Khải hoàn môn là từ đâu? Nó bắt đầu từ đế chế La Mã, khi các hoàng đế chinh chiến thắng lợi trong các cuộc chiến chinh phục các dân tộc khác trở về.
Sau một chiến thắng lớn, một vị tướng hoặc hoàng đế có thể được tổ chức triumphus, tức lễ khải hoàn. Đoàn quân chiến thắng tiến qua Roma, mang chiến lợi phẩm, tù binh và biểu tượng của các dân tộc bị khuất phục. Các vòm kỷ niệm sau đó biến khoảnh khắc chiến thắng ngắn ngủi thành đá và cẩm thạch, tức là biến ký ức quân sự thành cảnh quan đô thị lâu dài.
Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất còn tồn tại là Khải hoàn môn Titus ở Roma, dựng cuối thế kỷ I để tưởng niệm chiến thắng của Titus trong cuộc chiến Do Thái và việc chiếm Jerusalem. Các phù điêu bên trong còn mô tả chiến lợi phẩm từ Đền thờ Jerusalem. Khải hoàn môn Constantine, hoàn thành năm 315, được xây để tưởng niệm chiến thắng của Constantine trước Maxentius tại cầu Milvian năm 312.
Trong thời cận đại, các Khải hoàn môn được xây trong thế kỷ 19 bởi các nước đế quốc. Ví dụ kinh điển nhất là Khải Hoàn Môn Paris. Napoleon I ra lệnh xây năm 1806, ngay sau chiến thắng Austerlitz, để tôn vinh Grande Armée. Công trình được thiết kế với sự tham chiếu trực tiếp tới các khải hoàn môn La Mã, đặc biệt là Khải hoàn môn Titus và Constantine. Nhưng Napoleon bị lật đổ trước khi công trình hoàn thành; dự án trải qua nhiều chế độ chính trị và mãi tới năm 1836 mới khánh thành. Đức có Cổng Brandenburg. Về mặt kỹ thuật nó là một cổng thành kiểu tân cổ điển chứ không hoàn toàn là khải hoàn môn La Mã, nhưng chức năng biểu tượng và kiến trúc của nó rất gần với truyền thống này. Sau chiến tranh Napoleon, Phổ còn biến nó thành một biểu tượng chiến thắng. Anh có Wellington Arch ở London, được dựng đầu thế kỷ XIX để kỷ niệm chiến thắng của Anh trong các cuộc chiến Napoleon.
Như vậy, có thể thấy Khải hoàn môn là một sản phẩm hoàn toàn của phương Tây, được dựng lên để kỷ niệm chiến thắng trong chiến tranh và gắn liền với chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa dân tộc. Nếu không kể phương Tây thì ở châu Á có Ấn Độ và Bắc Hàn là có các công trình Khải hoàn môn. Cụ thể, Ấn Độ có India Gate ở New Delhi. Hình thức là khải hoàn môn, nhưng chức năng chính là đài tưởng niệm những binh sĩ của Quân đội Ấn Độ thuộc Anh tử trận trong Thế chiến I và chiến tranh Afghanistan. Triều Tiên có Khải hoàn Môn ở Bình Nhưỡng, hoàn thành năm 1982, được chính quyền Triều Tiên xây dựng để tưởng niệm vai trò của Kim Nhật Thành trong phong trào chống Nhật.
Việc Hà Nội định xây dựng Khải hoàn môn khá khó hiểu, khi mà chiến tranh đã kết thúc ở Việt Nam hơn 50 năm, không hiểu để vinh danh chiến thắng nào? Đó là chưa kể thiết kế khá lố lăng, mà người thì ví như cái máy chém đặt giữa lòng Thủ đô, người thì ví với cái khố đỏ đem treo lơ lửng.
Sau một chiến thắng lớn, một vị tướng hoặc hoàng đế có thể được tổ chức triumphus, tức lễ khải hoàn. Đoàn quân chiến thắng tiến qua Roma, mang chiến lợi phẩm, tù binh và biểu tượng của các dân tộc bị khuất phục. Các vòm kỷ niệm sau đó biến khoảnh khắc chiến thắng ngắn ngủi thành đá và cẩm thạch, tức là biến ký ức quân sự thành cảnh quan đô thị lâu dài.
Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất còn tồn tại là Khải hoàn môn Titus ở Roma, dựng cuối thế kỷ I để tưởng niệm chiến thắng của Titus trong cuộc chiến Do Thái và việc chiếm Jerusalem. Các phù điêu bên trong còn mô tả chiến lợi phẩm từ Đền thờ Jerusalem. Khải hoàn môn Constantine, hoàn thành năm 315, được xây để tưởng niệm chiến thắng của Constantine trước Maxentius tại cầu Milvian năm 312.
Trong thời cận đại, các Khải hoàn môn được xây trong thế kỷ 19 bởi các nước đế quốc. Ví dụ kinh điển nhất là Khải Hoàn Môn Paris. Napoleon I ra lệnh xây năm 1806, ngay sau chiến thắng Austerlitz, để tôn vinh Grande Armée. Công trình được thiết kế với sự tham chiếu trực tiếp tới các khải hoàn môn La Mã, đặc biệt là Khải hoàn môn Titus và Constantine. Nhưng Napoleon bị lật đổ trước khi công trình hoàn thành; dự án trải qua nhiều chế độ chính trị và mãi tới năm 1836 mới khánh thành. Đức có Cổng Brandenburg. Về mặt kỹ thuật nó là một cổng thành kiểu tân cổ điển chứ không hoàn toàn là khải hoàn môn La Mã, nhưng chức năng biểu tượng và kiến trúc của nó rất gần với truyền thống này. Sau chiến tranh Napoleon, Phổ còn biến nó thành một biểu tượng chiến thắng. Anh có Wellington Arch ở London, được dựng đầu thế kỷ XIX để kỷ niệm chiến thắng của Anh trong các cuộc chiến Napoleon.
Như vậy, có thể thấy Khải hoàn môn là một sản phẩm hoàn toàn của phương Tây, được dựng lên để kỷ niệm chiến thắng trong chiến tranh và gắn liền với chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa dân tộc. Nếu không kể phương Tây thì ở châu Á có Ấn Độ và Bắc Hàn là có các công trình Khải hoàn môn. Cụ thể, Ấn Độ có India Gate ở New Delhi. Hình thức là khải hoàn môn, nhưng chức năng chính là đài tưởng niệm những binh sĩ của Quân đội Ấn Độ thuộc Anh tử trận trong Thế chiến I và chiến tranh Afghanistan. Triều Tiên có Khải hoàn Môn ở Bình Nhưỡng, hoàn thành năm 1982, được chính quyền Triều Tiên xây dựng để tưởng niệm vai trò của Kim Nhật Thành trong phong trào chống Nhật.
Việc Hà Nội định xây dựng Khải hoàn môn khá khó hiểu, khi mà chiến tranh đã kết thúc ở Việt Nam hơn 50 năm, không hiểu để vinh danh chiến thắng nào? Đó là chưa kể thiết kế khá lố lăng, mà người thì ví như cái máy chém đặt giữa lòng Thủ đô, người thì ví với cái khố đỏ đem treo lơ lửng.