công nghệ cao dần nổi lên trong Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, tiêu biểu như Trương Khánh Vĩ, cựu lãnh đạo Tập đoàn Khoa học và Công nghiệp Vũ trụ Trung Quốc, và Viên Gia Quân, người từng chỉ huy các dự án tàu vũ trụ Thần Châu, cả hai sau đó đều từng làm Bí thư Tỉnh ủy. Sự trỗi dậy của nhóm này gắn với ưu tiên tự chủ công nghệ của Trung Quốc trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược với Mỹ.
Xuyên suốt cả 3 làn sóng, giới tinh hoa Trung Quốc gần như luôn tốt nghiệp các trường đại học hàng đầu như Thanh Hoa và Bắc Kinh, đồng thời đều trải qua các khóa đào tạo lý luận chính trị tại Trường Đảng Trung ương trước khi được thăng tiến. Và dù chuyên môn nền tảng có thay đổi qua từng thời kỳ, một điểm gần như không đổi là những người có xuất thân thuần túy từ ngành công an hay tình báo vẫn hầu như không bao giờ lọt vào danh sách ứng viên cho Thường vụ Bộ Chính trị.