Đồn Chí Hòa và kỳ vọng ngăn bước quân Pháp của triều Nguyễn

ditmeconnoeng

Hạt giống tầm thần
Năm 1858, quân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng nhưng sau đó bị cầm chân ở đây. Tháng 2/1859, quân Pháp chuyển hướng tấn công Gia Định. Điều này đã dẫn đến việc triều Nguyễn xây dựng đồn Chí Hòa và đặt hết kỳ vọng ngăn quân Pháp vào đây.

0.jpg

Quân Pháp tấn công đồn Chí Hòa (Kỳ Hòa). (Ảnh: Manhhai, Flickr)
Tôn Thất Hiệp dựng đồn Chí Hòa ngăn quân Pháp
Ngay khi quân Pháp đến cửa biển Vũng Tàu bắn phá, Tổng đốc Gia định là Võ Duy Ninh biết quân Pháp chuyển hướng tấn công Nam bộ liền cấp báo về Triều đình.

Nhận được tin, Triều đình vội cử Thượng thư bộ Hộ là Tôn Thất Hiệp (còn gọi là Tôn Thất Cáp) đem 1.000 viện binh vào Nam, chỉ huy toàn quân phòng thủ.

Tôn Thát Hiệp đến Biên Hoà thì nhận được tin thành Gia Định thất thủ. Vào đến Gia Định, Thôn Thất Hiệp chọn địa điểm làng Chí Hòa và Phú Thọ để xây dựng đồn ngăn quân Pháp. Tên ban đầu gọi là đồn Phú Thọ, sau đó gọi là đồn Chí Hòa (hay Kỳ Hòa).

Về vị trí xây dựng đồn Chí Hòa nhà văn Sơn Nam đã viết trong tác phẩm “Bến Nghé xưa” như sau:

“Tướng Tôn Thất Hiệp (rồi tướng Nguyễn Tri Phương) đều nhất trí chọn lựa cuộc đất trong địa phận làng Chí Hòa và Phú Thọ dọc theo rạch Nhiêu Lộc, lấy con đường đi Tây Ninh làm trung tâm để xây đồn lũy gồm nhiều lý do:

– Vị trí này có thể khống chế và cắt Saigon – Chợ lớn ra làm hai khu vực, không cho thực dân bám vào nguồn tiếp tế từ đồng bằng sông Cửu Long.

– Quân đồn điền từ Gò Công Mỹ Tho dễ tới lui xây dựng thành.

– Phía bắc của Phú Thọ – Chí Hòa giáp 18 thôn Vườn trầu, đông đúc những người côi cút làm ăn, giàu nghĩa khí.”

Đồn Chí Hòa gồm 3 đồn là đồn Tiền, đồn Hữu và đồn Tả. Trong đó đồn Tiền là hệ thống phòng thủ rất vững chắc.

Cuốn sách “Monographie de la province de Gia Định” của Hội nghiên cứu Đông Dương xuất bản năm 1902 mô tả như sau:

“Một ngàn quân do vị quan Tôn Thất Hiệp chỉ huy đóng tại ngôi làng cũ tại Chí Hòa, ở 5km phía tây Saigon. Vị tướng này cho xây đắp ba đồn: Đồn Tiền trên đường đi Tây Ninh với hai đồn ở hai bên, bên hữu và bên tả, cách nhau 400m là đồn Hữu và đồn Tả, đồn sau này ở trên rạch Bà Tiềm”.

Quân Pháp bị chặn đứng
Đồn Chí Hòa được xây xong trở thành bức tường ngăn quân Pháp. “Đại Nam thực lục” mô tả rằng:

“Quân Tây dương đến đồn Phú Thọ do Tôn Thất Cáp. Quân Tây dương đánh phá Hữu đồn, Hoàng Ngọc Chung cố sức đánh bị chết trận. Tôn Thất Cáp cùng Tôn Thất Điển đốc lính ở Kinh chống nhau với giặc, chém được và bắn chết nhiều”.

