Tính Giao
Thích phó đà
I. XƯNG ĐẾ HAY XƯNG VƯƠNG
Dĩ nhiên từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư (từ đây viết tắt là Toàn thư) ghi chép: “Vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời Kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi. Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế” (Toàn thư, Đinh, 968) trở về sau, Đinh Bộ Lĩnh được công nhận là vị Hoàng đế đầu tiên của nước ta sau thời kỳ Bắc thuộc. Nhưng Toàn thư ra đời khá muộn, 500 năm sau thời nhà Đinh, vì vậy hoàn toàn có thể tồn tại những nhầm lẫn của sử quan, tỷ như vấn đề quốc hiệu Đại Cồ Việt đầy tranh cãi.
Ngược lên trước, chúng ta có hai bộ sử thời Trần còn được lưu giữ, đó là Việt sử lược (khuyết danh) và An Nam chí lược (Lê Trắc). Trong đó, Việt sử lược mặc dù đã qua hiệu chỉnh của người Trung Quốc để hạ các Hoàng đế Đại Việt xuống hàng vương (tỷ như mục Đinh kỷ chép là Tiên vương chứ không phải Tiên Hoàng; Lê kỷ chép là Đại Hành vương, Ngọa Triều vương...) nhưng phần chính văn chép đủ “tôn hiệu viết Đại Thắng Minh Hoàng đế” (tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế). Còn An Nam chí lược do Lê Trắc viết khi đã sang hàng nhà Nguyên thì chỉ chép vương hiệu của ông “lĩnh việc cai trị Giao Chỉ, xưng hiệu Vạn Thắng vương”, tuyệt đối không nhắc việc xưng đế.
Ghi chép trong An Nam chí lược khá gần với những bộ sử Trung Quốc đương thời, tỷ như “dân Giao Châu cho là có ơn đức, bèn suy tôn Bộ Lĩnh làm Giao Châu soái, hiệu là Đại Thắng vương, đặt con trai là Liễn làm Tiết độ sứ” (Tống sử, Ngoại quốc tứ, Giao Chỉ truyện - từ đấy viết tắt là Tống sử; Tống hội yếu tập cảo, Phiên di tứ, Giao Chỉ - từ đây viết tắt là Tập cảo).
Chúng ta có quyền nghi ngờ ghi chép của sử Trung Quốc, cũng như những ghi chép của Lê Trắc trong điều kiện thiếu thốn tài liệu bản địa vì không còn ở trong nước (Đại Việt). Quả vậy, kết quả khảo cổ về các cột kinh (Phật đảnh tôn thắng gia cú linh nghiệm đà la ni) ở Hoa Lư do Đinh Liễn lập năm 973 đã chứng minh sử Việt Nam đã ghi chép chuẩn xác. Trên các mặt cột kinh còn đọc được, có một số hàng chữ “Tiên chúc Đại Thắng Minh Hoàng đế vĩnh bá thiên nam, hằng an bảo vị” (Trước tiên là chúc cho Đại Thắng Minh Hoàng đế mãi mãi làm chủ cõi trời Nam, giữ yên ngôi báu); “Tiên chúc Đại Thắng Minh Hoàng đế vĩnh trấn thiên nam, thứ vi khuông tá đế đồ” (Trước tiên là chúc cho Đại Thắng Minh hoàng đế mãi mãi trấn giữ cõi trời Nam, sau là [để tôi] phụ giúp cho cơ đồ Hoàng đế”; “Tiên chúc Đại Thắng Minh Hoàng đế vĩnh trấn thiên nam, thứ vi Khuông Liễn hằng kiên lộc vị” (Trước tiên là chúc cho Đại Thắng Minh Hoàng đế mãi mãi trấn giữ cõi trời Nam, sau là để Khuông Liễn mãi giữ được lộc vị” (Hà Văn Tấn).
Hiển nhiên tôn hiệu của vua Đinh là Đại Thắng Minh Hoàng đế, không có gì phải bàn cãi, bất kể sử Trung Quốc không hề biết tới việc đó.
