DƯỚI GÓC NHÌN PHÁP Y, TREO CỔ TỨC LÀ LÀM SAO?

Asgass31

Địt mẹ đau lòng
Vatican-City
Đây là bài viết pháp y khách quan , không có tính chất ám chỉ hay định hướng.
1. Treo cổ
1.1. Định nghĩa

Treo cổ là loại ngạt hình cơ học do cổ nạn nhân bị chèn ép trong vòng dây
với lực tác động là sức nặng của toàn bộ hay một phần trọng lượng cơ thể nạn
nhân.

Đa số các trường hợp là treo cổ tự tử, nhưng đã có nhiều trường hợp rất
phức tạp do vậy giám định y pháp nhằm mục đích giải đáp những vấn đề:
• Chết treo hay treo xác chết.
• Đặc điểm của dây treo có phù hợp với dấu vết vùng cổ nạn nhân?
• Vị trí của nút buộc và tư thế nạn nhân?
• Có thương tích hay không? Nếu có do vật gì gây ra? mức độ tổn thương?
• Dấu hiệu của bệnh lý, chất độc, rượu hoặc chất kích thích?
• Thời gian tử vong?

1.2. Sinh lý bệnh:

Nghiên cứu trên những nạn nhân được cứu sống và qua thực nghiệm người
ta ghi nhận quá trình chết do treo cổ trải qua 3 giai đoạn sau:

- Giai đoạn kích thích: mặt nạn nhân đỏ, ù tai, nảy đom đóm mắt, nhức đầu,
đau ở một bên cổ rồi đi đến bất tỉnh rất nhanh.
- Giai đoạn co giật: ngay sau khi bất tỉnh, xuất hiện co giật ở mặt, chân tay.
Hiện tượng này có thể gây ra những thương tích nhẹ ở chân tay hoặc ở phần lồi
của cơ thể do va quệt với các vật ở xung quanh, đôi khi có thể làm đứt dây treo.
- Giai đoạn cuối cùng: nạn nhân ngừng thở rồi ngừng tim, trước đó có thể
thấy xuất tinh, có phân ở hậu môn do rối loạn cơ tròn.

Thời gian hồi sức đối với một trường hợp treo cổ cần kéo dài đến 15 phút
hoặc có thể lâu hơn. Những trường hợp được cứu chữa có thể gặp những di chứng
sau đây:
- Rối loạn thần kinh: liệt, khản cổ, mất tiếng, giảm trí nhớ, liệt cơ vòng.
Đau ở vùng cổ, có thể gặp các biến chứng như ho, khạc ra máu, viêm
phổi.
- Vết hằn màu trắng ở vùng cổ sát dưới cằm, tồn tại từ một vài tuần đến vài
tháng.

Cơ chế chết do treo cổ:
Năm 1250 tại Trung Quốc đã có tài liệu về chết treo cổ, sau này rất nhiều
nhà khoa học đi sâu nghiên cứu bản chất của chết treo, nổi bật nhất là Ambroise
Tardieu, Paul Brouazdel, Lacassague
(1843 – 1924) đặc biệt các nhà khoa học
Mina Minovic (1858 – 1933) và sau này là Fleichmann là những người đã tự treo
cổ để ghi lại những cảm giác trong giai đoạn đầu. Về cơ chế chết do treo cổ, người
ta thấy có một số yếu tố sau:

Chèn ép mạch máu vùng cổ: sức ép của vòng dây vào cổ sẽ ngăn cản sự
lưu thông của máu lên não, thực nghiệm của HoffmanBrouardel cho thấy:
- Sức ép khoảng 2 kg (4,4Lb) làm lấp tắc tĩnh mạch cảnh.
- 3,5kg làm lấp tắc động mạch cảnh.
- 15kg: lấp tắc khí phế quản.
- 30kg lấp tắc động mạch cột sống.