Tháng 4/1860, quân Pháp tổng tấn công vào đồn Chí Hòa, một cuộc chiến lớn xảy ra. Quân Việt quyết chiến giữ đồn khiến quân Pháp bị thua to. Sách “Monographie de la province de Gia-dinh” mô tả trận đánh này như sau:

“Vào những ngày đầu tháng 4 năm 1860 quân Nam ở đồn Chí Hòa được mật báo sẽ xảy ra một cuộc tấn công vào đồn lũy Chí Hòa, thật vậy, vào sáng 16/4 đại pháo của Pháp bắn về phía Cây Mai, pháo binh Pháp tiến đến trước Đồn Hữu và bắn vào Đồn. Quân Nam bắn trả, một lúc sau, đại pháo bảo vệ đồn bị bắn hạ và quân Pháp tấn công vào thành.

Quân Nam chống trả mãnh liệt và chỉ chịu thua khi chỉ huy của họ là Trần Tương Tư bị trúng một phát đạn vào đầu khi đang ở trên thành. Họ rút lui vào đồn Tiền, đồn này được phòng thủ vững chắc. Một hố rộng bao quanh thành, các vật dẫn hỏa, những cây gỗ lở, chởm mũi nhọn chất đầy mặt thành, sẵn sàng rơi xuống đầu kẻ tấn công thành. Quân phòng thủ cộng thêm số ở đồn Hữu chạy sang có khoảng 1500 người.

Lúc 8 giờ, quân Pháp tấn công dưới làn đạn của đồn Tiền và đồn Tả. Sự cố gắng của họ bị thất bại trước chướng ngại dồn dập. Sau hai giờ chiến đấu quyết liệt làm thiệt hại mỗi bên hơn 20 người. Đến 3 giờ chiều, họ trở lại Cây Mai.

Dưới thành Đồn tiền có 6 xác thủy quân pháp bị giết ở những lỗ châu mai khi họ tìm cách đột nhập vào thành. Các quân Nam cho ném họ vào một cái đảo nhỏ bên cạnh (Mật-cật). Cùng ngày tướng Tôn Thất Hiệp cho quân thông báo về Huế tin chiến thắng. Triều đình gởi tiền bạc vào để khen thưởng quân sĩ.”

Sau trận thua này, quân Pháp nhận thấy cần một lực lượng đông hơn để có thể tiến đánh đồn Chí Hòa nên không tiếp tục mà chờ viện quân.

Để củng cố thế trận chống Pháp, năm 1860 vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương giữ chức Gia Định quân thứ thay Tôn Thất Hiệp, cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển vào nam ngăn quân Pháp.

Biết rõ người Pháp có hỏa lực rất mạnh và hiện đại, quân Việt không thể đối đầu trực diện, nên Nguyễn Tri Phương lựa chọn chiến lược thủ vững bằng chiến lũy để dần bao vây quân Pháp, ép người Pháp phải rút đi như kịch bản xảy ra trước đó ở Đà Nẵng.

Nguyễn Tri Phương tập trung binh lính cùng dân chúng xây dựng đồn Chí Hoà thành đại đồn rộng lớn, kéo dài thành tấm chắn ngăn quân Pháp tấn công Nam bộ. Đại Đồn được xây dựng từ tháng 8/1860 đến tháng 2/1861 thì hoàn thành.
 
Nguyễn Tri Phương xây dựng đồn Chí Hòa thành Đại Đồn Chí Hòa, kỳ vọng biến nơi đây thành bức tường thành vững chắc ngăn quân Pháp tiến đánh Nam bộ.

Hệ thống Đại Đồn Chí Hòa
Đại đồn dài 3.000m, rộng 1.000m, được chia làm năm khu bằng nhau. Tường được xây bằng đất sét và đá ong, cao 3,5m, dày 2m với nhiều lỗ châu mai.

Mặt trên và mặt ngoài tường có trồng nhiều loại cây gai. Phía ngoài đồn là rào tre, nhiều mô đất, nhiều ao nước và vô số hố chông.

Đại đồn có 150 đại bác phòng thủ, nhưng đại bác bắn đạn bằng gang nên hỏa lực không mạnh như đại bác quân Pháp.