II. NHƯỜNG NGÔI CHO ĐINH LIỄN?
Trong khi các bộ sử nước ta (trừ An Nam chí lược) đều cho rằng Đinh Tiên Hoàng trị vì cho tới khi băng là năm 979, thì nhiều bộ sử Trung Quốc lại cho rằng Đinh Tiên Hoàng ở ngôi vài năm rồi nhường ngôi cho Đinh Liễn.
Tống sử viết: “Được ba năm, thì [Bộ Lĩnh] nhượng vị cho Liễn”.
Tập cảo viết: “Thái tổ Khai Bảo năm thứ 5 [974]... Đinh Liễn sai sứ sang cống phương vật. Liễn trộm kế tập ngôi (nguyên văn: ngụy tập) đã bảy năm...”
Hoàng triều biên niên cương mục bị yếu viết: “Thái tổ Khai Bảo năm thứ 6 [975] Bộ Lĩnh ở ngôi ba năm, Liễn kế tập ngôi cha, tới nay đã 7 năm.”
Các bộ sử Trung Quốc chép tương đối thống nhất về thời điểm nhà Đinh bắt đầu sang cống nhà Tống là năm Khai Bảo thứ 6 [975] (trừ Tập cảo cho rằng trước đó 1 năm), có thể kể thêm:
Tống sử - Thái tổ bản kỷ chép: “Khai Bảo năm thứ 6, Đinh Liễn ở Giao Châu sai sứ cống phương vật.”
Tục tư trị thông giám trường biên (từ đây viết tắt là Trường biên) chép: “Năm Khai Bảo thứ 6 [975], Nam Hán Tĩnh Hải Tiết độ sứ Đinh Liễn hay tin đã bình định Lĩnh Nam, sai sứ sang cống, trong biểu xưng phụng mệnh cha là Bộ Lĩnh.”
Lĩnh Ngoại đại đáp chép: “Năm Khai Bảo thứ 6, [Đinh] Liễn sai sứ cống phương vật, ban chế cho Liễn làm Đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư, sung Tĩnh Hải quân Tiết độ quan sát xử trí đẳng sứ, An Nam đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc Tế Âm quận Khai quốc công, vẫn ban hiệu Thôi thành Thuận hóa công thần.”
Mộng Khê bút đàm (tác phẩm này không tính là sử mà chỉ là ghi chép của người đương thời): “Về sau, Văn Xương [tức Ngô Xương Văn] bị Đinh Liễn giết, thu phục hết đất. Năm Khai Bảo thứ 6 quốc triều [tức Tống, 975], Liễn bắt đầu quy phụ, lĩnh chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ”.
Tổng hợp lại, phần đa sử Trung Quốc cho rằng Đinh Bộ Lĩnh ở ngôi 3 năm thì nhường ngôi cho Đinh Liễn. Đinh Liễn ở ngôi 7 năm, tới năm 975 thì sai sứ sang triều cống và được phong chức tước. Đây là một nhầm lẫn mà có thể giải thích như sau:
Nhà Hậu Ngô (Xương Văn) kết thúc ở năm 965, nhà Tống liền cho rằng tiếp đến là nhà Đinh nắm quyền từ năm 966 (bỏ qua giai đoạn Thập nhị sứ quân). Đến năm 968 (3 năm tính từ năm 966), Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn sứ quân, lên ngôi Hoàng đế, năm 969 phong Đinh Liễn làm Nam Việt vương (Toàn thư, Đinh). Nhưng nhà Tống không hề có thông tin ở nước Việt có người xưng Hoàng đế mà chỉ biết Đinh Liễn là Nam Việt vương. Do vậy người Tống lấy thời điểm 969 là thời đại của Đinh Liễn (như cách chép của Mộng Khê bút đàm). Từ năm 969 tới năm 975 (Khai Bảo thứ 6) vừa đủ 7 năm, Đinh Liễn sai sứ sang quy phụ và được ban chức tước.
III. VẤN ĐỀ CẦU PHONG
(bài full sẽ có ở đâu đó)
Rất có thể Lê Trắc đã căn cứ vào các ghi chép tương tự để nhận định trong An Nam chí lược rằng “[Đinh Bộ Lĩnh] xưng hiệu Vạn Thắng vương, riêng phong chức cho Liễn làm Tiết độ sứ, được mười năm thì Bộ Lĩnh mất.”