Do dây treo đè ép vào động mạch, tĩnh mạch cảnh ở một hoặc hai bên cổ
(đặc biệt ở vùng xoang cảnh) nên thường gây ra tình trạng bất tỉnh kéo dài khoảng
10 giây. tại thời điểm này, nếu tác nhân gây chèn ép được loại bỏ thì thời gian để
hồi tỉnh lại khoảng từ 10 đến 12 giây sau đó. Như vậy chỉ với trọng lượng của đầu
người (trung bình từ 4 – 4,5kg) thì khi tỳ ép lên dây treo cũng đủ làm lấp tắc động
mạch cảnh.

Động mạch cột sống cổ bị đè ép trực tiếp của dây treo nhưng phải chịu sức
kéo căng về một phía hoặc do động tác quay cổ nên cũng làm ảnh hưởng đến tuần
hoàn lên não.

Chèn ép đường thở
Qua phần trên cho thấy sự chèn ép vào đường thở không phải là yếu tố
quyết định gây tử vong cho nạn nhân vì trước đó sự chèn ép vào các mạch máu
vùng cổ đã gây ra những rối loạn ở não, hệ tuần hoàn và hô hấp. Ví dụ minh họa
cho giả thiết này đã được nhiều tài liệu y pháp nêu ra từ thế kỷ 19 về một nạn nhân
có khối u thanh quản đã được mở khí quản, bệnh nhân treo cổ tự tử nhưng vòng
dây thắt lại ở phía trên chỗ mở khí quản, đường thở không bị lấp tắc nhưng nạn
nhân vẫn bị chết.

Trường hợp vòng dây treo ở sát dưới cằm đường thở cũng không bị chèn ép
hoặc những trường hợp treo cổ tư thế nằm, ngồi... sức ép của vòng dây không đủ
lớn để gây chèn ép đường thở được nhưng trên thực tế nạn nhân vẫn tử vong dù
treo ở bất kỳ tư thế nào.

Phản xạ ức chế
Sức ép của dây treo vào vùng cổ gây kích thích xoang cảnh hoặc dây thần
kinh phế vị làm chậm nhịp tim và giảm huyết áp, kết hợp với sự chèn ép các mạch
máu vùng cổ làm cho lưu lượng máu tăng lên não càng ít đi làm nạn nhân tử vong
nhanh hơn. Khi sự kích thích vượt quá giới hạn hoặc trường hợp cơ thể có bệnh lý
tim mạch, hệ hô hấp, tình trạng say rượu, hoặc trạng thái hưng phấn... sẽ là những
yếu tố thuận lợi gây ngừng tim đột ngột. Những trường hợp này khám nghiệm tử
thi sẽ thấy các dấu hiệu của ngạt cơ học không rõ ràng mà nổi bật là tình trạng
xung huyết mạnh các phủ tạng. Cần phẫu tích tỷ mỉ theo đúng phương pháp để tìm
những tổn thương bệnh lý ở hệ thống tim mạch.
 
1.3. Giám định y pháp
1.3.1. Khám nghiệm hiện trường:

Giám định viên y pháp tham gia khám nghiệm hiện trường nhằm mục đích:
Chụp ảnh vị trí, tư thế nạn nhân: chụp ảnh vị trí, tư thế nạn nhân (nếu xác
còn trên đây) đồng thời quan sát, mô tả những đồ vật xung quanh nạn nhân, tìm tài
liệu liên quan đến sức khỏe của nạn nhân, thu giữ mẫu sinh phẩm của nạn nhân tại
hiện trường.
Kiểm tra dây treo: trường hợp xác đã được hạ xuống thì kiểm tra dây treo,
nút buộc, đo độ dài, đường kính, mô tả bề mặt dây treo, cấu trúc đặc biệt ở vòng
dây treo v.v....

Do là vật đè ép trực tiếp vào vùng cổ nên dây treo bao giờ cũng để lại đặc
điểm trên vết hằn vùng cổ nạn nhân, trên thực tế hay gặp dây treo là dây thừng,
dây điện, dây vải, dây thép, thắt lưng.... Cũng đã có những trường hợp trạc ba của
gốc cây, thành ghế tựa, khe cửa là những vật đè ép vào vùng cổ gây ngạt hay gặp ở
những nạn nhân say rượu hoặc sau chấn thương làm mất tri giác.