Đại Đồn lấy đồn Hữu va đồn Tả làm điểm tựa, với diện tích 3km2, Nguyễn Tri Phương còn cho xây hàng loạt các đồn lũy khác nhằm bảo vệ cho Đại Đồn như đồn Thanh Lương, đồn Thuận Kiều, đồn Rạch Tra… các đồn lũy này kiểm soát một diện tích đến hàng trăm km2, vây chặt quân Pháp vào trong

Nhà văn Phan Trần Chúc đã dẫn lời một vị tướng Pháp khen ngợi Đại Đồn rằng: “Thấy phương pháp dụng binh của Nguyễn Tri Phương, người ta phải tin rằng vị nguyên soái anh hùng của nước Nam đã biết phương lược xây dựng lối pháo đài tạm thời như Totleben ở Sébastopol, Denfert Rochereau ở Belfort, Osman Pacha trong trận Plevna”.

Sau này quân Pháp cũng nhận xét rằng: “Thành lũy của Nguyễn Tri Phương dựng mau như nấm mọc, hễ chỗ nào có lối đi là có ngay chiến lũy ngăn cản”.

Quân Pháp cũng có “Phòng tuyến các Chùa”
Trước tình thế này, giữa năm 1860 liên quân Pháp – Tây Ban Nha cũng xây dựng được phòng tuyến đối diện với quân Đại Nam chạy từ Sài Gòn đến Chợ Lớn, gọi là “Phòng tuyến các chùa”. Bắt đầu là chùa Khải Tường (Pháp gọi là chùa Barbet, nay là khu vực Trường Lê Quý Đôn), rồi chùa Ao (nay là khu vực Bộ Công an phía Nam), chùa Chuông (chùa Clochetons, Trường Hùng Vương, quận 5) và cuối cùng là chùa Cây Mai (sau gọi là đồn Cây Mai).

1.webp

Đại đồn Kỳ Hòa (màu cam); Bốn ngôi chùa bị quân Pháp chiếm làm đồn lính (màu vàng) nhằm tạo thành “Phòng tuyến các chùa”. (Tranh: Wikipedia, Public Domain)
Pháp xây dựng phòng tuyến này nhằm ngăn chặn quân Đại Nam tấn công, đồng thời bảo vệ con đường xuất khẩu gạo từ Chợ Lớn đến cảng Sài Gòn. Pháp cũng đặt tại phòng tuyến các vũ khí hiện đại nhằm sẵn sàng đánh trả nếu quân Đại Nam tấn công.

Đại Đồn Chí Hòa quây chặt quân Pháp
Đại Đồn Chí Hòa đã vây quân Pháp ở Sài Gòn, nhưng vòng vây chưa thật chặt vì trước đó quân Pháp đã chiếm được đồn Cây Mai. Nguyễn Tri Phương quyết định đánh chiếm lại đồn này nhằm thắt chặt vòng vây.

Đồn Cây Mai do liên quân gồm 100 quân Tây Ban Nha và 60 quân Pháp đóng ở đây. Để tấn công vào đây quân Đại Nam đã huy động đến 3.000 quân tấn công và chiếm được đồn này.

Nhà văn Phan Trần Chúc mô tả rằng:

“Sau khi bao vây được quân Pháp, Nguyễn Tri Phương cho quân liều chết dưới mưa đạn để hãm đồn Cây Mai. Trong đêm 3 và 4 tháng 7 năm 1860, 3.000 quân của ông đã anh dũng chiếm được một đồn lũy do Đại úy người Tây Ban Nha Fernandez chỉ huy với 100 lính Tây Ban Nha và 60 lính Pháp. Trong tháng 11 cùng năm, quân Pháp lại tấn công dữ dội các pháo đài ở Gia Định nhưng quân nhà Nguyễn đã đánh lui được đối phương khiến quân Pháp bị thiệt hại”

Sau trận thắng này, với Đại Đồn Chí Hòa, quân Đại Nam hình thành thế trận quây chặt lấy quân Pháp. Vua Tự Đức tiếp tục ban thưởng khích lệ quân sĩ. Đại Đồn Chí Hoà trở thành niềm hy vọng của cả Triều đình và tướng sĩ có thể ngăn chặn quân Pháp ở Nam bộ.

Lúc này Phòng tuyến các chùa của Pháp có hỏa lực rất mạnh, Nguyễn Tri Phương dù có quân đông hơn nhưng không tập trung tấn công vì sẽ hao tổn rất nhiều binh sĩ. Dù vậy quân Đại Nam vẫn có những cuộc tập kích nhỏ. Ghi chép của quân Pháp cho thấy suốt 6, 7 tháng liền quân Pháp không nhận được tin từ Pháp.