Chắc chắn Lê Trắc đã nhầm lẫn về thời điểm mất của Đinh Tiên Hoàng.
IV. AN NAM CHÍ LƯỢC VÀ AN NAM CHÍ ĐÃ NHẦM
Giống hệt như An Nam chí lược, Cao Hùng Trưng trong An Nam chí [nguyên] cũng cho rằng Đinh Bộ Lĩnh chỉ xưng là Vạn Thắng vương và “[ở ngôi] được 10 năm, Bộ Lĩnh mất, Liễn nối ngôi được 7 năm thì đến năm Tân Mùi, niên hiệu Khai Bảo thứ 4 (971), nhà Tống sai Đại tướng quân Phan Mỹ đi dẹp Lĩnh Nam...”
Tuy nhiên, cũng chính An Nam chí lược, lại viết “Tháng Năm năm [Khai Bảo] thứ 8... Ngày mồng 7 tháng Tám, Thái tổ xuống sắc chế, phong cha Liễn là Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương; thực ấp 1.000 hộ.” Tự bản thân An Nam chí lược đã mâu thuẫn, vì viết Đinh Bộ Lĩnh ở năm 975 còn được phong vương và thực ấp (An Nam chí thì chép là phong cho Liễn). Nếu cho rằng phong vương là truy tặng thì cũng không thể giải thích được việc phong thực ấp cho người đã khuất.
Bất kể An Nam chí lược hay An Nam chí chép thế nào thì ta vẫn chắc chắn rằng đến năm 973, chắc chắn Đinh Tiên Hoàng vẫn còn sống và trực tiếp trị vì đất nước. Cột kinh nhắc tới ở trên được lập năm đó, liên tục có câu “Tiên chúc Đại Thắng Minh hoàng đế, vĩnh bá/trấn thiên Nam”, “hằng yên bảo vị”, chắc chắn những lời chúc tụng này cùng danh hiệu Đại Thắng Minh hoàng đế không phải dành cho vị Hoàng đế đã khuất. Đồng thời, cũng trên cột kinh, Đinh Liễn chỉ xưng Nam Việt vương cùng các chức được nhà Tống phong như An Nam đô hộ, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Kiểm hiệu Thái sư... (Hà Văn Tấn), nên Đinh Liễn bấy giờ chưa thể là quốc chủ của nước Việt.
Ngoài ra, biểu văn mà Lê Hoàn dùng danh nghĩa Phế đế Đinh Toàn gửi nhà Tống ở năm 980 trình bày hoàn cảnh họ Đinh: “Cha anh của thần, thay nhau nhận ký thác của Hoàng đế, cẩn thận gìn giữ phong cương, chẳng dám trễ nải. Đến nay nối nhau mất đi” (Tống sử); “mấy đời trước nối nhau mất đi” (An Nam chí lược, nguyên văn “tiên thế luân vong”, bản dịch dịch thoát thành “phụ huynh gặp nạn”), chứng tỏ cha và anh của Đinh Toàn là Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn mới mất cách nhau không xa, thậm chí là đồng thời. Không có chuyện Đinh Tiên Hoàng đã chết mấy năm trước và Đinh Liễn lên làm vua cả chục năm (từ 969 đến 979) rồi mới mất.
--
Tài liệu tham khảo:
An Nam chí - Cao Hùng Trưng.
An Nam chí lược - Lê Trắc.
An Nam truyện - Châu Hải Đường biên soạn.
Đại Việt sử ký toàn thư - Ngô Sĩ Liên.
Hoàng triều biên niên cương mục bị yếu - Trần Quân.
Lĩnh Ngoại đại đáp - Chu Khứ Phi.
Mộng Khê bút đàm - Thẩm Quát.
Tống hội yếu tập cảo.
Tục tư trị thông giám trường biên - Lý Đào.
“Về tín ngưỡng cột kinh Phật đỉnh Tôn Thắng ở Thế kỷ X” - Hà Văn Tấn.
Việt sử lược - Khuyết danh.