Những người treo cổ tự tử ở nơi bị giam giữ thường dùng mảnh khăn trải
giường, quần áo, hoặc tất để bện thành dây treo, hay gặp nhất là buộc hai đầu dây
vào chấn song cửa sổ hoặc cửa ra vào rồi tỳ cằm hoặc vùng cổ trước vào đây. Kiểu
treo này tạo nên dấu vết vùng cổ có hình chữ U (không có nút buộc).

Kiểm tra nút buộc: nút buộc đa dạng nhưng hay gặp nhất là nút buộc kiểu
thòng lọng (nút buộc di động) và nút buộc cố định. Khi tháo vòng dây khỏi cổ nạn
nhân phải giữ nguyên nút buộc bằng cách cắt dây ở một vị trí khác sau đó dùng
dây hoặc chỉ nối hai đầu đã cắt lại với nhau để gửi đi giám định tang vật. Cần chụp
ảnh hiện trạng ban đầu của tử thi như vết hằn vùng cổ, vị trí vết hoen tử thi, dấu
vết chấm chảy máu vùng mặt, vết nước dãi... và các thương tích (nếu có) để dùng
làm tài liệu so sánh với kết quả khám nghiệm tử thi ở giai đoạn sau.
Tư thế nạn nhân: trong một trường hợp chết treo cổ, tư thế của nạn nhân
được quyết định bởi hai yếu tố: vị trí nút buộc và độ cao của dây treo.

Vị trí nút buộc: tương ứng với nơi vết hằn mờ nhất trên vùng cổ nạn nhân.
• Nếu nút buộc ở trước cổ, đầu sẽ ngửa ra phía sau, có thể thấy một vài vết
sây sát da ở sát dưới cằm của nạn nhân tương ứng với vị trí của nút buộc.
• Nút buộc ở gáy, đầu nạn nhân sẽ cúi gập ra trước.
• Nút buộc ở một bên cổ: đầu nạn nhân sẽ ngả về bên đối diện.
Độ cao của dây treo: tùy thuộc khoảng cách giữa vòng dây treo với mặt đất
và chiều cao của nạn nhân hình thành nên một trong số những kiểu treo sau:
• Treo hoàn toàn: chân nạn nhân không chạm đất.
• Treo không hoàn toàn: chân hoặc một phần thân thể của nạn nhân chạm đất
và tạo ra những kiểu treo đứng, quỳ, ngồi. Cũng có những trường hợp nạn
nhân treo cổ ở tư thế nằm, đầu nâng cao lên vài chục cm.

1.3.2. Khám nghiệm tử thi
Khám nghiệm bên ngoài:

Vết hằn vùng cổ: hình thành do sự đè ép của dây treo vào vùng cổ, là một
trong những dấu hiệu quan trọng để xác định chết do treo cổ hay chẹn cổ, đặc
điểm của dây treo... do đó khi khám vết hằn vùng cổ cần lưu ý những đặc điểm
sau:
Vị trí: vết hằn thường ở phần cao nhất của cổ, có khi ở sát góc hàm dưới,
trường hợp treo tư thế nằm vết hằn có thể ở phần giữa hoặc phần thấp của cổ
nhưng rất hiếm gặp.
Hình dáng: hay gặp nhất là vết hằn có hình chữ V hoặc hình vợt, điểm thấp
nhất là nơi vết hằn rõ và sâu nhất. Cũng có thể vết hằn có hình chữ U hoặc không
có hình dáng rõ ràng nếu nạn nhân dùng dây treo to bản, mềm.
Chiều hướng: từ điểm thấp nhất, vết hằn chạy theo hướng chếch lên trên,
mờ dần hoặc mất hẳn ở điểm cao nhất. Rất hiếm khi vết hằn tạo thành vòng tròn
khép kín xung quanh cổ mà thường có phần hở, nơi đó tương ứng với vị trí nút
buộc.
Trường hợp dây cuốn nhiều vòng thì vết hằn sẽ có một hoặc nhiều vòng
tròn khép kín nằm ngang ở phần cao hoặc phần thấp và một vết hằn chạy chếch
lên trên, đôi khi gặp hai vết hằn chồng chéo lên nhau có thể từng đoạn rồi tách rời
nhau, phần da ở gần hai vết hằn có thể nhạt màu hoặc tím sẫm do nếp da bị kẹt
giữa hai vòng dây.
Màu sắc: lúc đầu vết hằn có màu tái nhợt và một bờ viền xung quanh có
màu đỏ tím do ứ máu ở phía trên và dưới vết hằn, sau đó một thời gian vết hằn khô
dần rồi chuyển màu tím sẫm hoặc đỏ tím.

