Tính Giao
Thích phó đà
Dịch bệnh được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam cho đến cuối thế kỷ thứ 18 rất sơ lược. Suốt trong Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên và Khâm định Việt sử thông giám cương mục (từ khởi thuỷ đến 1789) chỉ đề cập chừng 10 lần xảy ra dịch bệnh, lần đầu thấy chép vào năm 1100 (Lý Nhân Tông, năm Canh Thìn)2. Trong số 10 lần ấy, với những ghi nhận tối giản của sử quan, người sau chỉ có thể biết được có 5 trận dịch với phạm vi lan rộng toàn quốc (toàn miền Bắc); 4 trận thuộc phạm vi địa phương như Lạng Sơn, Quốc Oai, Tam Đái [Yên Lạc, Vĩnh Phúc], Sơn Tây, Nghệ An; và 1 trận chủ yếu trong doanh trại quân Trịnh đóng ở Châu Ổ (Quảng Ngãi) hồi năm 1775 đã làm chết rất nhiều quân lính đến nỗi Hoàng Ngũ Phúc phải bí mật rút quân3. Trận dịch trầm trọng nhất được biết là tại các huyện thuộc Sơn Tây hồi tháng 10 năm 1757, dân chết do bệnh dịch và đói lên đến 8,9 phần.
Đại Nam thực lục (Thực lục) của nhà Nguyễn ghi chép có khá hơn những sách sử trước đó, không gian địa lý của thời này cũng tương ứng với nước ta ngày nay nên những ghi nhận này có thể phản ánh bao quát tình hình dịch bệnh toàn quốc trong thế kỷ 19. Có thể còn thiếu sót do chưa rà soát thật kỹ, trước mắt có thể thấy Thực lục chép khoảng 80 trận dịch lớn nhỏ trong thời gian gần 100 năm (từ năm 1801 đến năm 1895, trung bình hơn 1 năm xảy ra 1 trận)4. Tần suất kể trên khá dày nếu so với tình hình dịch bệnh ở Trung Quốc, thống kê trong một nghiên cứu cho biết dịch bệnh thời nhà Thanh (1644-1911) ghi nhận trong Thanh sử cảo là 98 trận lớn với cấp độ nguy hại nghiêm trọng (trong 267 năm, trung bình hai năm rưỡi 1 trận)5.
Tuy ghi chép vắn tắt nhưng Thực lục đã cho biết cụ thể nhiều số liệu quan trọng, đó là những báo cáo tổng kết sau dịch từ các địa phương gởi về, hoặc sự tổng hợp báo cáo đối với những trận dịch phạm vi toàn quốc. Ba trận đại dịch đáng lưu ý là trận dịch tả năm 1820, trận đại dịch (chưa rõ tên) năm 1849, và trận dịch đậu mùa năm 1888.
I. Phân loại sơ bộ và lược tả
Dịch tả
Năm 1820 (Canh thìn – Minh Mạng năm đầu), tháng 6 dịch khởi phát ở các trấn Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường (ứng với khu vực Tây Nam Bộ) rồi lan ra toàn quốc, đến tháng 12 mới ngưng, quân và dân đều mắc, số tử vong thống kê được là 206.835 người (dân số lúc này khoảng 7 triệu), triều đình phát chẩn 73 vạn quan tiền. Tuy không chép rõ tên dịch bệnh nhưng qua câu “Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp” thì có thể biết đây là trận dịch tả. Thi hào Nguyễn Du đương chức Hữu tham tri bộ Lễ, sắp đi sứ thì nhiễm bệnh dịch mà chết, Thực lục chép Nguyễn Du chết trong tháng 8, không nói bệnh chứng, nhưng riêng thấy trong bài thơ của danh sĩ Nguyễn Hành cảm tác khi hay tin chú mất có câu “Dịch lệ sao vội làm chết ông”, thì chắc rõ ông chết do dịch.6
Sau Việt Nam, Trung Quốc phải hứng chịu trận dịch này suốt năm 1821, phần “Chí”, mục “Tai dị” trong Thanh sử cảo ghi nhận dịch phát vào tháng 3 tại huyện Nhâm Khâu (Thương Châu, Hà Bắc, phía Nam Bắc Kinh khoảng 150km), sau đó bùng phát ở khoảng 30 địa phương của nhiều tỉnh, tuy không ghi con số thống kê tử vong cụ thể nhưng mô tả nhiều nơi ở mức đại dịch, người chết vô số, không đếm xuể.7 Trên bình diện quốc tế, theo giới nghiên cứu lịch sử bệnh truyền nhiễm Trung Quốc thì nguồn cơn trận dịch tả này khởi phát ở Ấn Độ vào năm 1817, sau đó theo các thuyền buôn lan về phía đông đến khắp Đông Nam Á rồi Trung Quốc, lan về phía tây đến các xứ ven Địa Trung Hải.