hình: cột kinh sám hối do Đinh [Khuông] Liễn dựng năm 973
@Ftm @Trâu Lái Xe @dongdam88 @SymphonyX @NESTA2810
Dĩ nhiên từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư (từ đây viết tắt là Toàn thư) ghi chép: “Vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời Kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi. Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế” (Toàn thư, Đinh, 968) trở về sau, Đinh Bộ Lĩnh được công nhận là vị Hoàng đế đầu tiên của nước ta sau thời kỳ Bắc thuộc. Nhưng Toàn thư ra đời khá muộn, 500 năm sau thời nhà Đinh, vì vậy hoàn toàn có thể tồn tại những nhầm lẫn của sử quan, tỷ như vấn đề quốc hiệu Đại Cồ Việt đầy tranh cãi.
Ngược lên trước, chúng ta có hai bộ sử thời Trần còn được lưu giữ, đó là Việt sử lược (khuyết danh) và An Nam chí lược (Lê Trắc). Trong đó, Việt sử lược mặc dù đã qua hiệu chỉnh của người Trung Quốc để hạ các Hoàng đế Đại Việt xuống hàng vương (tỷ như mục Đinh kỷ chép là Tiên vương chứ không phải Tiên Hoàng; Lê kỷ chép là Đại Hành vương, Ngọa Triều vương...) nhưng phần chính văn chép đủ “tôn hiệu viết Đại Thắng Minh Hoàng đế” (tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế). Còn An Nam chí lược do Lê Trắc viết khi đã sang hàng nhà Nguyên thì chỉ chép vương hiệu của ông “lĩnh việc cai trị Giao Chỉ, xưng hiệu Vạn Thắng vương”, tuyệt đối không nhắc việc xưng đế.
Ghi chép trong An Nam chí lược khá gần với những bộ sử Trung Quốc đương thời, tỷ như “dân Giao Châu cho là có ơn đức, bèn suy tôn Bộ Lĩnh làm Giao Châu soái, hiệu là Đại Thắng vương, đặt con trai là Liễn làm Tiết độ sứ” (Tống sử, Ngoại quốc tứ, Giao Chỉ truyện - từ đấy viết tắt là Tống sử; Tống hội yếu tập cảo, Phiên di tứ, Giao Chỉ - từ đây viết tắt là Tập cảo).
Chúng ta có quyền nghi ngờ ghi chép của sử Trung Quốc, cũng như những ghi chép của Lê Trắc trong điều kiện thiếu thốn tài liệu bản địa vì không còn ở trong nước (Đại Việt). Quả vậy, kết quả khảo cổ về các cột kinh (Phật đảnh tôn thắng gia cú linh nghiệm đà la ni) ở Hoa Lư do Đinh Liễn lập năm 973 đã chứng minh sử Việt Nam đã ghi chép chuẩn xác. Trên các mặt cột kinh còn đọc được, có một số hàng chữ “Tiên chúc Đại Thắng Minh Hoàng đế vĩnh bá thiên nam, hằng an bảo vị” (Trước tiên là chúc cho Đại Thắng Minh Hoàng đế mãi mãi làm chủ cõi trời Nam, giữ yên ngôi báu); “Tiên chúc Đại Thắng Minh Hoàng đế vĩnh trấn thiên nam, thứ vi khuông tá đế đồ” (Trước tiên là chúc cho Đại Thắng Minh hoàng đế mãi mãi trấn giữ cõi trời Nam, sau là [để tôi] phụ giúp cho cơ đồ Hoàng đế”; “Tiên chúc Đại Thắng Minh Hoàng đế vĩnh trấn thiên nam, thứ vi Khuông Liễn hằng kiên lộc vị” (Trước tiên là chúc cho Đại Thắng Minh Hoàng đế mãi mãi trấn giữ cõi trời Nam, sau là để Khuông Liễn mãi giữ được lộc vị” (Hà Văn Tấn).
Hiển nhiên tôn hiệu của vua Đinh là Đại Thắng Minh Hoàng đế, không có gì phải bàn cãi, bất kể sử Trung Quốc không hề biết tới việc đó.
II. NHƯỜNG NGÔI CHO ĐINH LIỄN?
Trong khi các bộ sử nước ta (trừ An Nam chí lược) đều cho rằng Đinh Tiên Hoàng trị vì cho tới khi băng là năm 979, thì nhiều bộ sử Trung Quốc lại cho rằng Đinh Tiên Hoàng ở ngôi vài năm rồi nhường ngôi cho Đinh Liễn.