Đặc điểm bề mặt: sự rõ nét của vết hằn phụ thuộc vào bản chất và bề mặt
của dây treo, thời gian trên dây treo, thời tiết, thể trạng, màu da và tư thế tử thi.
- Dây thừng thường tạo ra vết hằn có độ sâu, ranh giới rõ ràng, bề mặt vết
hằn có những vùng tụ máu xen kẽ với vùng da còn lành gợi lại hình ảnh dây treo.
- Dây treo to bản, mềm (quần áo, khăn trải giường...) thì vết hằn vùng cổ
mờ nhạt hoặc chỉ có một vài vết tụ máu nhỏ do da bị kẹt giữa các lớp vải bị kéo
căng.
- Thời gian trên dây treo lâu thì dù là dây treo to bản, mềm cũng vẫn tạo
nên vết hằn có hình ảnh rõ ràng, với dây nhỏ và cứng thì với thời gian trên dây
treo ngắn nhưng cũng để lại vết hằn vùng cổ cũng rất điển hình.
- Dùng dây thắt lưng để treo cổ sẽ có hai vết hằn nổi rõ chạy song song
tương ứng với bờ mép dây lưng, trường hợp ổ khóa dây lưng nằm trong vòng dây
thì có thể tạo nên các vết sây sát da, tụ máu do đặc điểm, cấu trúc của ổ khóa để lại
trên bề mặt vết hằn.
- Dây treo nhẵn thì bề mặt vết hằn tương đối đều nhau, dây treo thô ráp thì
vết hằn cũng mang những đặc điểm tương ứng.
- Thời tiết nóng ẩm hoặc hanh khô, lạnh là yếu tố quan trọng để làm cho
biến đổi của tử thi nói chung và của vết hằn nói riêng diễn ra nhanh hay chậm. Khi
thời tiết nóng ẩm hư thối tử thi đến sớm sẽ làm cho việc khám nghiệm rất khó
khăn đặc biệt là khám vết hằn vùng cổ.
- Thể trạng gầy hay béo cũng có ảnh hưởng đến hình ảnh vết hằn, ở người
béo vết hằn thường rõ và sâu hơn so với người gầy.
- Màu da ít nhiều cũng ảnh hưởng đến việc nhận định vết hằn vùng cổ, đặc
biệt trong trường hợp vết hằn không điển hình, dây treo to bản, mềm.
Sắc mặt nạn nhân: tùy thuộc sự chèn ép của dây treo vào mạch máu vùng
cổ nạn nhân.
- Trường hợp treo hoàn toàn: nút buộc ở sau gáy hoặc trước cổ, do các
mạch máu ở hai bên vùng cổ bị chèn ép hoàn toàn, mặt nạn nhân sẽ tái nhợt hoặc
trắng bệch, không có hình ảnh xung huyết hoặc các chấm chảy máu trên da, niêm
mạc mắt.
- Trường hợp treo không hoàn toàn và nút buộc ở một bên cổ: mặt nạn nhân
có mày đỏ tím, xung huyết và căng to do áp lực của dây treo vào vùng cổ không
đủ lớn để làm lấp tắc hoàn toàn động mạch cảnh mà chỉ làm tắc tĩnh mạch cảnh,
máu vẫn tiếp tục lên não nhưng đường về bị cản trở do đó xuất hiện các chấm
chảy máu dưới da, có khi ở ngay tại các lỗ chân lông hoặc mụn trứng cá. Những
chấm chảy máu nhỏ ở trên da mặt có thể lan xuống đến vết hằn vùng cổ nhưng
không gặp ở phía dưới vết hằn.
- Trong thực tế có thể gặp hiện tượng nhạt màu dần dần ở phần da phía trên
vết hằn do xác được hạ sớm sau đó đặt nằm ngửa, máu ở đầu mặt sẽ dồn xuống
vùng cổ, vai làm cho sắc mặt nạn nhân nhạt dần mặc dầu lúc đầu vẫn có màu đỏ
tím.