Thực lục chép “dịch phát ở Hà Tiên rồi lan ra toàn quốc”, và trong khi vua Minh Mạng còn đang lo cầu đảo với tâm trí rối bời bảo với các quan: “Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay”, thì Thượng thư bộ Lễ kiêm quản Khâm thiên giám Phạm Đăng Hưng tâu rằng: “Thần nghe dịch bệnh từ Tây dương sang”. Lời tâu của Phạm Đăng Hưng cho thấy triều thần đã có người biết dịch bệnh do truyền nhiễm từ xa, mà nay cũng có vẻ hợp với vấn đề nguồn gốc lây truyền dịch bệnh qua các thuyền buôn đến từ Ấn Độ mà các học giả Trung Quốc nêu ra.
Tháng 7 năm 1826, một trận dịch tả lớn bùng phát ở Gia Định (Nam Bộ) rồi lan rộng đến Quảng Bình, riêng Gia Định chết hơn 18.000 người. Tuy sự việc ở thành Gia Định không được chép rõ là dịch tả, nhưng cùng thời điểm xảy ra dịch bệnh, qua ghi chép về cái chết của Thái Bình công Mỹ Thuỳ (con của Hoàng thái tử Cảnh) thì xác định được đây là trận dịch tả. Thực lục chép: “Năm Bính Tuất, Tháng 7… Thái Bình công Mỹ Thùy mất, công là con Anh Duệ hoàng thái tử. Khi vua mới được tin công mắc chứng hoắc loạn cấp tính, tức thì sai đại thần đem ngự y tới thăm. Đến nơi thì công đã chết rồi”8 [ng.v, Phụ lục 2]. Về bệnh chứng được chép với tên hoắc loạn (霍乱), y thư cổ Trung Quốc là sách Tố vấn dùng để chỉ bệnh thổ tả, về sau cũng chỉ bệnh dịch tả truyền nhiễm; danh y Lê Hữu Trác cũng đã dùng từ hoắc loạn để chỉ bệnh thổ tả, do bản dịch Thực lục không dịch rõ ra chữ “thổ tả” và cũng không chú thích nên khó nhận biết.9
Những trận dịch chưa rõ tên
Trận dịch rất lớn xảy ra vào năm 1849 (Tự Đức năm thứ 2), số người chết gấp 3 lần so với trận năm 1820. Tháng 7, Kinh sư và nhiều tỉnh phát dịch, các trường thi Hương đều hoãn sang năm sau. Tháng 12, ghi nhận số người chết ở Vĩnh Long đến 43.400, ở Quảng Bình chết 23.300 người (còn ở nhiều tỉnh khác chưa báo cáo). Tháng 1 năm 1850, thống kê của bộ Hộ cho biết số tử vong trong năm 1849 là 589.460 người (dân số lúc này khoảng 7 – 8 triệu). Trận dịch này cực lớn nhưng thông tin rất ít, không nói tên dịch bệnh, chỉ nói dịch tràn lan do lệ khí (癘氣/ khí độc) phát tán. Cũng thấy Đại Nam liệt truyện Chính biên sơ tập chép: “(Tự Đức) Năm thứ 2. Mỹ Đường ốm chết. Kinh thành có lệ khí, xuống chiếu tìm cách để dẹp yên thiên tai.”. Trong thời điểm này, cách chép trong Liệt truyện có phải muốn nói Mỹ Đường (con lớn của Hoàng thái tử Cảnh) đã chết do dịch bệnh.10
Những năm kế tiếp lại thêm nhiều trận rất lớn ở các tỉnh từ Quảng Trị ra Bắc, như năm 1851 ở Lạng Sơn dịch bệnh kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, tử vong đến 4.480 người; và thống kê trong hai năm 1852-1853 ở một số tỉnh Bắc Kỳ cho thấy số tử vong đến 9.074 người.
Những trận dịch phạm vi vùng miền hoặc tỉnh, phủ, huyện cấp độ khá lớn có thể kể vào các năm 1839-1840, 1863, 1875, 1876, 1887, 1888.