Tống sử viết: “Được ba năm, thì [Bộ Lĩnh] nhượng vị cho Liễn”.
Tập cảo viết: “Thái tổ Khai Bảo năm thứ 5 [974]... Đinh Liễn sai sứ sang cống phương vật. Liễn trộm kế tập ngôi (nguyên văn: ngụy tập) đã bảy năm...”
Hoàng triều biên niên cương mục bị yếu viết: “Thái tổ Khai Bảo năm thứ 6 [975] Bộ Lĩnh ở ngôi ba năm, Liễn kế tập ngôi cha, tới nay đã 7 năm.”
Các bộ sử Trung Quốc chép tương đối thống nhất về thời điểm nhà Đinh bắt đầu sang cống nhà Tống là năm Khai Bảo thứ 6 [975] (trừ Tập cảo cho rằng trước đó 1 năm), có thể kể thêm:
Tống sử - Thái tổ bản kỷ chép: “Khai Bảo năm thứ 6, Đinh Liễn ở Giao Châu sai sứ cống phương vật.”
Tục tư trị thông giám trường biên (từ đây viết tắt là Trường biên) chép: “Năm Khai Bảo thứ 6 [975], Nam Hán Tĩnh Hải Tiết độ sứ Đinh Liễn hay tin đã bình định Lĩnh Nam, sai sứ sang cống, trong biểu xưng phụng mệnh cha là Bộ Lĩnh.”
Lĩnh Ngoại đại đáp chép: “Năm Khai Bảo thứ 6, [Đinh] Liễn sai sứ cống phương vật, ban chế cho Liễn làm Đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư, sung Tĩnh Hải quân Tiết độ quan sát xử trí đẳng sứ, An Nam đô hộ, kiêm Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc Tế Âm quận Khai quốc công, vẫn ban hiệu Thôi thành Thuận hóa công thần.”
Mộng Khê bút đàm (tác phẩm này không tính là sử mà chỉ là ghi chép của người đương thời): “Về sau, Văn Xương [tức Ngô Xương Văn] bị Đinh Liễn giết, thu phục hết đất. Năm Khai Bảo thứ 6 quốc triều [tức Tống, 975], Liễn bắt đầu quy phụ, lĩnh chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ”.
Tổng hợp lại, phần đa sử Trung Quốc cho rằng Đinh Bộ Lĩnh ở ngôi 3 năm thì nhường ngôi cho Đinh Liễn. Đinh Liễn ở ngôi 7 năm, tới năm 975 thì sai sứ sang triều cống và được phong chức tước. Đây là một nhầm lẫn mà có thể giải thích như sau:
Nhà Hậu Ngô (Xương Văn) kết thúc ở năm 965, nhà Tống liền cho rằng tiếp đến là nhà Đinh nắm quyền từ năm 966 (bỏ qua giai đoạn Thập nhị sứ quân). Đến năm 968 (3 năm tính từ năm 966), Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn sứ quân, lên ngôi Hoàng đế, năm 969 phong Đinh Liễn làm Nam Việt vương (Toàn thư, Đinh). Nhưng nhà Tống không hề có thông tin ở nước Việt có người xưng Hoàng đế mà chỉ biết Đinh Liễn là Nam Việt vương. Do vậy người Tống lấy thời điểm 969 là thời đại của Đinh Liễn (như cách chép của Mộng Khê bút đàm). Từ năm 969 tới năm 975 (Khai Bảo thứ 6) vừa đủ 7 năm, Đinh Liễn sai sứ sang quy phụ và được ban chức tước.
III. VẤN ĐỀ CẦU PHONG
(bài full sẽ có ở đâu đó)
Rất có thể Lê Trắc đã căn cứ vào các ghi chép tương tự để nhận định trong An Nam chí lược rằng “[Đinh Bộ Lĩnh] xưng hiệu Vạn Thắng vương, riêng phong chức cho Liễn làm Tiết độ sứ, được mười năm thì Bộ Lĩnh mất.”