Nếu thời gian trên dây lâu trong nhiều giờ (ngoài 6h) thì sắc mặt nạn nhân
sẽ không thay đổi, kể cả khi đã đặt nạn nhân nằm ngửa sau khi hạ xác.
Vị trí của vết hoen tử thi: tùy thuộc vào thời gian trên dây và kiểu treo.
Nếu thời gian trên dây tương đối dài (6 – 12h hoặc hơn nữa) và tư thế treo hoàn
toàn hoặc treo đứng thì vị trí các vết hoen tử thi sẽ tập trung ở ngọn các chi, phần
bụng dưới.

Trường hợp treo không hoàn toàn ở tư thế ngồi, nửa nằm nửa ngồi, v.v...
vết hoen tử thi sẽ ở phần thấp của cơ thể. Trường hợp có thời gian trên dây ngắn
hoặc phát hiện sớm - hạ xuống để nằm thì hoen tử thi tập trung ở phần mặt sau thân thể như các trường hợp thông thường khác. Cần lưu ý mối liên quan giữa vị
trí vết hoen tử thi, nút buộc vùng cổ và thời gian trên dây treo.

Dấu hiệu lưỡi thè ra ngoài: thường gặp trong các trường hợp dây treo đè ép
mạnh vào vùng cổ, nâng cuống lưỡi trượt trên niêm mạc thành sau họng và đẩy ra
ngoài, phần đầu lưỡi thè ra ngoài thường có màu nâu đen hoặc tím đen do mất
nước và tiếp xúc với không khí.
Những trường hợp tử vong không do treo cổ khi hư thối đã hình thành cũng
có dấu hiệu lưỡi thè do sự căng hơi trong bụng ngực và trong tổ chức phần mềm
vùng cổ nên đẩy lưỡi ra ngoài.

Dấu hiệu chảy nước dãi: tác động của dây treo có thể gây kích thích hoặc
đè ép vào tuyến nước bọt mang tai và dưới hàm làm chảy nước dãi, dấu vết của
nước dãi ở vùng cằm, cổ hoặc ngực áo cho phép nhận định về vị trí tư tế ban đầu
của nạn nhân.

Thương tích: có thể gặp các vết sây sát da, bầm tụ máu ở những phần lồi
của cơ thể do nạn nhân giãy dụa, co giật bị va chạm với các đồ vật tại hiện trường,
một số trường hợp nạn nhân đã thực hiện hành vi tự tử bằng các phương thức khác
như tự gây thương tích, uống chất độc v.v... nhưng không chết, cuối cùng mới
quyết định treo cổ tự tử, do vậy trong khi giám định pháp y, nếu gặp những thương
tích trên thân thể nạn nhân thì việc lý giải có chế tác động, đặc điểm của vật gây
thương tích, thời gian hình thành thương tích phải được làm sáng tỏ trước khi tiến
hành các bước tiếp theo.

Khám nghiệm bên trong:
Tùy thuộc vào thể trạng của nạn nhân, kiểu treo, dây treo, vị trí nút buộc ở
vùng cổ nạn nhân mà ở từng trường hợp sẽ có những tổn thương khác nhau.