Lực lượng hai bên
Về tương quan lực lượng 2 bên, lúc này phía liên quân Pháp – Tây Ban Nha chỉ có 800 quân nhưng được trang bị vũ khí và hỏa lực rất mạnh.

Quân Đại Nam ở Đại Đồn Chí Hòa có bao nhiêu thì các nguồn đều không thống nhất. Quân Pháp cho rằng quân Đại Nam rất đông nhưng các phân tích cho thấy người Pháp đã nói quá lên nhằm làm nhẹ thiệt hại khi tấn công Đại Đồn Chí Hòa. Nguồn sử liệu đáng tin hơn cho thấy quân Đại Nam có khoảng 15.000 quân (trong đó 10.000 là dân đồn điền ở đây gia nhập làm quân Nghĩa dõng, không được đào tạo và khả năng chiến đấu thấp; 2.000 quân chính quy triều đình; 3.000 quân địa phương và các nghĩa binh cùng tham gia chống Pháp).

Nhiều nhà nghiên cứu tỏ ý tiếc nuối vì với quân số đông hơn, lại có Đại Đồn vững chắc, nếu Nguyễn Tri Phương cho tấn công thì tất thắng, và Pháp sẽ không chiếm được Nam bộ. Tuy nhiên “Phòng tuyến các chùa” khiến việc tấn công chưa rõ được mất thế nào, mặt khác quân Pháp quyết chiếm Gia Định, nên sẽ có thêm quân đến. Nếu quân Đại Nam đã bị tổn thất nhiều thì sẽ gặp khó khăn về lực lượng để ngăn quân Pháp.

Một hạm đội 50 – 70 chiến hạm của Pháp đến Sài Gòn, nâng tổng số quân Pháp lên 5.000. Người Pháp quyết định chuẩn bị tiến đánh Đại Đồn Chí Hòa.

charner-1.jpg

Tướng Vice-Amiral_Charner. (Ảnh: Wikipedia, Public Domain)
Quân Pháp đặt dưới sự chỉ huy của tướng Charner, chỉ huy trưởng lực lượng hải quân Viễn Đông, người vừa chỉ huy quân Pháp đánh bại nhà Thanh trong cuộc Chiến tranh Nha phiến lần 2, và cũng vừa được phong Huân chương Bắc đẩu bội tinh đệ nhất đẳng vào ngày 10/2/1861.
 
Đầu tháng 2/1861, tướng Charner tổ chức thám thính Đại Đồn Chí Hoà để lên kế hoạch tấn công, quân thám báo người Việt và người Hoa trà trộn vào Đại Đồn để nắm tình hình và cách bố trí của quân Đại Nam.

Kế hoạch của quân Pháp
Quân Pháp cũng sử dụng phương tiện hiện đại lúc bấy giờ là khinh khí cầu nhằm do thám tình hình Đại Đồn. Quân Đại Nam không biết gì về khinh khí cầu nên không có kế hoạch đối phó. Vì thế cách bố trí quân và vũ khí trong Đại Đồn đều bị quân Pháp nắm được.

Sau khi thu thập được cách bố trí phòng thủ của Đại Đồn, quân Pháp lên kế hoạch. Nhận thấy quân Đại Nam tập trung phòng thủ phía trước và 2 cánh, phía sau có phần lơ là hơn, quân Pháp quyết đánh đánh bọc hậu từ phía sau.

Để đánh bọc hậu thì con đường thuận tiện nhất là từ đồn Hữu (Redoute). Quân Pháp dự định tấn công vào đây trước rồi cho quân đi bọc hậu.

Trận đánh Đại Đồn Chí Hòa
Sáng sớm ngày 24/2, trận đánh Đại Đồn Chí Hòa bắt đầu, đại bác quân Pháp từ Phòng tuyến các Chùa kéo đến bắn vào Đại Đồn Chí Hòa, đại bác trên các tàu chiến cũng đồng thời nhả đạn.