Chắc chắn Lê Trắc đã nhầm lẫn về thời điểm mất của Đinh Tiên Hoàng.
IV. AN NAM CHÍ LƯỢC VÀ AN NAM CHÍ ĐÃ NHẦM
Giống hệt như An Nam chí lược, Cao Hùng Trưng trong An Nam chí [nguyên] cũng cho rằng Đinh Bộ Lĩnh chỉ xưng là Vạn Thắng vương và “[ở ngôi] được 10 năm, Bộ Lĩnh mất, Liễn nối ngôi được 7 năm thì đến năm Tân Mùi, niên hiệu Khai Bảo thứ 4 (971), nhà Tống sai Đại tướng quân Phan Mỹ đi dẹp Lĩnh Nam...”
Tuy nhiên, cũng chính An Nam chí lược, lại viết “Tháng Năm năm [Khai Bảo] thứ 8... Ngày mồng 7 tháng Tám, Thái tổ xuống sắc chế, phong cha Liễn là Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương; thực ấp 1.000 hộ.” Tự bản thân An Nam chí lược đã mâu thuẫn, vì viết Đinh Bộ Lĩnh ở năm 975 còn được phong vương và thực ấp (An Nam chí thì chép là phong cho Liễn). Nếu cho rằng phong vương là truy tặng thì cũng không thể giải thích được việc phong thực ấp cho người đã khuất.
Bất kể An Nam chí lược hay An Nam chí chép thế nào thì ta vẫn chắc chắn rằng đến năm 973, chắc chắn Đinh Tiên Hoàng vẫn còn sống và trực tiếp trị vì đất nước. Cột kinh nhắc tới ở trên được lập năm đó, liên tục có câu “Tiên chúc Đại Thắng Minh hoàng đế, vĩnh bá/trấn thiên Nam”, “hằng yên bảo vị”, chắc chắn những lời chúc tụng này cùng danh hiệu Đại Thắng Minh hoàng đế không phải dành cho vị Hoàng đế đã khuất. Đồng thời, cũng trên cột kinh, Đinh Liễn chỉ xưng Nam Việt vương cùng các chức được nhà Tống phong như An Nam đô hộ, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, Kiểm hiệu Thái sư... (Hà Văn Tấn), nên Đinh Liễn bấy giờ chưa thể là quốc chủ của nước Việt.
Ngoài ra, biểu văn mà Lê Hoàn dùng danh nghĩa Phế đế Đinh Toàn gửi nhà Tống ở năm 980 trình bày hoàn cảnh họ Đinh: “Cha anh của thần, thay nhau nhận ký thác của Hoàng đế, cẩn thận gìn giữ phong cương, chẳng dám trễ nải. Đến nay nối nhau mất đi” (Tống sử); “mấy đời trước nối nhau mất đi” (An Nam chí lược, nguyên văn “tiên thế luân vong”, bản dịch dịch thoát thành “phụ huynh gặp nạn”), chứng tỏ cha và anh của Đinh Toàn là Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn mới mất cách nhau không xa, thậm chí là đồng thời. Không có chuyện Đinh Tiên Hoàng đã chết mấy năm trước và Đinh Liễn lên làm vua cả chục năm (từ 969 đến 979) rồi mới mất.
--
Tài liệu tham khảo:
An Nam chí - Cao Hùng Trưng.
An Nam chí lược - Lê Trắc.
An Nam truyện - Châu Hải Đường biên soạn.
Đại Việt sử ký toàn thư - Ngô Sĩ Liên.
Hoàng triều biên niên cương mục bị yếu - Trần Quân.
Lĩnh Ngoại đại đáp - Chu Khứ Phi.
Mộng Khê bút đàm - Thẩm Quát.
Tống hội yếu tập cảo.
Tục tư trị thông giám trường biên - Lý Đào.
“Về tín ngưỡng cột kinh Phật đỉnh Tôn Thắng ở Thế kỷ X” - Hà Văn Tấn.
Việt sử lược - Khuyết danh.

hình: cột kinh sám hối do Đinh [Khuông] Liễn dựng năm 973
@Ftm @Trâu Lái Xe @dongdam88 @SymphonyX @NESTA2810
Sửa lần cuối:




