Kysirong
Lồn phải lá han

(ANTV) - Hơn một năm sau khi Luật Đất đai 2024 chính thức có hiệu lực, hàng loạt dự án hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị mới… vẫn loay hoay vì vướng thu hồi đất. Trước thực trạng trên, vừa qua tại tờ trình dự thảo Luật sửa đổi Luật Đất đai 2024 đang lấy ý kiến, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất bổ sung hai trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Theo đó, Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng cấp bách cho nhiệm vụ chính trị, đối ngoại; dự án trong khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, logistic. Các dự án quy mô lớn như khu đô thị, du lịch dịch vụ thương mại, văn hóa, thể thao do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, cũng được Nhà nước hỗ trợ thu hồi đất.
Với trường hợp dự án thực hiện qua thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất, chủ đầu tư đàm phán được trên 75% diện tích hoặc người có đất, Nhà nước sẽ thu hồi phần còn lại để giao cho họ.
Bà Phạm Thị Miền, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam cho biết, thực tế cho thấy, qua quá trình nghiên cứu thị trường, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều dự án mặc dù chủ đầu tư đã thể hiện thái độ cầu thị và tích cực trong việc đàm phán với người dân. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn bị chậm trễ. Có những dự án đã đạt được thỏa thuận giải phóng đến 80% diện tích đất, thậm chí chỉ còn một vài hộ dân chưa đồng thuận, nhưng chủ đầu tư vẫn không thể tiến hành triển khai tiếp. Theo quan điểm của tôi, việc bổ sung hai trường hợp như trong dự thảo là hoàn toàn hợp lý và cần thiết.
Theo các chuyên gia, dự thảo quy định cho phép Nhà nước được thu hồi đất nếu chủ đầu tư đã đạt được thỏa thuận với trên 75% diện tích hoặc số hộ dân trong dự án. Tuy nhiên, việc chuyển từ cơ chế thỏa thuận dân sự sang hình thức thu hồi hành chính đối với phần đất còn lại có thể tiềm ẩn nguy cơ phát sinh xung đột pháp lý. Do đó để đảm bảo việc áp dụng cơ chế này diễn ra công bằng, minh bạch, cần thiết phải có một hệ thống giám sát hiệu quả có thể từ cơ quan trung ương hoặc một tổ chức độc lập, nhằm theo dõi và kiểm soát chặt chẽ quá trình thu hồi đất trong các trường hợp đặc biệt nêu trên.
Nếu được thực thi đúng, quy định này có thể rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng từ nhiều năm xuống còn vài tháng tạo bước đột phá cho phát triển hạ tầng, giải ngân đầu tư công, thu hút FDI. Tuy nhiên, nếu thiếu cơ chế kiểm soát, dễ dẫn đến lạm dụng quyền thu hồi, xâm phạm quyền lợi chính đáng của người dân.
Do đó, sửa đổi Luật Đất đai không chỉ là tháo gỡ rào cản đầu tư, mà còn là bài toán công bằng xã hội. Cơ chế 75% nếu được áp dụng đúng với sự giám sát chặt chẽ, công khai minh bạch sẽ trở thành đòn bẩy quan trọng cho phát triển hạ tầng, góp phần chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.
Theo đó, Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng cấp bách cho nhiệm vụ chính trị, đối ngoại; dự án trong khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, logistic. Các dự án quy mô lớn như khu đô thị, du lịch dịch vụ thương mại, văn hóa, thể thao do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, cũng được Nhà nước hỗ trợ thu hồi đất.
Với trường hợp dự án thực hiện qua thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất, chủ đầu tư đàm phán được trên 75% diện tích hoặc người có đất, Nhà nước sẽ thu hồi phần còn lại để giao cho họ.
Bà Phạm Thị Miền, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam cho biết, thực tế cho thấy, qua quá trình nghiên cứu thị trường, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều dự án mặc dù chủ đầu tư đã thể hiện thái độ cầu thị và tích cực trong việc đàm phán với người dân. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn bị chậm trễ. Có những dự án đã đạt được thỏa thuận giải phóng đến 80% diện tích đất, thậm chí chỉ còn một vài hộ dân chưa đồng thuận, nhưng chủ đầu tư vẫn không thể tiến hành triển khai tiếp. Theo quan điểm của tôi, việc bổ sung hai trường hợp như trong dự thảo là hoàn toàn hợp lý và cần thiết.
Theo các chuyên gia, dự thảo quy định cho phép Nhà nước được thu hồi đất nếu chủ đầu tư đã đạt được thỏa thuận với trên 75% diện tích hoặc số hộ dân trong dự án. Tuy nhiên, việc chuyển từ cơ chế thỏa thuận dân sự sang hình thức thu hồi hành chính đối với phần đất còn lại có thể tiềm ẩn nguy cơ phát sinh xung đột pháp lý. Do đó để đảm bảo việc áp dụng cơ chế này diễn ra công bằng, minh bạch, cần thiết phải có một hệ thống giám sát hiệu quả có thể từ cơ quan trung ương hoặc một tổ chức độc lập, nhằm theo dõi và kiểm soát chặt chẽ quá trình thu hồi đất trong các trường hợp đặc biệt nêu trên.
Nếu được thực thi đúng, quy định này có thể rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng từ nhiều năm xuống còn vài tháng tạo bước đột phá cho phát triển hạ tầng, giải ngân đầu tư công, thu hút FDI. Tuy nhiên, nếu thiếu cơ chế kiểm soát, dễ dẫn đến lạm dụng quyền thu hồi, xâm phạm quyền lợi chính đáng của người dân.
Do đó, sửa đổi Luật Đất đai không chỉ là tháo gỡ rào cản đầu tư, mà còn là bài toán công bằng xã hội. Cơ chế 75% nếu được áp dụng đúng với sự giám sát chặt chẽ, công khai minh bạch sẽ trở thành đòn bẩy quan trọng cho phát triển hạ tầng, góp phần chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.