Pháo quân Đại Nam cũng bắn đáp trả, nhưng hoàn toàn lép về trước hỏa lực mạnh và tầm bắn xa của đại pháo quân Pháp. Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu kể:

“Bốn giờ sáng ngày 24 tháng 2 năm 1861, quân Pháp được lệnh tập họp. Đến 5 giờ 30 phút, đoàn quân bắt đầu lên đường. Khi ấy, pháo binh từ các chùa Barbet (chùa Khải Tường), Chochetons, Cây Mai đã bắn được một giờ rồi; và các toán quân Việt cũng đã kéo nhau dàn ra các ngả đường để phòng ngự.

(Trên đường), đại pháo do ngựa kéo bất thần nhả đạn vào đồn Redoute (sử Việt ghi là Đồn Hữu). Đối phương lập tức đốt khói để che và mặc dầu súng nhỏ và các điều kiện quân sự thua thiệt, họ vẫn kháng cự quyết liệt… Pháo binh chịu trận trước tiên; chỉ trong vài phút, nhiều pháo thủ và ngựa bị trúng đạn… mặc dù tầm đạn của ta chính xác, liên tục và ưu thế hơn, nhưng sức kháng cự của bọn An Nam không bị đánh tan cũng không nao núng chút nào.”

(Theo “Lịch sử cuộc Viễn chinh Nam Kỳ 1861”).​

Đến sáng Liên quân với Đề đốc Charner, Thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca (Tây Ban Nha) đưa quân cùng pháo hạng nhẹ tấn công đồn Hữu. Quân Việt anh dũng chống trả khiến cả De Vassoigne và Palanca đều bị thương.

Cuốn “Lịch sử cuộc Viễn chinh Nam Kỳ 1861” cũng mô tả thiệt hại của quân Pháp:

“Thương vong của ta tăng lên; Đại tướng de Vassoigne, Đại tá Tây Ban Nha Palanca Gutierrez, Chuẩn úy Lesèble và Thượng sĩ Joly bị thương nặng. Thủy sư Đề đốc (Léonard Charner) bèn trực tiếp cầm quân và ra hiệu lệnh”.

Trước sự ngoan cường của quân Việt, liên quân phải tạm dừng lại cho đại bác bắn khoảng 500 quả rồi tiếp tục tiến lên. Nhờ có đại bác mà quân Pháp vào được phía trong. Quân Việt liền cho voi ứng chiến nhưng không có hiệu quả trước đạn pháo và súng trường.

Quân Pháp vào được phía trong đồn Hữu, cuộc chiến vẫn diễn ra ác liệt. Quân Pháp theo kế hoạch định trước, cho một cánh quân đi vòng qua các làng Tân Thới, Bình Hưng lên Tân Sơn Nhì đóng quân tại nơi mà ngày nay gọi là Gò Cát thuộc quận Bình Tân, chuẩn bị đánh bọc hậu.

Tại đồn Hữu, quân Pháp chiếm được khoảng 1 cây số, trong khi còn 2 cây số nữa mới đến mặt chính của Đại Đồn. Trận đánh kéo dài mãi đến đêm, quân Pháp vẫn không đến được mặt chính Đại Đồn và hai bên tạm ngừng chiến.

Cuốn “Lịch sử cuộc Viễn chinh Nam Kỳ 1861” mô tả:

“Khi các quân lính Pháp đầu tiên nhảy được vào bên trong, trên các bệ bắn phía sau tường, thì họ thấy quân An Nam thối lui mang theo giáo mác, súng lớn và súng tay của họ. Quân An Nam lùi lại một bước thế thôi, gần như thản nhiên, giống như những người thợ đang làm việc rồi ngưng tay; thật quả là lạ lùng, mặc dù tình thế cấp bách vì cả một đạo quân đang trèo lên tường để tràn vào; chỉ có một số thật ít bỏ chạy mà thôi. Trong mấy phút sau là họ rút về phía đại quân có cờ đuôi nheo phấp phới bên trong thành Kỳ Hòa (người Pháp không phát âm được chữ Chí nên gọi ‘Chí Hòa’ thành ‘Kỳ Hòa’).

Trong trận đánh ngày 24 tháng 2 này, quân An Nam chấp nhận đối đầu bằng đại pháo với ta tuy họ yếu kém nhưng không thấy lòng can trường của họ bị sứt mẻ hay nao núng một chút nào cả: nhiều xác chết rải rác dọc theo tường phòng thủ cho thấy hiệu quả của súng nòng có khía của ta. Nhưng khi quân ta xung phong, tiến thẳng vào họ, thì họ thối lui nhưng không chạy, khoảng cách vẫn còn nhìn thấy nhau.”