Những trường hợp chết treo cổ điển hình có thể gặp những tổn thương sau:

Tại vùng cổ: đáy rãnh hằn thường mờ nhạt, màu trắng bóng, rõ nhất ở nơi
đối diện với vị trí của nút buộc do tổ chức liên kết dưới da bị đè ép mạnh.
Bầm tụ máu trong cơ có thể gặp ở cơ ức đòn chũm, cơ ức móng, giáp
móng, một số trường hợp có chảy máu ở chân bám của các cơ bả vai, cơ ngực,
hoặc cơ liên đốt sống vùng cổ - ngực do trọng lượng cơ thể kéo xuống trong khi cổ
bị chẹt trong vòng dây treo. Cần phẫu tích theo từng lớp giải phẫu để tìm dấu hiệu
này. Dập vỡ sụn giáp, sụn khí quản hoặc gẫy xương móng là những tổn thương
có thể gặp trong các trường hợp treo cổ. Gẫy xương móng được nhiều tác giả cho
là một trong những dấu hiệu đặc trưng của chết treo nhưng tỷ lệ không lớn. Thống
kê của Vũ Văn Dương (1999) cho thấy tỷ lệ gẫy xương móng trong các trường
hợp chết treo cổ ở Việt Nam là 10,5%, tỷ lệ này theo G.Feigin là 9% chủ yếu theo
cơ chế đè ép trực tiếp lên xương móng, hay gặp ở người cao tuổi khi xương đã
nhiễm calci, giòn và dễ gẫy.

Dấu hiệu chảy máu dưới niêm mạc vùng hầu họng, đặc biệt ở các dây
chằng, cơ vùng sàn miệng và cuống lưỡi kèm tụ máu thành sau họng là dấu hiệu
thường gặp trong những trường hợp chết treo cổ, do tác động gián tiếp của dây
treo gây ra.

Những vết nứt nhỏ, chạy ngang ở lớp áo trong của động mạch cảnh cùng
với những vùng tụ máu ở tổ chức xung quanh động mạch cảnh (dấu hiệu Amussat)
hay gặp ở những trường hợp có sự kéo căng các cơ, các dây chằng, mạch máu ở
vùng cổ do cơ thể bị dây treo kéo giật đột ngột khi đang rơi tự do và tim vẫn còn
đang hoạt động. Nhiều tác giả cho rằng dấu hiệu này rất có giá trị để chẩn đoán tử
vong do treo cổ.

Một số trường hợp có thể gặp dấu hiệu chảy máu trong các hạch bạch
huyết, trong tai giữa, các xoang vùng hàm mặt, v.v.... Tuy nhiên những dấu hiệu
này không đặc trưng cho chết do treo cổ mà cũng có thể gặp trong các trường hợp
có nguyên nhân tử vong khác.

Tổn thương đốt sống cổ hay gặp trong những trường hợp nạn nhân treo cổ
lao xuống từ cao hoặc trong treo cổ hành hình (Judicial – hanging), gây ra những
tổn thương rất nặng ở vùng cổ như dập vỡ sụn giáp, gẫy xương móng, dập nát các
cơ vùng cổ, dập vỡ sụn khí quản, trật gẫy hoặc tách rời thân các đốt sống số 2,3,4
làm nạn nhân bị mê man bất tỉnh ngay sau khi bị dây treo tác động mạnh, đột ngột
vào vùng cổ - tim có thể vẫn còn tiếp tục dập thêm từ 10 đến 20 phút nữa.

Phẫu tích vùng cổ: để việc đánh giá tổn thương vùng cổ được thuận lợi và
tránh được những sai lầm đáng tiếc, Gradwohle và F.E Camps đã nêu ra phương
pháp phẫu tích vùng cổ trong những trường hợp tử vong do ngạt cơ học theo các
bước sau:
• Mổ khám nghiệm vùng đầu trước, sau đó khám nghiệm vùng ngực, bụng.
• Để cho máu trong cơ thể chảy hết ra ngoài.
• Phẫu tích vùng cổ theo từng lớp giải phẫu.
Tại các vùng khác: cần lưu ý mô tả, đánh giá mức độ xung huyết, phù phổi
hay xẹp phổi, đặc biệt là dấu hiệu chấm chảy máu nhỏ (dấu hiệu Tardieu) ở màng
tim, màng phổi, mạc treo, ruột, dấu hiệu hoen tử thi tập trung ở vùng bụng dưới,
dấu hiệu máu hóa lỏng và số lượng, đặc điểm của chất chứa dạ dày.
Một số trường hợp có thể phát hiện những bệnh lý ung thư, tim mạch hoặc
bệnh mạn tính, v.v... là những bằng chứng có giá trị để đánh giá bản chất của vụ
việc.

