club_libertad
Xamer mới lớn

Lời mở đầu
Trước hết cần phân biệt rõ một số khái niệm: bảo vệ môi trường, vận động bảo vệ môi trường, và chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường, đúng như nghĩa đen của nó, là bảo vệ cho môi trường. Từ khi có văn minh nhân loại, con người đã hiểu cần phải bảo vệ môi trường; nó không có bất kỳ quan hệ với hình thái ý thức chính trị nào cả.
Vận động bảo vệ môi trường là hoạt động chính trị xã hội nhắm vào các vấn đề về môi trường. Mục tiêu chính của nó là thông qua các cuộc vận động quần chúng trên diện rộng, kích động chính trị, và dưới ảnh hưởng của truyền thông để thay đổi chính sách, thay đổi tâm lý và hành vi, tập quán của quần chúng đối với môi trường. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường là một loại hình thái ý thức chính trị và tư tưởng triết học nhấn mạnh vào việc bảo vệ môi trường và sự chung sống hài hòa giữa xã hội nhân loại và hệ sinh thái tự nhiên. Động cơ đằng sau việc bảo vệ môi trường và chủ nghĩa bảo vệ môi trường không giống với chủ nghĩa ********, nhưng chủ nghĩa ******** vốn giỏi lợi dụng và thao túng các cuộc vận động quần chúng để đạt được mục đích của nó. Vì thế, ban đầu, khi chủ nghĩa bảo vệ môi trường hiện đại xuất hiện, chủ nghĩa ******** đã tính toán một cách có hệ thống để lợi dụng phong trào này.
Những vấn đề xung quanh chủ nghĩa bảo vệ môi trường ngày nay cực kỳ phức tạp. Cuộc vận động này đã lợi dụng những mỹ từ động đến cảm xúc của con người, lợi dụng những nguyện vọng tốt đẹp muốn bảo vệ môi trường để tạo ra một cuộc vận động chính trị toàn cầu. Nhiều người tham gia không chỉ là người có thiện chí, có tinh thần chính nghĩa, mà còn thực sự quan tâm đến tiền đồ vận mệnh của nhân loại.
Tuy nhiên, nhiều người không nhận ra những người ******** đã lợi dụng chủ nghĩa bảo vệ môi trường, lấy danh nghĩa đạo đức cao cả của việc bảo vệ môi trường mà thúc đẩy âm mưu của họ. Đây là chỗ mà bảo vệ môi trường bị chính trị hóa cao độ, bị biến thành cực đoan, thậm chí bị biến thành một thứ ngụy tôn giáo mà không có nền tảng đạo đức truyền thống. Những tuyên truyền lệch lạc và các thủ đoạn chính trị mang tính cưỡng chế đã chiếm thế chủ đạo, biến chủ nghĩa bảo vệ môi trường thành một dạng chủ nghĩa ********.
1. Nguồn gốc ******** của chủ nghĩa bảo vệ môi trường
Vì mục tiêu cuối cùng là hủy diệt nhân loại, chủ nghĩa ******** đã chuẩn bị kỹ lưỡng về rất nhiều phương diện. Chủ nghĩa ******** khởi phát từ Châu Âu, rồi lại phát động cách mạng bạo lực để giành chính quyền tại hai cường quốc ở phương Đông – là Nga và Trung Quốc, tiếp đến là sự đối đầu trong thời gian dài của khối ******** và xã hội phương Tây trong Chiến tranh Lạnh. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và khối ******** Đông Âu, phe ******** lại gieo cấy các nhân tố của nó vào cả xã hội phương Đông lẫn phương Tây, mưu đồ kiến lập một chính phủ toàn cầu được kiểm soát và khống chế nghiêm ngặt.
Để đạt mục tiêu này, chủ nghĩa ******** phải tạo ra hoặc lợi dụng một “kẻ địch” đủ để uy hiếp toàn nhân loại và đe dọa công chúng trên thế giới từ bỏ quyền tự do cá nhân và chủ quyền quốc gia. Dấy lên nỗi hoang mang về thảm họa sinh thái và môi trường mang tính toàn cầu có thể nói là lựa chọn tất yếu của nó để đạt được mục tiêu này.
1.1 Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa bảo vệ môi trường
Sự hình thành và phát triển của phong trào bảo vệ môi trường có liên quan mật thiết với chủ nghĩa ********. Cụ thể, sự phát triển của nó đã trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là thời kỳ ấp ủ lý luận, có thể tính từ khi Karl Marx và Friedrich Engels công bố “Tuyên ngôn ********” (Communist Manifesto) vào năm 1848 cho đến Ngày Trái đất đầu tiên vào năm 1970.
Tại thời điểm bắt đầu của giai đoạn này, Marx và các môn đồ của ông ta không coi chủ nghĩa bảo vệ môi trường là trọng điểm lý luận của mình, nhưng bản thân quan điểm của chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa duy vật của Marx lại rất phù hợp với khuynh hướng chính của chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Marx tuyên bố chủ nghĩa tư bản là đối nghịch với tự nhiên (tức môi trường). Các môn đồ của Marx đã tạo ra cụm từ “hệ sinh thái” (ecosystem) và âm thầm đưa chủ nghĩa bảo vệ môi trường vào một số môn học để ươm cho nó nảy nở. Trong 10 năm cuối của giai đoạn này, từ năm 1960 đến 1970, hai cuốn sách bán chạy nhất là “Mùa xuân tĩnh lặng” (Silent Spring, 1962) và “Bùng nổ dân số” (Population Bomb, 1968) đã xuất hiện ở Mỹ. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường đã bước lên vũ đài của công chúng dưới cái lốt “bảo vệ môi trường” như thế.
Cột mốc mở đầu giai đoạn thứ hai là Ngày Trái đất đầu tiên được tổ chức vào năm 1970, không lâu sau đó, vào năm 1972, Liên Hợp Quốc lại tổ chức Hội nghị Môi trường của Con người (U.N. Conference on the Human Environment) ở Stockholm. Các tổ chức khác nhanh chóng được thành lập trong giai đoạn này, các hoạt động cũng tăng lên. Ở Mỹ và Châu Âu, họ gây sức ép với chính phủ bằng tuyên truyền, biểu tình, và vận động dưới cái lốt nghiên cứu khoa học, xây dựng quy định pháp luật, hội nghị v.v..
Ở tầng vĩ mô, phong trào phản văn hóa những năm 1960 có thể nói là cuộc diễu binh của các nhân tố ******** ở phương Tây. Những phong trào này lấy danh nghĩa phong trào dân quyền, phong trào hòa bình phản chiến để leo lên vũ đài xã hội và chính trị, rồi lại nhanh chóng tràn sang các hình thức chiến đấu chống chủ nghĩa tư bản như phong trào nữ quyền và phong trào đồng tính luyến ái, v.v..
Sau những năm 1970, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam thoái trào, tư tưởng ******** bắt đầu quá trình tiến vào trong thể chế, gọi là “cuộc trường chinh xuyên thể chế” (long march through the institutions), đồng thời tràn sang chủ nghĩa nữ quyền và chủ nghĩa bảo vệ môi trường — Đây là nguyên nhân gốc rễ thúc đẩy mạnh mẽ hình thái ý thức của chủ nghĩa bảo vệ môi trường.
Một trong những lực lượng quan trọng nhất đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa bảo vệ môi trường trong những năm 1970 là những người hippie, những người đóng vai trò chủ lực trong phong trào phản văn hóa. Trên thực tế, chủ nghĩa ******** đang trong quá trình chuẩn bị, dùng ngọn cờ chủ nghĩa bảo vệ môi trường làm vỏ bọc cho bản thân sau khi thất thế trong Chiến tranh Lạnh, với ý đồ dấy lên một cao trào chủ nghĩa ******** toàn cầu dưới bất kỳ danh nghĩa nào khác.
Giai đoạn thứ ba bắt đầu trước thềm kết thúc Chiến tranh Lạnh. Năm 1988, Liên Hợp Quốc thành lập Hội đồng Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change, gọi tắt là IPCC), khái niệm “nóng lên toàn cầu” bắt đầu xuất hiện trong lĩnh vực chính trị. Năm 1990, khi Liên Xô sắp sụp đổ, một hội nghị môi trường quốc tế đã được tổ chức tại Moscow. Trong một bài phát biểu, tổng bí thư Đảng ******** Nga Mikhail Gorbachev đã đề xuất thiết lập một hệ thống giám sát môi trường quốc tế, ký một hiệp ước để bảo vệ các “đặc khu môi trường” (unique environmental zones), thể hiện sự ủng hộ các chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc, và kêu gọi tổ chức hội nghị tiếp theo (hội nghị này đã diễn ra tại Brazil vào tháng 6 năm 1992).
Hầu hết các nhà bảo vệ môi trường phương Tây đều chấp nhận những đề nghị này, và tại giai đoạn này, đã coi nóng lên toàn cầu là mối đe dọa lớn đối với nhân loại. Những tuyên truyền lấy bảo vệ môi trường làm cái cớ để ra những chính sách nặng tay đột nhiên xuất hiện ồ ạt, luật và các quy định về môi trường tăng vọt cả về số lượng lẫn phạm vi áp dụng. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường nổi lên như một lực lượng trên vũ đài quốc tế, bắt đầu mang màu sắc ******** ngày một rõ nét.
1.2 Chủ nghĩa bảo vệ môi trường và chủ nghĩa Marx có chung nguồn gốc
Những người theo tôn giáo chính thống ở cả Đông phương lẫn Tây phương đều nhìn nhận rằng con người là do Thần phỏng theo hình tượng của Thần mà tạo ra, sinh mệnh của con người cũng vì thế mà có giá trị và sự tôn nghiêm cao hơn các sinh mệnh khác trên địa cầu. Tương tự, môi trường tự nhiên cũng là do Thần sáng tạo ra. Con người có nghĩa vụ bảo vệ thiên nhiên, vốn tồn tại để phục vụ con người, chứ không phải là ngược lại.
Nhưng trong mắt của những người vô thần và người duy vật, sinh mệnh của con người tuyệt không có gì đặc biệt. Engels viết trong một bài tiểu luận rằng “Sự sống là hình thức tồn tại của các thể albumin [tức là protein].” Nếu như vậy, sự sống của con người chẳng qua chỉ là một loại hình thức tồn tại của một tập hợp các loại protein, không có bất cứ sự khác biệt nào với động vật và thực vật. Vì thế mà việc con người có thể bị tước đoạt tự do, thậm chí cả sinh mệnh trở nên có logic dưới danh nghĩa bảo vệ tự nhiên.
Năm 1862, Justus von Liebig, nhà hóa học người Đức, cũng là đồng sự của Marx, trong một cuốn sách về hóa học hữu cơ, đã công kích việc nông dân Anh dùng phân chim làm phân bón. Nông nghiệp Anh vốn được hưởng lợi từ phân chim, một loại phân bón hiệu quả cao, làm tăng mạnh sản lượng canh tác. Đến giữa thế kỷ 19, thực phẩm của người Anh đã rất dồi dào, có chất lượng rất cao. Việc buôn bán phân chim làm lợi cho thương nhân các nước, nông dân Anh, cũng như người dân Anh.
Vậy tại sao Liebig muốn lên án thói quen sử dụng phân chim này? Ông ta nói rằng, thứ nhất, quá trình thu gom phân chim sẽ phá hoại môi trường tự nhiên; thứ hai, thương nhân bóc lột công nhân với mức lương thấp; thứ ba, sản lượng lương thực cao sẽ kích thích tăng trưởng dân số, đổi lại, lại dẫn đến cần nhiều lương thực hơn, vượt quá khả năng cung cấp lương thực của tự nhiên; thứ tư, người và gia súc càng nhiều thì phân và rác thải cũng càng nhiều lên.
Khi đang viết “Tư bản luận” (Das Kapital), Marx đã nghiền ngẫm rất kỹ tác phẩm của Liebig. Ông ta tán thưởng Liebig đã “từ góc độ khoa học tự nhiên mà đưa ra mặt trái, tức là tính phá hoại của nông nghiệp hiện đại” [9] Cũng như Liebig, Marx coi bất kỳ nỗ lực nào để tạo ra của cải bằng cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên đều là cái vòng luẩn quẩn. Ông ta kết luận rằng “một nền nông nghiệp có lý trí không tương hợp với chế độ tư bản chủ nghĩa.”
Sau khi Lenin và Đảng Bolshevik của ông ta phát động chính biến ở Nga, họ đã nhanh chóng ban bố “Pháp lệnh ruộng đất”, “pháp lệnh rừng” để quốc hữu hóa các loại tài nguyên ruộng đất, rừng, nước, khoáng sản, động thực vật, không cho phép nhân dân được tự ý khai thác sử dụng.
Nhà khí tượng kiêm nhà văn người Mỹ Brian Sussman đã viết trong cuốn sách “Nền bạo chính sinh thái: Cánh tả mưu đồ dùng danh nghĩa bảo vệ môi trường để giải thể nước Mỹ như thế nào” (Eco-Tyranny: How the Left’s Green Agenda Will Dismantle America ) rằng tư tưởng của Marx và Lenin rất tương đồng với những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường ngày nay. Theo quan điểm của họ, không ai có quyền thu lợi từ tài nguyên thiên nhiên. “Dù là bảo tồn rừng, cá voi, ốc sên hay khí hậu, đều phải quy về một niềm tin đã bén rễ rằng thứ lợi nhuận ấy là phi đạo đức, cuối cùng sẽ phá hủy cả hành tinh nếu không dừng lại”, Sussman viết.
Cuộc vận động bảo vệ môi trường mang tính toàn cầu này đã lôi kéo rất nhiều nhà tư tưởng, chính trị gia, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, giới truyền thông tham gia. Không thể liệt kê hết những tư tưởng, phát ngôn, và hành động của họ tại đây, nhưng có một nhân vật không thể không bỏ qua: Maurice Strong, người sáng lập Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (United Nations Environment Programme, UNEP). Strong, một người Canada, cũng là người tổ chức Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường của Con người năm 1972 và Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992. Cô của Strong là Anna Louise Strong, một nhà báo mà nhiều người đã biết là thân ********, đã định cư ở Trung Quốc. Strong chịu ảnh hưởng sâu sắc của cô mình, tự xưng là “một nhà xã hội chủ nghĩa về mặt tư tưởng và nhà tư bản chủ nghĩa về phương pháp luận”.
Strong nắm giữ vị trí quan trọng trong phong trào bảo vệ môi trường toàn cầu. “Ông ta cũng có quan điểm cấp tiến như những người biểu tình đường phố của chủ nghĩa bảo vệ môi trường cấp tiến nhất, nhưng ông ta không khản giọng hô hào trước hàng rào cảnh sát bảo vệ hội nghị toàn cầu, mà nắm chức tổng thư ký, cầm trong tay chiếc búa chủ trì hội nghị ở bên trong.”
Những quan điểm mà cơ quan Liên Hợp Quốc tán thành dưới sự lãnh đạo của Strong gần như giống hệt quan điểm của chủ nghĩa Marx. Sussman viết: “Quyền tư hữu đất đai là công cụ chủ yếu để tích lũy của cải nên sẽ gây ra bất công xã hội. Vì thế, tất yếu phải công hữu quyền sử dụng đất đai.” Sau khi nghỉ hưu, Strong đã chọn sang Bắc Kinh hưởng tuổi già, và đã qua đời ở đó vào năm 2015.
Natalie Grant Wraga, một cố chuyên gia về Liên Xô, đã tiến hành một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này đã viết: “Bảo vệ môi trường có thể được dùng làm cái cớ để áp hàng loạt biện pháp đặt ra nhằm phá hoại cơ sở công nghiệp của các quốc gia phát triển. Nó có thể phục vụ mục đích phá hoại bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn sống của các quốc gia này và cấy vào đó giá trị quan của chủ nghĩa ********.” Trên thực tế, chủ nghĩa bảo vệ môi trường không chỉ bắt nguồn từ khối ******** cũ. Nó còn đi sâu hơn và có quan hệ với mục tiêu tổng thể của chủ nghĩa ******** nhằm tước đoạt tự do trên khắp thế giới.
(còn tiếp tục)
Trước hết cần phân biệt rõ một số khái niệm: bảo vệ môi trường, vận động bảo vệ môi trường, và chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường, đúng như nghĩa đen của nó, là bảo vệ cho môi trường. Từ khi có văn minh nhân loại, con người đã hiểu cần phải bảo vệ môi trường; nó không có bất kỳ quan hệ với hình thái ý thức chính trị nào cả.
Vận động bảo vệ môi trường là hoạt động chính trị xã hội nhắm vào các vấn đề về môi trường. Mục tiêu chính của nó là thông qua các cuộc vận động quần chúng trên diện rộng, kích động chính trị, và dưới ảnh hưởng của truyền thông để thay đổi chính sách, thay đổi tâm lý và hành vi, tập quán của quần chúng đối với môi trường. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường là một loại hình thái ý thức chính trị và tư tưởng triết học nhấn mạnh vào việc bảo vệ môi trường và sự chung sống hài hòa giữa xã hội nhân loại và hệ sinh thái tự nhiên. Động cơ đằng sau việc bảo vệ môi trường và chủ nghĩa bảo vệ môi trường không giống với chủ nghĩa ********, nhưng chủ nghĩa ******** vốn giỏi lợi dụng và thao túng các cuộc vận động quần chúng để đạt được mục đích của nó. Vì thế, ban đầu, khi chủ nghĩa bảo vệ môi trường hiện đại xuất hiện, chủ nghĩa ******** đã tính toán một cách có hệ thống để lợi dụng phong trào này.
Những vấn đề xung quanh chủ nghĩa bảo vệ môi trường ngày nay cực kỳ phức tạp. Cuộc vận động này đã lợi dụng những mỹ từ động đến cảm xúc của con người, lợi dụng những nguyện vọng tốt đẹp muốn bảo vệ môi trường để tạo ra một cuộc vận động chính trị toàn cầu. Nhiều người tham gia không chỉ là người có thiện chí, có tinh thần chính nghĩa, mà còn thực sự quan tâm đến tiền đồ vận mệnh của nhân loại.
Tuy nhiên, nhiều người không nhận ra những người ******** đã lợi dụng chủ nghĩa bảo vệ môi trường, lấy danh nghĩa đạo đức cao cả của việc bảo vệ môi trường mà thúc đẩy âm mưu của họ. Đây là chỗ mà bảo vệ môi trường bị chính trị hóa cao độ, bị biến thành cực đoan, thậm chí bị biến thành một thứ ngụy tôn giáo mà không có nền tảng đạo đức truyền thống. Những tuyên truyền lệch lạc và các thủ đoạn chính trị mang tính cưỡng chế đã chiếm thế chủ đạo, biến chủ nghĩa bảo vệ môi trường thành một dạng chủ nghĩa ********.
1. Nguồn gốc ******** của chủ nghĩa bảo vệ môi trường
Vì mục tiêu cuối cùng là hủy diệt nhân loại, chủ nghĩa ******** đã chuẩn bị kỹ lưỡng về rất nhiều phương diện. Chủ nghĩa ******** khởi phát từ Châu Âu, rồi lại phát động cách mạng bạo lực để giành chính quyền tại hai cường quốc ở phương Đông – là Nga và Trung Quốc, tiếp đến là sự đối đầu trong thời gian dài của khối ******** và xã hội phương Tây trong Chiến tranh Lạnh. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và khối ******** Đông Âu, phe ******** lại gieo cấy các nhân tố của nó vào cả xã hội phương Đông lẫn phương Tây, mưu đồ kiến lập một chính phủ toàn cầu được kiểm soát và khống chế nghiêm ngặt.
Để đạt mục tiêu này, chủ nghĩa ******** phải tạo ra hoặc lợi dụng một “kẻ địch” đủ để uy hiếp toàn nhân loại và đe dọa công chúng trên thế giới từ bỏ quyền tự do cá nhân và chủ quyền quốc gia. Dấy lên nỗi hoang mang về thảm họa sinh thái và môi trường mang tính toàn cầu có thể nói là lựa chọn tất yếu của nó để đạt được mục tiêu này.
1.1 Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa bảo vệ môi trường
Sự hình thành và phát triển của phong trào bảo vệ môi trường có liên quan mật thiết với chủ nghĩa ********. Cụ thể, sự phát triển của nó đã trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là thời kỳ ấp ủ lý luận, có thể tính từ khi Karl Marx và Friedrich Engels công bố “Tuyên ngôn ********” (Communist Manifesto) vào năm 1848 cho đến Ngày Trái đất đầu tiên vào năm 1970.
Tại thời điểm bắt đầu của giai đoạn này, Marx và các môn đồ của ông ta không coi chủ nghĩa bảo vệ môi trường là trọng điểm lý luận của mình, nhưng bản thân quan điểm của chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa duy vật của Marx lại rất phù hợp với khuynh hướng chính của chủ nghĩa bảo vệ môi trường. Marx tuyên bố chủ nghĩa tư bản là đối nghịch với tự nhiên (tức môi trường). Các môn đồ của Marx đã tạo ra cụm từ “hệ sinh thái” (ecosystem) và âm thầm đưa chủ nghĩa bảo vệ môi trường vào một số môn học để ươm cho nó nảy nở. Trong 10 năm cuối của giai đoạn này, từ năm 1960 đến 1970, hai cuốn sách bán chạy nhất là “Mùa xuân tĩnh lặng” (Silent Spring, 1962) và “Bùng nổ dân số” (Population Bomb, 1968) đã xuất hiện ở Mỹ. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường đã bước lên vũ đài của công chúng dưới cái lốt “bảo vệ môi trường” như thế.
Cột mốc mở đầu giai đoạn thứ hai là Ngày Trái đất đầu tiên được tổ chức vào năm 1970, không lâu sau đó, vào năm 1972, Liên Hợp Quốc lại tổ chức Hội nghị Môi trường của Con người (U.N. Conference on the Human Environment) ở Stockholm. Các tổ chức khác nhanh chóng được thành lập trong giai đoạn này, các hoạt động cũng tăng lên. Ở Mỹ và Châu Âu, họ gây sức ép với chính phủ bằng tuyên truyền, biểu tình, và vận động dưới cái lốt nghiên cứu khoa học, xây dựng quy định pháp luật, hội nghị v.v..
Ở tầng vĩ mô, phong trào phản văn hóa những năm 1960 có thể nói là cuộc diễu binh của các nhân tố ******** ở phương Tây. Những phong trào này lấy danh nghĩa phong trào dân quyền, phong trào hòa bình phản chiến để leo lên vũ đài xã hội và chính trị, rồi lại nhanh chóng tràn sang các hình thức chiến đấu chống chủ nghĩa tư bản như phong trào nữ quyền và phong trào đồng tính luyến ái, v.v..
Sau những năm 1970, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam thoái trào, tư tưởng ******** bắt đầu quá trình tiến vào trong thể chế, gọi là “cuộc trường chinh xuyên thể chế” (long march through the institutions), đồng thời tràn sang chủ nghĩa nữ quyền và chủ nghĩa bảo vệ môi trường — Đây là nguyên nhân gốc rễ thúc đẩy mạnh mẽ hình thái ý thức của chủ nghĩa bảo vệ môi trường.
Một trong những lực lượng quan trọng nhất đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa bảo vệ môi trường trong những năm 1970 là những người hippie, những người đóng vai trò chủ lực trong phong trào phản văn hóa. Trên thực tế, chủ nghĩa ******** đang trong quá trình chuẩn bị, dùng ngọn cờ chủ nghĩa bảo vệ môi trường làm vỏ bọc cho bản thân sau khi thất thế trong Chiến tranh Lạnh, với ý đồ dấy lên một cao trào chủ nghĩa ******** toàn cầu dưới bất kỳ danh nghĩa nào khác.
Giai đoạn thứ ba bắt đầu trước thềm kết thúc Chiến tranh Lạnh. Năm 1988, Liên Hợp Quốc thành lập Hội đồng Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change, gọi tắt là IPCC), khái niệm “nóng lên toàn cầu” bắt đầu xuất hiện trong lĩnh vực chính trị. Năm 1990, khi Liên Xô sắp sụp đổ, một hội nghị môi trường quốc tế đã được tổ chức tại Moscow. Trong một bài phát biểu, tổng bí thư Đảng ******** Nga Mikhail Gorbachev đã đề xuất thiết lập một hệ thống giám sát môi trường quốc tế, ký một hiệp ước để bảo vệ các “đặc khu môi trường” (unique environmental zones), thể hiện sự ủng hộ các chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc, và kêu gọi tổ chức hội nghị tiếp theo (hội nghị này đã diễn ra tại Brazil vào tháng 6 năm 1992).
Hầu hết các nhà bảo vệ môi trường phương Tây đều chấp nhận những đề nghị này, và tại giai đoạn này, đã coi nóng lên toàn cầu là mối đe dọa lớn đối với nhân loại. Những tuyên truyền lấy bảo vệ môi trường làm cái cớ để ra những chính sách nặng tay đột nhiên xuất hiện ồ ạt, luật và các quy định về môi trường tăng vọt cả về số lượng lẫn phạm vi áp dụng. Chủ nghĩa bảo vệ môi trường nổi lên như một lực lượng trên vũ đài quốc tế, bắt đầu mang màu sắc ******** ngày một rõ nét.
1.2 Chủ nghĩa bảo vệ môi trường và chủ nghĩa Marx có chung nguồn gốc
Những người theo tôn giáo chính thống ở cả Đông phương lẫn Tây phương đều nhìn nhận rằng con người là do Thần phỏng theo hình tượng của Thần mà tạo ra, sinh mệnh của con người cũng vì thế mà có giá trị và sự tôn nghiêm cao hơn các sinh mệnh khác trên địa cầu. Tương tự, môi trường tự nhiên cũng là do Thần sáng tạo ra. Con người có nghĩa vụ bảo vệ thiên nhiên, vốn tồn tại để phục vụ con người, chứ không phải là ngược lại.
Nhưng trong mắt của những người vô thần và người duy vật, sinh mệnh của con người tuyệt không có gì đặc biệt. Engels viết trong một bài tiểu luận rằng “Sự sống là hình thức tồn tại của các thể albumin [tức là protein].” Nếu như vậy, sự sống của con người chẳng qua chỉ là một loại hình thức tồn tại của một tập hợp các loại protein, không có bất cứ sự khác biệt nào với động vật và thực vật. Vì thế mà việc con người có thể bị tước đoạt tự do, thậm chí cả sinh mệnh trở nên có logic dưới danh nghĩa bảo vệ tự nhiên.
Năm 1862, Justus von Liebig, nhà hóa học người Đức, cũng là đồng sự của Marx, trong một cuốn sách về hóa học hữu cơ, đã công kích việc nông dân Anh dùng phân chim làm phân bón. Nông nghiệp Anh vốn được hưởng lợi từ phân chim, một loại phân bón hiệu quả cao, làm tăng mạnh sản lượng canh tác. Đến giữa thế kỷ 19, thực phẩm của người Anh đã rất dồi dào, có chất lượng rất cao. Việc buôn bán phân chim làm lợi cho thương nhân các nước, nông dân Anh, cũng như người dân Anh.
Vậy tại sao Liebig muốn lên án thói quen sử dụng phân chim này? Ông ta nói rằng, thứ nhất, quá trình thu gom phân chim sẽ phá hoại môi trường tự nhiên; thứ hai, thương nhân bóc lột công nhân với mức lương thấp; thứ ba, sản lượng lương thực cao sẽ kích thích tăng trưởng dân số, đổi lại, lại dẫn đến cần nhiều lương thực hơn, vượt quá khả năng cung cấp lương thực của tự nhiên; thứ tư, người và gia súc càng nhiều thì phân và rác thải cũng càng nhiều lên.
Khi đang viết “Tư bản luận” (Das Kapital), Marx đã nghiền ngẫm rất kỹ tác phẩm của Liebig. Ông ta tán thưởng Liebig đã “từ góc độ khoa học tự nhiên mà đưa ra mặt trái, tức là tính phá hoại của nông nghiệp hiện đại” [9] Cũng như Liebig, Marx coi bất kỳ nỗ lực nào để tạo ra của cải bằng cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên đều là cái vòng luẩn quẩn. Ông ta kết luận rằng “một nền nông nghiệp có lý trí không tương hợp với chế độ tư bản chủ nghĩa.”
Sau khi Lenin và Đảng Bolshevik của ông ta phát động chính biến ở Nga, họ đã nhanh chóng ban bố “Pháp lệnh ruộng đất”, “pháp lệnh rừng” để quốc hữu hóa các loại tài nguyên ruộng đất, rừng, nước, khoáng sản, động thực vật, không cho phép nhân dân được tự ý khai thác sử dụng.
Nhà khí tượng kiêm nhà văn người Mỹ Brian Sussman đã viết trong cuốn sách “Nền bạo chính sinh thái: Cánh tả mưu đồ dùng danh nghĩa bảo vệ môi trường để giải thể nước Mỹ như thế nào” (Eco-Tyranny: How the Left’s Green Agenda Will Dismantle America ) rằng tư tưởng của Marx và Lenin rất tương đồng với những người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường ngày nay. Theo quan điểm của họ, không ai có quyền thu lợi từ tài nguyên thiên nhiên. “Dù là bảo tồn rừng, cá voi, ốc sên hay khí hậu, đều phải quy về một niềm tin đã bén rễ rằng thứ lợi nhuận ấy là phi đạo đức, cuối cùng sẽ phá hủy cả hành tinh nếu không dừng lại”, Sussman viết.
Cuộc vận động bảo vệ môi trường mang tính toàn cầu này đã lôi kéo rất nhiều nhà tư tưởng, chính trị gia, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội, giới truyền thông tham gia. Không thể liệt kê hết những tư tưởng, phát ngôn, và hành động của họ tại đây, nhưng có một nhân vật không thể không bỏ qua: Maurice Strong, người sáng lập Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (United Nations Environment Programme, UNEP). Strong, một người Canada, cũng là người tổ chức Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường của Con người năm 1972 và Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992. Cô của Strong là Anna Louise Strong, một nhà báo mà nhiều người đã biết là thân ********, đã định cư ở Trung Quốc. Strong chịu ảnh hưởng sâu sắc của cô mình, tự xưng là “một nhà xã hội chủ nghĩa về mặt tư tưởng và nhà tư bản chủ nghĩa về phương pháp luận”.
Strong nắm giữ vị trí quan trọng trong phong trào bảo vệ môi trường toàn cầu. “Ông ta cũng có quan điểm cấp tiến như những người biểu tình đường phố của chủ nghĩa bảo vệ môi trường cấp tiến nhất, nhưng ông ta không khản giọng hô hào trước hàng rào cảnh sát bảo vệ hội nghị toàn cầu, mà nắm chức tổng thư ký, cầm trong tay chiếc búa chủ trì hội nghị ở bên trong.”
Những quan điểm mà cơ quan Liên Hợp Quốc tán thành dưới sự lãnh đạo của Strong gần như giống hệt quan điểm của chủ nghĩa Marx. Sussman viết: “Quyền tư hữu đất đai là công cụ chủ yếu để tích lũy của cải nên sẽ gây ra bất công xã hội. Vì thế, tất yếu phải công hữu quyền sử dụng đất đai.” Sau khi nghỉ hưu, Strong đã chọn sang Bắc Kinh hưởng tuổi già, và đã qua đời ở đó vào năm 2015.
Natalie Grant Wraga, một cố chuyên gia về Liên Xô, đã tiến hành một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này đã viết: “Bảo vệ môi trường có thể được dùng làm cái cớ để áp hàng loạt biện pháp đặt ra nhằm phá hoại cơ sở công nghiệp của các quốc gia phát triển. Nó có thể phục vụ mục đích phá hoại bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn sống của các quốc gia này và cấy vào đó giá trị quan của chủ nghĩa ********.” Trên thực tế, chủ nghĩa bảo vệ môi trường không chỉ bắt nguồn từ khối ******** cũ. Nó còn đi sâu hơn và có quan hệ với mục tiêu tổng thể của chủ nghĩa ******** nhằm tước đoạt tự do trên khắp thế giới.
(còn tiếp tục)