Tử viết: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học; tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thập
nhi tri thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận; thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ.”
Dịch. – Khổng tử nói: “Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học (đạo); ba mươi tuổi biết tự
lập (tức khắc kỉ phục lễ, cứ theo điều lễ mà làm); bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa (tức
có trí đức, nên hiểu rõ ba đức nhân, lễ, nghĩa); năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết được
việc nào sức người làm được, việc nào không làm được); sáu mươi tuổi biết theo mệnh trời
(chữ nhĩ ở đây không có nghĩa là tai, mà có nghĩa là dĩ = đã)[34]; bảy mươi tuổi theo lòng
muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lí (không phải suy nghĩ, gắng sức
mà hành động tự nhiên, hợp đạo lí).
Chú thích. – Có người hiểu lập [立] là tự mình biết theo chính đạo; chúng tôi theo những
câu “lập ư lễ” (Thiên Thái Bá, bài 8), “bất tri lễ vô dĩ lập” (Thiên Nghiêu viết, bài 3) mà dịch
như trên. – Thiên mệnh [天命] có người hiểu là luật trời, sự biến hoá, diễn tiến trong vũ
trụ. – Nhĩ thuận [耳順], hầu hết các sách đều giảng là: tai thuận, tức nghe ai nói thì hiểu
được ngay người đó nghĩ gì, muốn nói gì, có ý gì.