Huyền sử vua Hùng Vương, có phải là Sở vương?

Về Ân Vương ko hẵn là vua nhà ân mà có thể là 1 vương xứ nào đó thời nhà Ân.
Trong lĩnh nam chích quái còn có chuyện khác là Giếng tiên, chép về Ân Vương.
Lĩnh nam chích quái là loại truyện thần ma giống như truyện truyền Kỳ đời đường truyện thần ma nguyên minh hay liêu trai của bồ tùng linh vậy
Nó chỉ là truyện ký do tác giả bịa đặt sáng tạo ra
Không ai dùng nó làm sử liệu cả
 

Tác giả ng Việt dưới cái tên Charles Paine thì cho rằng:
  1. Văn minh phương Nam đi trước: Nền văn minh lúa nước ở phía Nam (như văn hóa Lương Chử) phát triển rực rỡ, độc lập và có tổ chức nhà nước sớm hơn văn minh lưu vực sông Hoàng Hà (phương Bắc) cả thiên niên kỷ.
  2. Ký ức về đại hồng thủy: Một biến cố khí hậu khắc nghiệt (lũ lụt) khoảng năm 2300 TCN đã tàn phá nền văn minh phương Nam, buộc cư dân phải di tản để bảo tồn nòi giống.
  3. Huyền thoại là "bộ nhớ cộng đồng": Dưới góc nhìn hiện tượng học, huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ không phải chuyện cổ tích viển vông, mà là cơ chế mã hóa, lưu trữ ký ức và kinh nghiệm lịch sử của dân tộc.
  4. Thông điệp "Bọc trăm trứng": Biểu tượng này mang ý nghĩa chống tuyệt diệt, khẳng định khả năng tái sinh của cộng đồng: dẫu phải phân tán khắp nơi nhưng không bao giờ tan rã vì chung một cội nguồn.
  5. Chiến lược sinh tồn 50/50: Việc chia 50 con lên núi, 50 con xuống biển là một "thuật toán" phân tán rủi ro thông minh, giúp mở rộng không gian sống và tăng cơ hội sống sót trước các thảm họa thiên nhiên.
  6. Giải thực dân hóa lịch sử: Cần bác bỏ việc gán ghép Kinh Dương Vương vào phả hệ Thần Nông (Trung Quốc), qua đó khẳng định sự tồn tại độc lập và tự chủ của nền văn minh Văn Lang.
  7. Bản sắc văn hóa sông nước: Hệ thống biểu tượng Rồng - Tiên phản ánh đúng đặc trưng sinh thái nội sinh của người Việt: gắn liền với lúa nước, mạng lưới sông ngòi và công cuộc trị thủy, hoàn toàn khác với nông nghiệp lục địa khô hạn.
  8. Chuyển hóa thành quyền lực nhà nước: Sự xuất hiện của trống đồng Đông Sơn và thành Cổ Loa là minh chứng vật chất cho thấy ký ức di cư sinh tồn đã phát triển và kết tinh thành một nhà nước bản địa có tổ chức, kỹ thuật cao.
Những thứ lol ngáo đá này nếu Vịt nàm là cường quốc, đè đầu thiên hạ, hắt hơi sổ mũi có thằng đái ra quần thì, lấy đó làm chuyện trà dư tửu hậu được. Chứ toàn bọn vẩu móm, chân đất mắt toét, chuyên đi làm culi cửu vạn đĩ điếm khắp thế giới nói ra bị chúng nó chửi thêm.
Lộc Tục, Đế Ngao, Hùng King... cccg toàn những thứ mấy thằng hủ nho trong đêm say rượu viết bừa ra. Coi như vậy đi cho nhẹ nợ!!
 
Câu chuyện này trích từ đâu?
từ tống tự Cổ-Ái Đông-Sơn Lê-Tắc Biên
Tống Tự

Từ xưa nước An-Nam thông giao với Trung-Quốc, thời vua Chuyên-Húc, phía bắc đi tới U-Lăng,
phía nam đi tới Giao-Chỉ. Vua Đế-Nghiêu sai Hy Hoà qua ở đất Nam-Giao, vua Thuấn sai Vũ qua Nam
yên-vỗ Giao-Chỉ. Qua đời Chu-Thành-Vương (1115-1079 trước công nguyên), họ Việt-Thường qua chín
lần thông-ngôn, tới cống-hiến mà nói rằng: "Trời không có gió bảo, không mưa dầm, ngoài biển không
nổi sóng dữ đã ba năm nay, có lẽ ở Trung-Quốc có đấng thánh-nhân trị-vì, sao chẳng tới chầu?". Lúc bấy
giờ, Chu-Công đặt bài ca, đánh đàn thuật chuyện họ Việt-Thường tới chầu: "Ô hi ta ta! Phi Đán chi lực,
Văn-Vương chi đức", nghĩa là: ôi ôi! vui thay, cảnh-tượng thái-bình không phải nhờ sức của Đán (tên của

Chu-Công) mà là nhờ đức của vua Văn-Vương. Nước Việt-Thường, tức đất Cửa-Châu, ở phía nam Giao-Chỉ

Quyển Hán-Quan-Nghi của Ứng-Thiện chép rằng: "trước tiên Trung-Quốc mở mang từ "sóc"
(phương bắc), rồi sau tiến sang phương nam lấy làm "cơ chỉ". Hiện nay, các sách viết chữ "chỉ"
_____(cái nền) là viết sai.
Nhà Tần (246-207 trước công nguyên) lấy Giao Chỉ làm Tượng-Quận; đến khi nhà Tần loạn thì

Đô-uý quận Nam-hải là Triệu-Đà nổi binh đánh lấy hết các quận quốc, rồi tự lập làm vua. Khi ấy, Hán-
Cao-Tổ sai Lục-Giả qua lập Đà làm Việt-Vương. Sau khi Cao-Tổ băng, Cao-Hậu cấm Nam-Việt mua đồ sắt

của Trung-Quốc, Đà tiếm hiệu xưng đế, rồi phát quân đi đánh Trường-Sa. Văn-đế lại sai người đưa thư
qua trách Đà. Đà có ý sợ, bèn bỏ hiệu đế, nguyện làm tôi và cống hiến phẩm vật.
Năm Kiến-Nguyên thứ 3, (vua Võ-đế, 142 trước công nguyên) Đà mất, con cháu họ Triệu truyền
xuống bốn đời, kể được hơn chín mươi năm.
Võ-đế sai Chung-Quân đi sứ qua Nam-Việt để dụ vua Việt tên là Hưng vào chầu, Hưng muốn đi,
nhưng bị tướng Lữ-Gia can ngăn, vua không nghe, Gia làm phản, nổi binh đánh giết vua và cả sứ-gả nhà
Hán, lập Kiến-Đức là anh khác mẹ lên làm vua Nam-Việt.
Năm Nguyên-Đinh thứ 5 (112 trước công nguyên), Vệ-Uý là Lộ-Bác-Đức xuất mười vạn quân qua

đánh Nam-Việt, năm thứ sáu, mới đánh bại người Việt, lấy đất đó chia làm các quận: Nam-Hải, Thương-
Ngô, Uất-Lâm, Hợp-Phố, Giao-Chỉ, Cửu-Chân, Nhật-Nam, Châu-Nhai và Đam-Nhỉ, mỗi quận đặt Thái-thú

để cai trị.

Qua nguyên-niên Sơ-nguyên của Nguyễn-Đế (48-33 trước công nguyên), bãi bỏ hai quận Châu-
Nhai và Đam-Nhỉ, còn lại bảy quận, kể cả Giao-Chỉ. Khi đầu, Giả-Quyên-Chi tâu rằng: Châu-Nhai, Đam

Nhỉ, đều ở hải ngoại; xứ ấy thường cậy thế hiểm trở mà làm phản, đến lúc dụng binh tới dẹp, thì chỉ có
miếng đất vô dụng mà thôi, nếu bỏ đi cũng không đáng tiếc. Vua Hán bèn hạ lời chiếu bãi bỏ.
Nhan-Sư-Cổ nói: bảy quận đều thuộc về Giao-Châu, theo chế độ nhà Hán, các quận thuộc châu,
nên đặt Thứ-sử Giao-Châu để cai-trị chung.
Năm Kiến-Võ thứ 16 (40 sau công nguyên), đời vua Hán Quang-Võ, có người đàn bà Giao-Chỉ
tên là Trưng-Trắc làm phản, năm thứ 19 (43), sai Mã-Viện qua đánh dẹp yên, rồi dựng trụ đồng để làm
giới hạn nhà Hán.

Năm Kiến-An thứ 15 (210), Hiến-Đế dời chỗ cai trị qua quận Nam-Hải.

Vương-Phạm nói: chỗ quận trị của quan Thứ-sử ở đất Giao-Châu, cuối đời Hán, đổi qua Nam-
Hải, khi Tôn-Quyền mới được ấn mạng của nước Nguỵ, cũng cầm cờ mao tiết làm tổng-đốc Giao-Châu và

kiêm lĩnh Kinh-Châu. Tôn-Tư làm Giao-Chỉ Thái-thú quá tham bạo, bị quận lại Lữ-Hưng giết, các quận
Cửu-Chân và Nhật-Nam đều phản, và hàng nhà Tấn.

Tôn-Quyền thấy Giao-Chỉ ở xa, bèn chia Giao-Châu đặt Quảng-Châu và dời quận trị của Giao-
Châu qua Long-Biên.

Nguyên niên Kiến-Hoành (269), vua nước Ngô là Tôn-Hạo sai các tướng là Tiết-Hủ, Đào-Hoàng
qua thu phục Giao-Chỉ, giết các tướng do nhà Tấn đặt ra, như vậy đất Cửu-Chân lại thuộc về Ngô. Đến
lúc nước Ngô mất, Giao-Châu trở về nhà Tấn, trải qua các triều: Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ, Đường đều
để y như cũ, chỉ cải tên Cửu-Chân làm Ái-Châu, Nhật-Nam làm Hoan-Châu, đều thiết Thứ-Sử, hoặc đặt
Giao-Châu tổng-quản hoặc An-Nam đô-đốc để thống trị. Qua đời Đờng mới chia Lĩnh-Nam làm đông tây
đạo, đều đặt Tiết Độ-Sứ, lại đặt ra năm quận: Quế, Quản, Ung, Dung và An-nam, đều thống thuộc
Đông-đạo, về phận Tây-đạo, thì đặt An-nam đô-hộ kiêm cả ngũ quản. Kinh-Lược-Chiêu-Thảo-Sứ là

Trương-Bá-Nghi đắp La-Thành tại An-nam, công trình chưa xong, đến năm Nguyên-Hoà thứ 3 (808), đô-
hộ là Trương-Chu đắp tiếp thêm mới hoàn công. Lâm-Tư nói rằng: La-Thành chu-vi 2000 bước, tốn hết

25 vạn công.
Đến đời vua Tuyên-Tông, niên hiệu Đại-Trung (847-859) có viên đô-hộ cai trị không được đứng
đắn, đãi dân bằng lối bạo ngược, họ bèn liên-kết với rợ Nam-Chiếu, trở lại đánh phủ An-nam, cuộc rối
loạn chém giết kéo dài luôn mấy năm không thôi. Năm Hàm-Thông thứ 3 của vua Y-Tông, (682), nước
Nam-Chiếu đánh hãm La-Thành; viên Kính-Lược-Sử Thái-Tập bị chết, vua sai Cao-Biền làm chức đô-hộ,
đem quân đánh khôi phục phủ thành, chém tướng mọi là Đoàn-Tù-Thiên và bọn quân mọi hơn 30.000

cái đầu; rồi tu bổ La-Thành lại, cải xưng đô-hộ-phủ Tịnh-Hải-Quân. Biền được trao cho làm chức Tiết-Độ-
Sứ.

Kịp dời Ngũ-Đại, các người thố hào ở các Châu Giao, Ái là Khúc-Hạo, Dương-Diên-Nghệ, Kiều-
Công-Tiện, v.v... thay nhau dùng võ lực cướp quyền.

Tướng cũ của Nghệ là Ngô-Quyền bèn giết Công-Tiện mà tự lập làm vua, truyền được vài đời,
đến khi Ngô-Xương-Văn chết, thì có bộ thuộc là Ngô-Bình (tức Lữ-Xữ-Bình), dành làm vua; Đinh-Bộ-Lĩnh
giết Ngô-Bình, lãnh nước Giao-Chỉ, tự xưng là Vạn-Thắng-Vương, lại tự ý cho con Liễn làm Tiết-Độ-Sứ.
Đầu nhà Tống, Liễn khiến Sứ nhập cống, Thái-tổ phong Bộ-Lĩnh làm Giao-chỉ Quận-Vương và hạ

chiếu cho Liễn làm Tiết-Độ-Sứ An-nam đô-hộ. Sau Liễn và cha đều mất, em là Triền kế lập thì bị Thái-
Hiệu Lê-Hoàn phế bỏ và cướp ngôi. Lê-Hoàn giả làm tờ biểu dâng vua nhà Tống, nói rằng:

Triền khiến Hoàn thay làm vua. Thái-Tông nhà Tống bèn phong Hoàn làm vua. Nhà Lê truyền
được ba đời, cộng ba mươi năm, bị Lý-Công-Uẩn cướp ngôi. Vua Chân-Tông lại phong Công-Uẩn làm
Giao-Chỉ Quận-Vương.
Năm Long-Hưng thứ 2 của Hiếu-Tông (1164), Lý-Thiên-Tộ sai sứ nhập cống, được vua Tống
phong làm An-nam quốc-vương, tên nớc An-nam bắt đầu từ đó.
 
Sứ giả Việt Thường đi xe ngựa kéo Chu Công Đán nhà Chu tặng đi từ kinh đô Cảo Kinh (Tây An, tỉnh Thiểm Tây ngày nay) về nhà hết 1 năm thì bét nhất cũng phải ở miền Trung VN ngày nay. Voi trong núi Nghệ An vẫn có
Chứ thằng nào bảo Việt Thường là Việt Chiết Giang hay Vân Nam, Quảng Tây là xạo Lồn. Vừa đi vừa thả giống sinh con thì mới 1 năm mới về đến nơi
 
Top