Ở một số nạn nhân có thể gặp các tổn thương gẫy xương sườn tụ máu da
đầu v.v... cần đánh giá tổn thương đó hình thành trước chết hay sau chết, do vật gì
tác động, chiều hướng của lực tác động, có khả năng gây tử vong hoặc tự nạn nhân
có thể gây ra được thương tích đó không ? Cần phân biệt thương tích hình thành
trong khi hồi sức cấp cứu.
Xét nghiệm bổ sung:
• Xét nghiệm mô bệnh học: rất quan trọng để xác định tổn thương xảy ra khi
còn sống, những vùng nghi ngờ tổn thương hoặc bệnh lý ở các tạng.
• Xét nghiệm độc học: trường hợp có nghi ngờ liên quan đến độc chất hoặc
do tính chất phức tạp của vụ việc.
• Xét nghiệm rượu trong máu.
• Xét nghiệm sinh vật học (lông, tóc, móng, vết tinh dịch) nếu tìm thấy ở
người, hiện trường và trong trường hợp nghi ngờ có tội phạm tình dục kèm
theo.
 
Tóm tắt hộ cái.
Đọc hết hoặc là lướt qua :) bài này viết dựa trên kiến thức chuyên ngành chứ có phải truyện sáng tác đâu mà tóm, tóm tắt thì lại không đủ ý và gây hiểu lầm!
 
Ý là mày nhận định vụ quân nhân tự tử như thế nào?
Không thấy dòng chữ vàng t để trên đầu bài à? T chỉ đưa ra kiến thức khách quan thôi, nói sâu hơn thì e là nhiều thằng lại vào đọc không hết rồi gây lộn.
Giang cư mận như mình kể cả có kiến thức hay gì đi nữa cũng không trực tiếp nhìn thấy hay kiểm nghiệm tử thi -> không thể nói bừa được!
Tham gia điều tra là cơ quan 4 bên nên cứ tin tưởng chờ xem kết luận cuối cùng, vì giờ người nhà cũng đồng ý không livestream, bình tĩnh chờ kết quả cùng chính quyền rồi
 
Tóm lại như sau :
Về cơ bản, các dấu hiệu bất thường cho thấy quân nhân T Đ Đô thiệt mạng không phải vì treo cổ như báo cáo của đơn vị.
 
Chết do treo cổ tự tử nhìn sợ lắm, lưỡi thè ra xong mắt lòi ra í, đấy là nghe lỏm ngoài quán nước người ta nói chuyện với nhau vậy, chứ tao mà nhìn thấy chắc ngất cmnr
 
Tóm lại như sau :
Về cơ bản, các dấu hiệu bất thường cho thấy quân nhân T Đ Đô thiệt mạng không phải vì treo cổ như báo cáo của đơn vị.
T không muốn nhắc đến vì giờ cũng sắp có kết luận cuối cùng rồi, và nếu mày thật sự đọc kỹ bài viết và khách quan suy ngẫm thì sẽ thấy các dấu hiệu trên người em ấy và thông tin ban đầu mất do treo cổ có sự khớp với nhau! Dưới góc nhìn giải giẫu pháp y thì mọi thứ đều phải có căn cứ chứ người ta cũng không thể dễ dàng khám nghiệm rồi đưa ra kết quả sai lệch đâu
 
Sửa lần cuối:
Đọc thì thấy vẫn có khả năng chết do tự tử
Nhưng thông tin quá muộn + niềm tin chính quyền ko cao + các bên pháp y đều là ng nhà nước, ko tam quyền phân lập —-> có làm đúng dân vẫn ko tin
 

Có thể bạn quan tâm

Top