Johnny Lê Nữu Vượng
Già làng

Trong những năm 1970, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã thực thi một trong những chiến dịch táo bạo nhất: Trục vớt tàu ngầm Liên Xô bị chìm sâu dưới đáy biển Thái Bình Dương.
Từ những năm 1960, tàu ngầm có khả năng mang tên lửa đạn đạo hạt nhân đã trở thành một phần không thể thiếu của hải quân hai siêu cường Mỹ và Liên Xô. Do tầm hoạt động ngắn, những chiếc tàu ngầm đầu tiên của Liên Xô được thiết kế để trang bị vũ khí như vậy buộc phải trực chiến gần bờ biển kẻ thù tiềm tàng là Mỹ. Ngày 24/2/1968, tàu ngầm điện-diesel K-129 mang hai ngư lôi và ba tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, do Đại tá Vladimir Kobzar chỉ huy, xuất phát thực hiện nhiệm vụ từ Vịnh Avacha ở Kamchatka.K-129 vừa trực chiến chỉ một tháng rưỡi trước đó, trở lại Thái Bình Dương lần này là do phải thay thế một chiếc tàu ngầm tương tự bị hỏng. Hành trình của K-129: bí mật đi về phía nam theo kinh tuyến 162 đến vĩ tuyến 40, và từ đó quay về hướng Đông - nơi có một khu vực mà máy bay tuần tra của Mỹ không bay tới. Lần đầu tiên tàu liên lạc vào ngày 26/2, chuyến đi diễn ra bình thường; lần tiếp theo, theo kế hoạch sẽ diễn ra vào ngày 8/3 - không có liên lạc.

Chiếc K-129 đã có chuyến đi định mệnh. Nguồn: fishki.net
Các hoạt động tìm kiếm của Hải quân Xô Viết ngay lập tức được triển khai. Máy bay trinh sát đã hơn 280 lần xuất kích; vùng biển nơi được cho là tàu ngầm bị nạn đã được rà soát với một nhóm 30 tàu, bao gồm cứu hộ, nghiên cứu hải dương học và một tàu phá băng. Họ lấy mẫu nước, với hy vọng tìm ra dấu vết của phóng xạ, tìm kiếm những vết dầu loang trên bề mặt đại dương. Cuộc tìm kiếm được triển khai trong 73 ngày, nhưng khu vực có thể xảy ra thảm họa quá rộng lớn và Liên Xô không có bất kỳ phương tiện nào có năng lực tốt hơn để có thể làm sáng tỏ số phận của tàu ngầm mất tích.
Toàn bộ vụ việc được bảo mật nghiêm ngặt, không có thông cáo nào được đưa ra trên các phương tiện truyền thông. Mùa thu năm 1968, thân nhân của các thủy thủ được thông báo rằng người thân của họ đã hy sinh “khi đang làm nhiệm vụ”. Liên Xô đã che giấu sự thật về sự biến mất của tàu ngầm với toàn thế giới, lặng lẽ xóa chiếc K-129 khỏi Hải quân. Tuy nhiên, bất chấp mọi nỗ lực của phía Liên Xô để giữ kín thảm kịch ở Thái Bình Dương, người Mỹ đã biết về vụ việc.
Sau khi phân tích các dữ liệu có được, các chuyên gia Mỹ ghi nhận một “âm thanh của một vụ nổ đơn” ở một vị trí có điều kiện với diện tích 30 dặm vuông rất gần với kinh tuyến thứ 180, 1.230 km từ Kamchatka và 1.100 km về phía Bắc của đảo san hô Midway. Theo những dữ liệu này, K-129 đã bị nạn ngày 7/3, một ngày trước phiên liên lạc tiếp theo.
Chiến dịch Azorian
Tháng 7/1968, Hải quân Mỹ bắt đầu chiến dịch bí mật đầu tiên mang mật danh “Sand Dollar”. Từ căn cứ nổi tiếng Trân Châu Cảng, chiếc tàu ngầm độc đáo USS Halibut được thiết kế cho các hoạt động đặc biệt với các thiết bị sóng siêu âm, máy ảnh lặn và một phương tiện dưới nước với video và máy ảnh tĩnh, đã khởi hành đến khu vực do SOSUS xác định.
Tháng 8/1968, những gì còn lại của K-129 đã được phát hiện ở độ sâu hơn 5 km. Tọa độ chính xác của vị trí của K-129 vẫn là một bí mật nhà nước của Mỹ. Thân tàu bị biến dạng nghiêm trọng, phần đuôi nằm cách mũi tàu 100 m. USS Halibut đã chụp hơn 20.000 bức ảnh về con tàu xấu số, gửi đến trụ sở CIA ở Langley để phân tích.