Ghi chép của người Pháp cho thấy rằng đối mặt với đội quân trang bị hiện đại của phương Tây, quân Đại Nam vẫn thản nhiên quyết chiến chứ không hề run sợ.

Sau một đêm ngừng bắn nghỉ ngơi, đến sáng 25/2, cánh quân Pháp nhận nhiệm vụ đánh bọc hậu từ Gò Cát đến Bà Quẹo rồi đến sát sau đồn.

Mở đầu trận đánh ngày 25/2, đại bác quân Pháp từ các hướng cũng bắn dồn dập vào đồn Tiền.

Hai cánh quân Pháp cùng xuất kich. Cánh quân bọc hậu đến sát đồn Tiền và bắt đầu tấn công, cánh quân từ đồn Hữu cũng tấn công về hướng mặt chính Đại Đồn.
 
Sáng sớm ngày 25/2, sau loạt đại bác bắn dồn dập, hai cánh quân Pháp tiếp tục tiến đến phía mặt chính Đại Đồn Chí Hòa.

Cánh quân đánh bọc hậu
Cuốn “Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861” mô tả rằng:

“Mặt hậu tuyến của thành Chí Hòa có xây ụ phòng thủ nhô ra ở hai góc. Mặt hậu tuyến là một thành hẳn hoi, xây kín gọi là thành Giữa, dùng làm cổng sau cho cả doanh trại Chí Hòa; thành Giữa nằm trên đường ranh hậu tuyến.

Hai ụ phòng thủ hai bên và thành Giữa bảo vệ lẫn nhau. Tầm súng của địch trong thành có thể quét quân tấn công khi đến gần vùng ven biên, nơi mà quân ta phải xông vào, vùng ven biên được bảo vệ bằng hầm chông, hào và bàn chông trong khoảng rộng một trăm thước kể từ chân tường thành.”

Quân Pháp dùng thang đặt qua các hầm chông và cạm bẫy, cho quân tiến lên, nhờ có thang mà vượt qua được 6 hàng hầm chông và 2 hào sâu, đến sát được tường thành thì bị đánh chặn lại. Quân Pháp dùng lựu đạn ném vào trong, nhờ đó vượt qua được tường thành.

Cuốn “Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861” tiếp tục mô tả:

“Quân An Nam ngưng đánh vì thấy rào gai bị phá thủng, rút xa vài phút trước khi quân Pháp ập vào, họ rút lui rất trật tự, thật chậm dọc theo bờ tường thành. Một nhóm quân lính của ta rượt theo, nhưng không ăn thua gì; vì địch quân rút hết vào một lớp thành khác trước khi quân Pháp đuổi tới.”

Cánh quân từ đồn Hữu tấn công
Cánh quân Pháp ở đồn hữu cũng tấn công, còn cách mặt chính Đại Đồn 2 cây số. Quân Pháp tiến từng chút môt trước sự chống trả của quân Việt. Đến khi cách mặt chính Đại Đồn 200 mét thì quân Pháp gặp phải bãi ruộng trống, nơi đây không hề có chỗ ẩn nấp, nhưng tướng Charner vẫn lệnh cho quân Pháp liều chết tấn công.

Khi quân Pháp còn cách mặt chính Đại Đồn 100 mét thì có rất nhiều cạm bẫy và chướng ngại vật. Quân Đại Nam trong đồn bắn ra khiến quân Pháp bị chết và bị thương nhiều.

Quân Pháp dùng thang cố vượt qua các hào ụ cạm bẫy, tiến đến chân thành, bị quân Việt bắn từ các lỗ châu mai. Quân Pháp dùng thang trèo vào, nhưng hầu hết các thang đều bị chém gãy, quân Pháp đứng trên vai nhau trèo được vào trong.

Cuộc chiến trong Đại Đồn diễn ra rất quyết liệt khi quân Pháp trèo được vào trong. Quân Đại Nam cố gắng chống đỡ trước vũ khí hiện đại của quân Pháp. Nguyễn Tri Phương trực tiếp có mặt chỉ huy quân sĩ phòng thủ, nhưng ông bị mảnh đại bác trúng người trọng thương. Em của Nguyễn Tri Phương là Lang trung Nguyễn Duy bị tử trận.

Nhận thấy không thể chống cự lâu hơn, quân Đại Nam đành rút về đồn Thuận Kiều. Một số binh lính không rút kịp đã tử trận.

Quân Pháp không thể tấn công ngay vào đồn Thuận Kiều do bị thiệt hại nặng. Phải 3 ngày sau đến ngày 28/2, quân Pháp mới tổ chức tấn công vào đồn Thuận Kiều.

Đại tá Crouzat bị thương, nhưng quân Đại Nam không giữ được phải rút khỏi cả đồn Thuận Kiều, đồn Tây Thới (thuộc Hóc Môn ngày nay), đồn Rạch Tra (thuộc Củ Chi – Hóc môn ngày nay) chạy đến Biên Hòa. Trương Định cùng nghĩa quân tham gia trận chiến này từ đầu đến cuối, ông cho quân rút về Gò Công tiếp tục chống Pháp.

Thiệt hại 2 bên
Về thiệt hại quân số, các nguồn sử liệu đều không thống nhất. Về thiệt hại của quân Pháp, khả tín nhất là cuốn sách “Lịch sử cuộc Viễn chinh Nam Kỳ 1861” cho rằng “300 người bị loại khỏi vòng chiến, 12 bị giết tại trận, nhiều người bị thương không cứu được”. Con số không cứu được là bao nhiêu thì không được ghi chép.

Theo sử liệu nhà Nguyễn thì Đại Nam có 1.000 quân tử trận, nhưng thực tế cuộc chiến cho thấy con số này phải nhiều hơn. Có thể 1.000 quân tử trận chỉ là quân chính quy của Triều đình, còn quân Nghĩa dõng, quân địa phương và nghĩa quân thì chưa được tính tới.

Tinh thần quân Việt
Dù sử nhà Nguyễn ít ghi chép về trận đánh này, nhưng những ghi chép của người Pháp đều đánh giá rất cao tinh thần của quân Đại Nam, mặc dù điều đó cũng không thể san bằng khoảng cách quá lớn về trang bị vũ khí.

Sĩ quan người Pháp Phillippe Aude đã viết trong 1 bức thư ngày 28 tháng 3 năm 1861:

“Những chiến lũy mà người Việt Nam dựng lên rất kiên cố đều bằng đất sét cốt tre… Quân Việt Nam rất can đảm… cũng như lòng khinh thường trước cái chết… Trong khi giao chiến họ dùng giáo, thứ khí giới này chỉ đâm được quân địch cách 4 thước, đó là 1 lối tự vệ rất can đảm, đến quân Tàu cũng chưa bao giờ nghĩ đến.”

(Theo “Nguyễn Tri Phương” của Phan Trần Chúc)​

Sau trận đánh quân Pháp có gửi báo cáo, trong đó viết “người Nam dũng cảm hơn người Tây nhiều”.

Triều đình mất hy vọng chống Pháp, người dân Nam bộ khởi nghĩa
Đại Đồn Chí Hòa là niềm hy vọng của của Triều đình nhà Nguyễn nhằm ngăn quân Pháp. Nhận được tin thất thủ, Triều đình Huế không cam tâm, cấp tốc phái Nguyễn Bá Nghi đưa 4.000 quân đến chi viện, chỉ huy toàn quân chống Pháp.

Thế nhưng viên tướng này khi đến Biên Hoà, nghe tường thuật trận đánh thì cảm thấy vũ khí phương Tây hiện đại và mạnh hơn rất nhiều, nên tìm Charner xin nghị hòa rồi tâu về Triều đình rằng: “Việc nước ta ngày nay, trừ một chước hòa không có chước nào khác. Hòa thì không ổn rồi, nhưng trông mong sự khôi phục về sau”.

Thừa cơ, quân Pháp đưa quân chiếm luôn Định Tường. Bị Vua quở trách, Nguyễn Bá Nghi gửi sớ tâu rằng:

“Tình hình Biên Hòa suy yếu, đánh giữ đã không được, mà hòa lại không xong, xin giảm bớt quân thứ, phái người đi cầu viện nước khác. Nhà vua lại truyền dụ quở trách.”

(Theo “Quốc triều sử toát yếu”).​

Triều đình nhà Nguyễn đặt cả hy vọng vào Đại Đồn Chí Hòa để ngăn Pháp, việc Đại Đồn thất thủ khiến nhà Nguyễn mất đi hy vọng. Sau đó nhà Nguyễn ký các hòa ước chấp thuận cho Pháp cả 3 tỉnh miền Tây rồi 3 tỉnh miền Đông. Tuy nhiên người dân Nam bộ không khuất phục mà nổi lên chống Pháp với rất nhiều cuộc khởi nghĩa trong thời gian này.
 
Vũ khí lạc hậu nhưng tinh thần là có, tại ô quan chưởng khi Pháp đánh ra Hà Nội, quân nhà Nguyễn đánh và hi sinh tới người cuối cùng. Nhưng cũng có 1 cái, nếu chủ lực tấn công lúc Pháp vừa đổ bộ thì lại ngon, quan trọng nhà Nguyễn lúc đấy suy yếu, khởi nghĩa nổ ra, quân không có để mà dàn, sau này các trận thì đa số mất thành mặc dù chênh lệch lực lượng 2 bên rất nhiều
 
Thật ra ngoại trừ đại pháo thì vũ khi quân An Nam ko thua quân Pháp là mấy đâu, vì lúc này Pháp vẫn còn xài súng nạp qua nòng, khi chiếm đc đồn nó thu đc cả mớ thuốc đạn, súng ống mới tinh ;)) vấn đề là quân Nam lâu ngày ko đánh nhau, ko được thiện chiến cho lắm, lại thiếu các chiến thuật hiệu quả, nên lính ysl mà tướng cũng rén
- nếu đã nghị hòa nên đổi cho Fap đất mỏ Q.Ninh - Hải Phòng thì tốt hơn là cho nó vựa lúa miền Tây, đưa 1 thằng ysl lại chỉ biết suốt ngày thơ phú chém gió lên làm vua nó hại thế đấy ...
 
Thật ra ngoại trừ đại pháo thì vũ khi quân An Nam ko thua quân Pháp là mấy đâu, vì lúc này Pháp vẫn còn xài súng nạp qua nòng, khi chiếm đc đồn nó thu đc cả mớ thuốc đạn, súng ống mới tinh ;)) vấn đề là quân Nam lâu ngày ko đánh nhau, ko được thiện chiến cho lắm, lại thiếu các chiến thuật hiệu quả, nên lính ysl mà tướng cũng rén
- nếu đã nghị hòa nên đổi cho Fap đất mỏ Q.Ninh - Hải Phòng thì tốt hơn là cho nó vựa lúa miền Tây, đưa 1 thằng ysl lại chỉ biết suốt ngày thơ phú chém gió lên làm vua nó hại thế đấy ...


cùng là súng hỏa mai nhưng kết cấu khác hẳn nhau mày ạ

súng hỏa mai của quân nguyễn là loại dùng từ thời chiến tranh napoleon 1810 1812 , cũng nạp đạn qua nòng nhưng bắn độ chính xác kém do đạn tròn như viên bi ve + nòng súng ko có rãnh khương tuyến nên bắn tầm ngắn và sai số cao , đặc biệt ko bắn trong thời tiết mưa hay ẩm ướt

súng quân phap1 dùng là loại cải tiến đời 1850 60, bắn đạn đúc gần giống đạn thời hiện đại và nòng súng có rãnh khương tuyến nên tầm bắn gấp đôi + độ chính xác cao , ngoài ra bắn được lúc trời mưa

chưa kể còn đại bác, pháp ăn hẳn khoản súng pháo đại bác, đại bác pháp bắn đạn nổ như quả bom, 1 phát là toang mẹ 1 khúc tường to, đạn quân vịt là viên gang tròn, bắn ko nổ phá

ngoài ra nhìn trang bị thì pháp trang bị đúng kiểu từ đầu đến chân, quân vịt ko có giày dép mà phải chạy chân đất là thấy thua cmnr nếu phải vận động
 
đéo có lòng dân thì quan quân nhà giời cũng del thắng dc
 

Có thể bạn quan tâm

Top