Trận dịch kéo dài trong 2 năm, từ tháng 2 năm 1839 đến cuối năm 1840 trên khắp các tỉnh toàn miền Bắc. Số liệu cho thấy trận dịch này tổng cộng (2 năm) ước có đến 60.000 người chết (nặng nhất là Hải Dương, chết hơn 23.000 người; kế đến là Bắc Ninh, chết hơn 21.500 người)
Từ tháng giêng đến tháng 5 năm 1863, dịch bệnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Định Tường nghiêm trọng. Thừa Thiên và Quảng Trị chết 3.600 người, Định Tường chết 1.670 người, tháng 8 năm này dân Nam Kỳ lâm nạn đói.
Tháng 11 năm 1875, dịch bệnh cùng lúc phát ở nhiều tỉnh như Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Hải Dương, Nam Định, Thái Nguyên, Sơn Tây, Tuyên Quang, Phú Yên, Bình Thuận, nặng nhất là ở Khánh Hòa.
Địa bàn cấp huyện bị dịch bệnh nặng nề nhất là 2 huyện Hải Lăng và Minh Linh phủ Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị), trong 2 năm 1876-1877 số tử vong lên đến 4.326 người. Năm 1887, ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa dịch phát từ tháng 4 đến tháng 9 mới lắng, số liệu riêng tỉnh Thanh Hóa chết đến 9.500 người.
Đậu mùa
Từ tháng 11 năm 1887 đến tháng 6 năm 1888, trận dịch đậu mùa hoành hành dữ dội ở tỉnh Quảng Ngãi, thống kê thấy cả đàn ông và đàn bà chết mất 13.934 người. Triều đình Huế phải phối hợp với thầy thuốc Tây lo việc chủng ngừa đậu mùa diện rộng cho người dân. Trận dịch được ghi rõ tên đậu mùa sớm hơn thấy chép vào tháng 6 năm 1848 ở Quảng Bình, làm chết hơn 2.100 người. [Phụ lục 5]
Bệnh đậu mùa trong ghi chép thấy xuất hiện năm 1801 qua cái chết của Đông cung Cảnh tại Gia Định, năm này không nói có dịch trong dân nhưng lại chép rõ bệnh chứng làm chết Đông cung [Phụ lục 1]. Tương tự, vào năm 1829 (Minh Mạng 10) cũng thấy chép “tháng 4, Quảng Oai công là Quân chết, Công bị đậu, sinh chứng hiểm. Vua sai ngự y ngày đêm điều trị, không khỏi mà chết.”, năm này cũng không thấy chép có dịch đậu mùa trong dân.
Một trận dịch khác được chép với tên dịch sởi (疹氣 / chẩn khí / sởi truyền nhiễm) vào tháng 5 năm 1842 (Thiệu Trị thứ 2) ở Thừa Thiên và Quảng Trị. [Phụ lục 4].
Tại Trung Quốc, trận dịch bệnh ghi rõ tên đậu mùa có thể là vào đầu thế kỷ 16, sách Đậu chứng lý biện của danh y Uông Cơ cho biết trận dịch đậu mùa khủng khiếp năm Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1530) khiến dân chết hơn nửa phần11. Dịch đậu mùa được chép trong sử thì mãi đến cuối thế kỷ 17 mới thấy xuất hiện, Thanh sử cảo (Chí, Tai dị) chép vào năm Khang Hi thứ 20 (Tân dậu/1681) “Tấn Ninh (Vân Nam) có dịch, người và trâu bò chết nhiều; Khúc Dương (Hà Bắc) có dịch lớn”.12
Liên quan đến tên gọi bệnh đậu, cũng cần nhắc đến loại tin nhảm thời xưa, số là, Viên Mai chép trong Tùy Viên thi thoại (quyển 2): “Danh y Tô Châu Tiết Sanh Bạch nói: Trước thời Tây Hán, không nghe nói trẻ con mắc bệnh đậu. Từ lúc Mã Phục Ba (Viện) đi đánh Giao Chỉ, lính tráng mang bệnh về, gọi là lỗ sang (虜瘡/bệnh mụn rợ), không phải tên bệnh đậu (痘)”13
Viên Mai (Tử Tài) nổi tiếng văn đàn thời Thanh nhưng khi làm sách đã thu thập câu nói của Tiết Sanh Bạch giống như loại tin nhảm, không biết Tiết danh y nghe vụ này ở đâu, bởi từ Tây Hán về trước không riêng đậu mùa mà nhiều chứng dịch khác cũng đều chưa rõ tên, sử chỉ chép chung là dịch tật, dịch bệnh, ôn dịch. Mặc khác, Truyện Mã Viện trong Hậu Hán thư không thấy nói bệnh lỗ sang, mà chỉ nói: “Kiến Võ thứ 20, Giáp thìn (44 scn), Mã Viện chinh Giao chỉ, quan quân trải chướng dịch, mười phần chết hết bốn, năm”. Chướng dịch (瘴疫) hay chướng lệ (瘴癘) là bệnh do nhiễm khí độc rừng núi, về sau cũng chỉ sốt rét.
Cũng liên quan đến tên gọi bệnh đậu, thời nay, nói thêm về một thông tin thiếu chính xác trên trang Wikipedia, mục từ “Đậu mùa” ở trang này có đoạn viết là:
“Lịch sử Việt Nam có ghi lại một số những nhân vật chết vì bệnh đậu mùa. Trong đó có Hoàng tử Cảnh, người con cả của vua Nguyễn Thế Tổ (niên hiệu Gia Long). Hoàng tử Cảnh mất năm 22 tuổi, để lại một vợ và hai con. Vua Tự Đức cũng bị bệnh đậu mùa và bị vô sinh nên nhận một người con nuôi lên làm vua và chỉ tại vị được 3 ngày, đó là vua Dục Đức.”
Sử nhà Nguyễn cũng ghi hai nạn dịch lớn trước thời Pháp thuộc:
– ” Năm Canh Thìn (1820) tháng 11 (âm lịch) bệnh dịch lan tràn, khởi đầu từ Hà Tiên đến Bắc Thành. Nhiều người chết. Nhà nước chẩn cấp cho dân tổng cộng 73 vạn quan tiền.”
– ” Năm Canh Tý (1840) tháng 9 (âm lịch) ở Sơn Tây từ mùa xuân đến mùa thu có hơn 4.900 người chết dịch.” (Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1987. trang 425, 454.)”14
Hai trận dịch được dẫn trên đây không thể lấy làm tiêu biểu cho mục từ “Đậu mùa”, bởi trận đại dịch toàn quốc năm 1820 là trận dịch tả, còn trận dịch ở Sơn Tây năm 1840 hiện chưa xác định được tên dịch bệnh. Nếu cần nêu những trận dịch đậu mùa tiêu biểu trong lịch sử thì phải nói đến trận dịch ở Quảng Bình năm 1848 và ở Quảng Ngãi năm 1888.
Việc chủng đậu theo y thuật Tây phương được thực hiện lần đầu năm 1805 tại Macau, cùng lúc với sự kiện xuất bản tài liệu Anh Cát Lợi quốc tân xuất chủng đậu kỳ thư (Phép chủng đậu mới lạ ở nước Anh) bằng tiếng Trung do bác sĩ của công ty Đông Ấn (Anh) A. Pearson biên soạn. Việc này được tiếp tục vào những năm 1815 tại Quảng Châu, 1841 tại Thượng Hải, 1961 tại Triệu Khánh (Quảng Đông), 1863 tại Phật Sơn (Quảng Đông), 1864 tại Bắc Kinh, 1882 tại Cửu Giang (Giang Tây), 1883 tại Nghi Xương (Hồ Bắc), 1886 tại Trấn Giang (Giang Tô), 1890 tại Thành Đô (Tứ Xuyên).15
Dịch hạch
Dịch hạch tuy được biết đến ở phương Tây rất sớm nhưng ở Trung Quốc và nước ta thấy sử liệu ghi chép về nó khá hiếm hoi. Dựa vào nhiều nguồn, Trương Đại Khánh (sđd) thống kê được trong 50 năm (1840-1910), ở Trung Quốc có 3 loại dịch bệnh xảy ra nhiều nhất là: dịch tả (霍乱 / hoắc loạn) 45 lần, dịch hạch (鼠疫 / thử dịch) 34 lần, đậu mùa (天花 / thiên hoa) 11 lần.5 Một số chuyên khảo khác thì cho biết vào thời Minh Vạn Lịch, trong 10 năm (1579-1588) số tử vong do dịch hạch ở Sơn Tây và Hà Bắc lên tới 5 triệu người.16
Trong Thực lục, suốt các ghi chép không thấy nhắc đến tên bệnh dịch hạch, cũng không thấy những chi tiết miêu tả bệnh chứng để có thể suy đoán. Riêng thấy một trận dịch kéo dài từ tháng 5 năm 1894 đến tháng giêng năm 1895 ở phủ Thừa Thiên được ghi nhận, rơi vào thời điểm trùng hợp với trận dịch hạch ở Trung Quốc. Năm 1894 (Quang Tự thứ 20), dịch hạch khởi phát ở Hương Cảng, rồi lan bùng thành dịch lớn, trận này được cho là có quan hệ với trận dịch hạch ở Vân Nam hồi năm 1855. Tuy nhiên, đây chỉ là sự trùng hợp thời điểm, nếu nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử dịch bệnh thì cần có thêm nhiều tư liệu chắc chắn.
Đại Nam thực lục (Thực lục) của nhà Nguyễn ghi chép có khá hơn những sách sử trước đó, không gian địa lý của thời này cũng tương ứng với nước ta ngày nay nên những ghi nhận này có thể phản ánh bao quát tình hình dịch bệnh toàn quốc trong thế kỷ 19. Có thể còn thiếu sót do chưa rà soát thật kỹ, trước mắt có thể thấy Thực lục chép khoảng 80 trận dịch lớn nhỏ trong thời gian gần 100 năm (từ năm 1801 đến năm 1895, trung bình hơn 1 năm xảy ra 1 trận)4. Tần suất kể trên khá dày nếu so với tình hình dịch bệnh ở Trung Quốc, thống kê trong một nghiên cứu cho biết dịch bệnh thời nhà Thanh (1644-1911) ghi nhận trong Thanh sử cảo là 98 trận lớn với cấp độ nguy hại nghiêm trọng (trong 267 năm, trung bình hai năm rưỡi 1 trận)5.
Tuy ghi chép vắn tắt nhưng Thực lục đã cho biết cụ thể nhiều số liệu quan trọng, đó là những báo cáo tổng kết sau dịch từ các địa phương gởi về, hoặc sự tổng hợp báo cáo đối với những trận dịch phạm vi toàn quốc. Ba trận đại dịch đáng lưu ý là trận dịch tả năm 1820, trận đại dịch (chưa rõ tên) năm 1849, và trận dịch đậu mùa năm 1888.
I. Phân loại sơ bộ và lược tả
Dịch tả
Năm 1820 (Canh thìn – Minh Mạng năm đầu), tháng 6 dịch khởi phát ở các trấn Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường (ứng với khu vực Tây Nam Bộ) rồi lan ra toàn quốc, đến tháng 12 mới ngưng, quân và dân đều mắc, số tử vong thống kê được là 206.835 người (dân số lúc này khoảng 7 triệu), triều đình phát chẩn 73 vạn quan tiền. Tuy không chép rõ tên dịch bệnh nhưng qua câu “Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp” thì có thể biết đây là trận dịch tả. Thi hào Nguyễn Du đương chức Hữu tham tri bộ Lễ, sắp đi sứ thì nhiễm bệnh dịch mà chết, Thực lục chép Nguyễn Du chết trong tháng 8, không nói bệnh chứng, nhưng riêng thấy trong bài thơ của danh sĩ Nguyễn Hành cảm tác khi hay tin chú mất có câu “Dịch lệ sao vội làm chết ông”, thì chắc rõ ông chết do dịch.6
Sau Việt Nam, Trung Quốc phải hứng chịu trận dịch này suốt năm 1821, phần “Chí”, mục “Tai dị” trong Thanh sử cảo ghi nhận dịch phát vào tháng 3 tại huyện Nhâm Khâu (Thương Châu, Hà Bắc, phía Nam Bắc Kinh khoảng 150km), sau đó bùng phát ở khoảng 30 địa phương của nhiều tỉnh, tuy không ghi con số thống kê tử vong cụ thể nhưng mô tả nhiều nơi ở mức đại dịch, người chết vô số, không đếm xuể.7 Trên bình diện quốc tế, theo giới nghiên cứu lịch sử bệnh truyền nhiễm Trung Quốc thì nguồn cơn trận dịch tả này khởi phát ở Ấn Độ vào năm 1817, sau đó theo các thuyền buôn lan về phía đông đến khắp Đông Nam Á rồi Trung Quốc, lan về phía tây đến các xứ ven Địa Trung Hải.
Thực lục chép “dịch phát ở Hà Tiên rồi lan ra toàn quốc”, và trong khi vua Minh Mạng còn đang lo cầu đảo với tâm trí rối bời bảo với các quan: “Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay”, thì Thượng thư bộ Lễ kiêm quản Khâm thiên giám Phạm Đăng Hưng tâu rằng: “Thần nghe dịch bệnh từ Tây dương sang”. Lời tâu của Phạm Đăng Hưng cho thấy triều thần đã có người biết dịch bệnh do truyền nhiễm từ xa, mà nay cũng có vẻ hợp với vấn đề nguồn gốc lây truyền dịch bệnh qua các thuyền buôn đến từ Ấn Độ mà các học giả Trung Quốc nêu ra.
Tháng 7 năm 1826, một trận dịch tả lớn bùng phát ở Gia Định (Nam Bộ) rồi lan rộng đến Quảng Bình, riêng Gia Định chết hơn 18.000 người. Tuy sự việc ở thành Gia Định không được chép rõ là dịch tả, nhưng cùng thời điểm xảy ra dịch bệnh, qua ghi chép về cái chết của Thái Bình công Mỹ Thuỳ (con của Hoàng thái tử Cảnh) thì xác định được đây là trận dịch tả. Thực lục chép: “Năm Bính Tuất, Tháng 7… Thái Bình công Mỹ Thùy mất, công là con Anh Duệ hoàng thái tử. Khi vua mới được tin công mắc chứng hoắc loạn cấp tính, tức thì sai đại thần đem ngự y tới thăm. Đến nơi thì công đã chết rồi”8 [ng.v, Phụ lục 2]. Về bệnh chứng được chép với tên hoắc loạn (霍乱), y thư cổ Trung Quốc là sách Tố vấn dùng để chỉ bệnh thổ tả, về sau cũng chỉ bệnh dịch tả truyền nhiễm; danh y Lê Hữu Trác cũng đã dùng từ hoắc loạn để chỉ bệnh thổ tả, do bản dịch Thực lục không dịch rõ ra chữ “thổ tả” và cũng không chú thích nên khó nhận biết.9
Những trận dịch chưa rõ tên
Trận dịch rất lớn xảy ra vào năm 1849 (Tự Đức năm thứ 2), số người chết gấp 3 lần so với trận năm 1820. Tháng 7, Kinh sư và nhiều tỉnh phát dịch, các trường thi Hương đều hoãn sang năm sau. Tháng 12, ghi nhận số người chết ở Vĩnh Long đến 43.400, ở Quảng Bình chết 23.300 người (còn ở nhiều tỉnh khác chưa báo cáo). Tháng 1 năm 1850, thống kê của bộ Hộ cho biết số tử vong trong năm 1849 là 589.460 người (dân số lúc này khoảng 7 – 8 triệu). Trận dịch này cực lớn nhưng thông tin rất ít, không nói tên dịch bệnh, chỉ nói dịch tràn lan do lệ khí (癘氣/ khí độc) phát tán. Cũng thấy Đại Nam liệt truyện Chính biên sơ tập chép: “(Tự Đức) Năm thứ 2. Mỹ Đường ốm chết. Kinh thành có lệ khí, xuống chiếu tìm cách để dẹp yên thiên tai.”. Trong thời điểm này, cách chép trong Liệt truyện có phải muốn nói Mỹ Đường (con lớn của Hoàng thái tử Cảnh) đã chết do dịch bệnh.10
Những năm kế tiếp lại thêm nhiều trận rất lớn ở các tỉnh từ Quảng Trị ra Bắc, như năm 1851 ở Lạng Sơn dịch bệnh kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, tử vong đến 4.480 người; và thống kê trong hai năm 1852-1853 ở một số tỉnh Bắc Kỳ cho thấy số tử vong đến 9.074 người.
Những trận dịch phạm vi vùng miền hoặc tỉnh, phủ, huyện cấp độ khá lớn có thể kể vào các năm 1839-1840, 1863, 1875, 1876, 1887, 1888.
Trận dịch kéo dài trong 2 năm, từ tháng 2 năm 1839 đến cuối năm 1840 trên khắp các tỉnh toàn miền Bắc. Số liệu cho thấy trận dịch này tổng cộng (2 năm) ước có đến 60.000 người chết (nặng nhất là Hải Dương, chết hơn 23.000 người; kế đến là Bắc Ninh, chết hơn 21.500 người)
Từ tháng giêng đến tháng 5 năm 1863, dịch bệnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Định Tường nghiêm trọng. Thừa Thiên và Quảng Trị chết 3.600 người, Định Tường chết 1.670 người, tháng 8 năm này dân Nam Kỳ lâm nạn đói.
Tháng 11 năm 1875, dịch bệnh cùng lúc phát ở nhiều tỉnh như Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Hải Dương, Nam Định, Thái Nguyên, Sơn Tây, Tuyên Quang, Phú Yên, Bình Thuận, nặng nhất là ở Khánh Hòa.
Địa bàn cấp huyện bị dịch bệnh nặng nề nhất là 2 huyện Hải Lăng và Minh Linh phủ Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị), trong 2 năm 1876-1877 số tử vong lên đến 4.326 người. Năm 1887, ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa dịch phát từ tháng 4 đến tháng 9 mới lắng, số liệu riêng tỉnh Thanh Hóa chết đến 9.500 người.
Đậu mùa
Từ tháng 11 năm 1887 đến tháng 6 năm 1888, trận dịch đậu mùa hoành hành dữ dội ở tỉnh Quảng Ngãi, thống kê thấy cả đàn ông và đàn bà chết mất 13.934 người. Triều đình Huế phải phối hợp với thầy thuốc Tây lo việc chủng ngừa đậu mùa diện rộng cho người dân. Trận dịch được ghi rõ tên đậu mùa sớm hơn thấy chép vào tháng 6 năm 1848 ở Quảng Bình, làm chết hơn 2.100 người. [Phụ lục 5]
Bệnh đậu mùa trong ghi chép thấy xuất hiện năm 1801 qua cái chết của Đông cung Cảnh tại Gia Định, năm này không nói có dịch trong dân nhưng lại chép rõ bệnh chứng làm chết Đông cung [Phụ lục 1]. Tương tự, vào năm 1829 (Minh Mạng 10) cũng thấy chép “tháng 4, Quảng Oai công là Quân chết, Công bị đậu, sinh chứng hiểm. Vua sai ngự y ngày đêm điều trị, không khỏi mà chết.”, năm này cũng không thấy chép có dịch đậu mùa trong dân.
Một trận dịch khác được chép với tên dịch sởi (疹氣 / chẩn khí / sởi truyền nhiễm) vào tháng 5 năm 1842 (Thiệu Trị thứ 2) ở Thừa Thiên và Quảng Trị. [Phụ lục 4].
Tại Trung Quốc, trận dịch bệnh ghi rõ tên đậu mùa có thể là vào đầu thế kỷ 16, sách Đậu chứng lý biện của danh y Uông Cơ cho biết trận dịch đậu mùa khủng khiếp năm Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1530) khiến dân chết hơn nửa phần11. Dịch đậu mùa được chép trong sử thì mãi đến cuối thế kỷ 17 mới thấy xuất hiện, Thanh sử cảo (Chí, Tai dị) chép vào năm Khang Hi thứ 20 (Tân dậu/1681) “Tấn Ninh (Vân Nam) có dịch, người và trâu bò chết nhiều; Khúc Dương (Hà Bắc) có dịch lớn”.12
Liên quan đến tên gọi bệnh đậu, cũng cần nhắc đến loại tin nhảm thời xưa, số là, Viên Mai chép trong Tùy Viên thi thoại (quyển 2): “Danh y Tô Châu Tiết Sanh Bạch nói: Trước thời Tây Hán, không nghe nói trẻ con mắc bệnh đậu. Từ lúc Mã Phục Ba (Viện) đi đánh Giao Chỉ, lính tráng mang bệnh về, gọi là lỗ sang (虜瘡/bệnh mụn rợ), không phải tên bệnh đậu (痘)”13
Viên Mai (Tử Tài) nổi tiếng văn đàn thời Thanh nhưng khi làm sách đã thu thập câu nói của Tiết Sanh Bạch giống như loại tin nhảm, không biết Tiết danh y nghe vụ này ở đâu, bởi từ Tây Hán về trước không riêng đậu mùa mà nhiều chứng dịch khác cũng đều chưa rõ tên, sử chỉ chép chung là dịch tật, dịch bệnh, ôn dịch. Mặc khác, Truyện Mã Viện trong Hậu Hán thư không thấy nói bệnh lỗ sang, mà chỉ nói: “Kiến Võ thứ 20, Giáp thìn (44 scn), Mã Viện chinh Giao chỉ, quan quân trải chướng dịch, mười phần chết hết bốn, năm”. Chướng dịch (瘴疫) hay chướng lệ (瘴癘) là bệnh do nhiễm khí độc rừng núi, về sau cũng chỉ sốt rét.
Cũng liên quan đến tên gọi bệnh đậu, thời nay, nói thêm về một thông tin thiếu chính xác trên trang Wikipedia, mục từ “Đậu mùa” ở trang này có đoạn viết là:
“Lịch sử Việt Nam có ghi lại một số những nhân vật chết vì bệnh đậu mùa. Trong đó có Hoàng tử Cảnh, người con cả của vua Nguyễn Thế Tổ (niên hiệu Gia Long). Hoàng tử Cảnh mất năm 22 tuổi, để lại một vợ và hai con. Vua Tự Đức cũng bị bệnh đậu mùa và bị vô sinh nên nhận một người con nuôi lên làm vua và chỉ tại vị được 3 ngày, đó là vua Dục Đức.”
Sử nhà Nguyễn cũng ghi hai nạn dịch lớn trước thời Pháp thuộc:
– ” Năm Canh Thìn (1820) tháng 11 (âm lịch) bệnh dịch lan tràn, khởi đầu từ Hà Tiên đến Bắc Thành. Nhiều người chết. Nhà nước chẩn cấp cho dân tổng cộng 73 vạn quan tiền.”
– ” Năm Canh Tý (1840) tháng 9 (âm lịch) ở Sơn Tây từ mùa xuân đến mùa thu có hơn 4.900 người chết dịch.” (Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1987. trang 425, 454.)”14
Hai trận dịch được dẫn trên đây không thể lấy làm tiêu biểu cho mục từ “Đậu mùa”, bởi trận đại dịch toàn quốc năm 1820 là trận dịch tả, còn trận dịch ở Sơn Tây năm 1840 hiện chưa xác định được tên dịch bệnh. Nếu cần nêu những trận dịch đậu mùa tiêu biểu trong lịch sử thì phải nói đến trận dịch ở Quảng Bình năm 1848 và ở Quảng Ngãi năm 1888.
Việc chủng đậu theo y thuật Tây phương được thực hiện lần đầu năm 1805 tại Macau, cùng lúc với sự kiện xuất bản tài liệu Anh Cát Lợi quốc tân xuất chủng đậu kỳ thư (Phép chủng đậu mới lạ ở nước Anh) bằng tiếng Trung do bác sĩ của công ty Đông Ấn (Anh) A. Pearson biên soạn. Việc này được tiếp tục vào những năm 1815 tại Quảng Châu, 1841 tại Thượng Hải, 1961 tại Triệu Khánh (Quảng Đông), 1863 tại Phật Sơn (Quảng Đông), 1864 tại Bắc Kinh, 1882 tại Cửu Giang (Giang Tây), 1883 tại Nghi Xương (Hồ Bắc), 1886 tại Trấn Giang (Giang Tô), 1890 tại Thành Đô (Tứ Xuyên).15
Dịch hạch
Dịch hạch tuy được biết đến ở phương Tây rất sớm nhưng ở Trung Quốc và nước ta thấy sử liệu ghi chép về nó khá hiếm hoi. Dựa vào nhiều nguồn, Trương Đại Khánh (sđd) thống kê được trong 50 năm (1840-1910), ở Trung Quốc có 3 loại dịch bệnh xảy ra nhiều nhất là: dịch tả (霍乱 / hoắc loạn) 45 lần, dịch hạch (鼠疫 / thử dịch) 34 lần, đậu mùa (天花 / thiên hoa) 11 lần.5 Một số chuyên khảo khác thì cho biết vào thời Minh Vạn Lịch, trong 10 năm (1579-1588) số tử vong do dịch hạch ở Sơn Tây và Hà Bắc lên tới 5 triệu người.16
Trong Thực lục, suốt các ghi chép không thấy nhắc đến tên bệnh dịch hạch, cũng không thấy những chi tiết miêu tả bệnh chứng để có thể suy đoán. Riêng thấy một trận dịch kéo dài từ tháng 5 năm 1894 đến tháng giêng năm 1895 ở phủ Thừa Thiên được ghi nhận, rơi vào thời điểm trùng hợp với trận dịch hạch ở Trung Quốc. Năm 1894 (Quang Tự thứ 20), dịch hạch khởi phát ở Hương Cảng, rồi lan bùng thành dịch lớn, trận này được cho là có quan hệ với trận dịch hạch ở Vân Nam hồi năm 1855. Tuy nhiên, đây chỉ là sự trùng hợp thời điểm, nếu nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử dịch bệnh thì cần có thêm nhiều tư liệu chắc chắn.