Xác chiếc K-129 đưới đáy Thái Bình Dương; Nguồn: fishki.net
Việc Chính phủ Liên Xô không công bố K-129 bị đắm dẫn đến thực tế là nó trở thành “tài sản vô chủ”, do đó, bất kỳ quốc gia nào phát hiện ra chiếc tàu ngầm mất tích sẽ được coi là chủ sở hữu của nó. Đầu năm 1969, CIA đã bắt đầu thảo luận về khả năng bí mật trục vớt các thiết bị có giá trị từ tàu ngầm của Liên Xô từ đáy Thái Bình Dương. Trong Chiến tranh Lạnh, cả hai bên đã không tiếc công sức và nguồn lực của mình để tìm ra những bí mật quân sự của “kẻ thù tiềm tàng”.
Người Mỹ quan tâm thiết kế và vũ khí trên tàu (ICBM R-21 và đầu đạn ngư lôi), hệ thống liên lạc vô tuyến, mật mã, tài liệu, hệ thống chỉ định mục tiêu và định vị. Ban đầu, người Mỹ dự định mở thân tàu K-129 với sự hỗ trợ của các phương tiện dưới nước được điều khiển từ xa và lấy các thứ cần thiết từ tàu ngầm mà không cần trục vớt.
Năm 1970, tại một cuộc họp, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird, Cố vấn An ninh Quốc gia Henry Kissinger, và các chuyên gia Hải quân và CIA, người ta quyết định trục vớt K-129. CIA và Hải quân đã nhờ Quốc hội hỗ trợ tài chính, Quốc hội giao cho Tổng thống Nixon, và dự án AZORIAN đã trở thành hiện thực.
Tuy vậy, người Mỹ không thể trục vớt con tàu ngay lập tức, vì họ không có phương tiện kỹ thuật cần thiết. Một chiến dịch đặc biệt, tuyệt mật với mật danh “Dự án Azorian” đã được thông qua, tính đến độ sâu mà K-129 bị chìm, khả năng thành công của chiến dịch ước tính khoảng 10%. Nhiều nguồn gọi chiến dịch này là “Jennifer”, trong khi từ mã này được sử dụng để chỉ căn phòng, nơi dự án được phát triển. Chiến dịch đã chuẩn bị trong 6 năm, thực hiện trực tiếp bắt đầu vào năm 1974, công việc dưới nước sâu được ngụy trang bởi thăm dò địa chất ngoài khơi cách bờ biển Hawaii 1.560 hải lý (2.890 km) bằng tàu chuyên dụng “Hughes Glomar Explorer”.

Tàu thăm dò Glomar Explorer
Ngày 9/8/1974, phần lớn người dân Mỹ chú tâm theo dõi việc Tổng thống Richard Nixon từ chức trong tủi hồ. Nhưng cùng thời điểm, ở một cực khác của thế giới, hơn 178 nhân công người Mỹ lại đang thực thi một trong những chiến dịch tình báo táo bạo nhất lịch sử.
Đó là ngày mà CIA hoàn tất việc trục vớt xác tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo động cơ diesel lớp Golf II của Liên Xô, có tên rút gọn là K-129. Tàu ngầm gặp nạn, chìm xuống Thái Bình Dương năm 1968 khi đang thực hiện hành trình tuần tra thường lệ.
Số phận tàu ngầm K-129
K-129 được đưa vào biên chế vào tháng 5/1959. Sau khi hoàn tất công đoạn nâng cấp, duy tu, sửa chữa lớn vào giữa thập niên 1960, K-129 được trạng bị nhiều hệ thống điện tử mới và mang theo vũ khí mới nhất của Liên Xô – ba bệ phóng tên lửa với tổng số 21 quả tên lửa R-21, loại tên lửa đầu tiên của Liên Xô có thể phóng từ tàu ngầm.
Ngày 24/2/1968, K-129 với 98 thủy thủ đoàn được lệnh rời khỏi căn cứ ở Kamchatka và thực thi hoạt động, tuần tra dưới biển trong thời hạn hai tuần thì nổ chìm.

36 tàu thuyền đã cày xới cả một vùng biển rộng khoảng hơn 2,5 triệu km2 ở Thái Bình Dương. Hơn 54 máy bay các loại cũng đã được huy động trong suốt hơn hai tháng tìm kiếm. Liên Xô thậm chí đã sử dụng tối đa tiềm năng, sức mạnh của công nghệ sóng âm, gọi gặp K-129 qua các kênh mở. Nhưng sau nhiều tháng dò tìm trong điều kiện thời tiết xấu, với sóng biển dâng cao hơn 13 m, Liên Xô quyết định dừng chiến dịch tìm kiếm.
Hải quân Mỹ cùng lúc dõi theo nhất cử nhất động. Việc Liên Xô mở cuộc tìm kiếm mà không lo sợ bị tàu ngầm, máy bay Mỹ phát hiện cho thấy Moskva vừa đánh mất một thứ rất quan trọng, nhiều khả năng là một tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo. Hải quân Mỹ có ưu thế hơn so với Liên Xô. Hệ thống giám sát âm thanh (SOSUS) – một mạng lưới các thiết bị nghe lén đặt ngầm dưới biển chuyên để định vị tàu ngầm Liên Xô, đã thu được âm thanh về một vụ nổ tàu ngầm tại khu vực tìm kiếm.
Hải quân Mỹ nhờ đó đã thu hẹp được khu vực tìm kiếm xuống chỉ còn 5 hải lý và cử USS Halibut, tàu ngầm tên lửa hành trình đã được cải hoán thành tàu giám sát tình báo, lên đường làm nhiệm vụ tìm kiếm K-129. Sau hơn một tháng, Halibut đã tìm thấy tàu ngầm Liên Xô.

K-129 chìm dưới độ sâu 5029 m, cách bờ biển tây bắc Hawaii khoảng 1.900 km. Tàu gặp nạn sau khi gặp sự cố nghiêm trọng về kĩ thuât. Nhưng những phần quan trọng nhất của K-129 như ống phóng tên lửa vẫn còn nguyên vẹn. Ít nhất một trong hai quả tên lửa R-21 dường như vẫn nằm nguyên trong ống phóng.
Chiến dịch trục vớt của CIA
Nhận thấy giá trị của số tên lửa hạt nhân còn nguyên vẹn trên tàu ngầm Liên Xô, CIA nhanh chóng mở chiến dịch trục vớt mang mật danh “Dự án Azorian”. Ý tưởng ban đầu là sử dụng rocket hoặc kinh khí cầu dưới nước để kéo xác tàu. Nhưng các chuyên gia sau đó đều nhận thấy không khả thi. Cách thức duy nhất để trục vớt k-129 là gắn thiết bị khoằm (kẹp) vào tàu để kéo lên.
Tại thời điểm đó, con người chưa có khả năng trục vớt bất kỳ vật thể nào nằm dưới độ sâu hơn 5.000 m, chưa nói đến xác tàu nặng 2.000 tấn. Ngành công nghiệp khai mỏ biển sâu vẫn còn non trẻ. Nhưng một công ty Mỹ có tên là Global Marine lúc này rất nổi tiếng, được coi là nhà chế tạo tàu khai mỏ đại dương giỏi nhất thế giới.
CIA đặt vấn đề và có được sự đồng ý hợp tác của Global Marine trong dự án chế tạo một chiếc tàu lớn, đủ sức thực thi sứ mệnh có một không hai này. Tập đoàn Lockheed Martin được huy động để chế bộ kẹp, được gọi là “thiết bị bắt” (capture vehicle). Mọi việc chưa xong, bởi CIA cần có một câu chuyện tạo vỏ bọc hợp lý. Rất may, cơ quan tình báo Mỹ tìm được một nhân vật phù hợp là Howard Hughes.

Tỷ phú dân chơi ngông và bị điên điên bất thường Howard Hughes - nhân vật có vỏ bọc phù hợp với chiến dịch "Dự án Azorian" qua mặt Liên Xô. Ảnh: Getty Images
Là chủ một doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dầu khí ở Texas, Hughes nổi tiếng với vẻ ẩn dật lập dị nhiều khi điên điên, rất phù hợp cho một vỏ bọc của một doanh nhân muốn mạo hiểm đổ nguồn lực tài chính tìm kiếm nguồn trầm tích Magan thông qua phương pháp khai mỏ biển sâu lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới. Hughes đồng ý giúp CIA trục vớt xác tàu ngầm Liên Xô.
Công ty Hughes Tool đứng ra đóng tàu thăm dò Hughes Glomar Explorer, con tàu lớn, có chiều dài gần 190 m, chỉ với một mục đích duy nhất là nâng xác, mảnh vỡ tàu K-129 từ đáy biển, đưa vào một “hồ bơi mặt trăng” nằm ở phần thân tàu (lỗ ở vỏ tàu khoan dùng để thả cột ống khoan xuống biển trên các tàu thăm dò).
Tàu Glomar Explorer đến địa điểm khảo sát vào ngày 4/7/1974, sáu năm sau khi xác định được vị trí tàu ngầm liên xô. Tàu thăm dò của Hughes đã mất cả một tháng để đưa “thiết bị bắt” xuống đáy biển. Trong quá trình vận hành, tàu Glomar Explorer từng hai lần bị tàu Liên Xô theo dõi, bám sát. Tuy nhiên, phía Liên Xô không có lý do gì để nghi ngờ tàu Mỹ, chiếc Glomar Explorer tiếp tục hành trình “khảo sát” như bình thường.
Sau một tháng, bộ kẹp chạm được vào phần xác tàu ngầm. Giờ là công đoạn kéo lên khỏi mặt nước. Nhưng thật không may, thảm họa ập tới. Một vài chiếc móc trong “thiết bị bắt” bất ngờ bung ra và khoảng 2/3 thân tàu ngầm, trong đó có phần chứa ống phóng tên lửa và khoang điều hành tàu K-129 rơi ngược trở lại đáy biển. Phần rơi xuống không có cách nào để vớt lại lần nữa, nhưng thủy thủ trên tàu Glomar Explorer vẫn tiếp tục trục vớt những gì còn lại bám trong “thiết bị bắt”. Trục vớt xong, thủy thủ đoàn cho tàu chạy về bờ biển Mỹ.

CIA sau đó còn chuẩn bị cho lần trục vớt thứ hai, qua chiến dịch có mật danh “Dự án Matador”. Nhưng đến ngày 18/3/1975, phóng viên Jack Anderson cho công bố thông tin về “Dự án Azorian”. Giám đốc CIA William Colby đã đích thân thuyết phục nhiều phóng viên khác, trong đó có nhà báo điều tra Seymour Hersh của tờ New York Times, không đăng bài cho đến khi trục vớt xong phần xác tàu K-129. Nhưng Anderson từ chối đề nghị của ông Colby và cho phát toàn bộ câu chuyện về phi vụ trục vớt của CIA trên đài phát thanh quốc gia.
Chuyện bị lộ, Nhà Trắng buộc phải ngưng “Dự án Matador”. Hải quân Liên Xô cũng giám sát chặt chẽ vùng biển có xác tàu K-129. Tuy nhiên, chiến dịch trục vớt vẫn được coi là một thành công. CIA chưa bao giờ tiết lộ đầy đủ thông tin về những phần xác tàu được vớt lên.
Nhưng ít nhất phía Mỹ cũng thu được hai ngư lôi trang bị đầu đạn hạt nhân cùng nhiều tài liệu và cả quả chuông tàu ngầm. Phần thu thập được từ xác tàu cũng giúp Mỹ hiểu rõ hơn thiết kế tàu ngầm của Liên Xô, địa điểm sản xuất những chi tiết quan trọng nhất, thời hạn thay thế cũng như độ dày vỏ thép thân tàu.
Trong chiến dịch trục vớt này, phía Mỹ vớt được 6 thi thể nguyên vẹn cùng với nhiều phần thi thể của thủy thủ trên tàu K-129. Sau khi cập cảng Mỹ vào tháng 9/1974, thủy thủ tàu Glomar Explorer đã thực hiện nghi thức an táng với các binh sĩ Liên Xô thiệt mạng trong vụ tàu ngầm K-129 gặp nạn. Đến năm 1992, Giám đốc CIA Robert Gates đã trao cho Tổng thống Nga Boris Yeltsin đoạn băng ghi lại buổi lễ này, cùng với quả chuông của tàu ngầm K-129.
Sửa lần cuối: