Mạc Kính Điển: Cây cổ thụ chèo chống nhà Mạc

Tính Giao

Giang hồ mạng 5.0
Trong thời kỳ Nam Bắc triều, Khiêm vương Mạc Kính Điển là trụ cột chèo chống cho nhà Mạc, giúp nhà Mạc nhiều lần biến nguy thành an. Sau khi ông mất, hậu duệ của ông lại giúp nhà Mạc duy trì ở Cao Bằng thêm hơn nửa thế kỷ nữa.

Phụ chính phò tá cho Vua nhỏ
Năm 1525, con trai của Mạc Đăng Dung là Mạc Đăng Doanh sinh được người con trai ở Nam Sách, Hải Dương, đặt tên là Mạc Kính Điển. Từ lúc mới sinh Mạc Kính Điển đã không khỏe, dù thay đổi vú nuôi nhiều lần nhưng vẫn rất hay ốm. Lúc này vợ của Phạm Quỳnh cũng mới sinh con nên được gửi đến làm nhũ mẫu cho Kính Điển, từ đó mà Kính Điển khỏe mạnh hơn.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi Vua, lập ra nhà Mạc. Ông ở ngôi 3 năm, đến năm 1530 thì nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh, hiệu là Mạc Thái Tông. Đại Việt bước vào giai đoạn thịnh trị 10 năm.

Đến năm 1340 thì Mạc Thái Tông mất, con trưởng là Mạc Phúc Hải tức anh của Mạc Kính Điển lên ngôi Vua. Hay tin Thái Tông mất, Thái Tổ Mạc Đăng Dung đau buồn, đến năm sau cũng qua đời.

Mạc Phúc Hải ở ngôi được 5 năm thì mất, trước khi mất thì nhường ngôi cho con còn nhỏ là Mạc Phúc Nguyên. Các trụ cột nhà Mạc đều qua đời khiến Triều đình lục đục, Mạc Phúc Hải trước khi mất đã nhờ em mình là Khiêm vương Mạc Kính Điển làm Phụ chính phò tá cho Vua còn nhỏ.

Đánh bại thế lực muốn giành ngôi Vua
Triều đình theo di chiếu để Mạc Phúc Nguyên lên ngôi, hiệu là Mạc Tuyên Tông. Tuy nhiên theo gia phả họ Mạc thì Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi giữ chức Thái úy trong triều, nắm giữ quân đội lại phản đối việc lập Mạc Phúc Nguyên lên ngôi, mà nên lập em của Mạc Thái Tông là Hoằng vương Mạc Chính Trung. Ông nói:

“Hiện nay trong nước đang lúc nhiều nạn, nên lập vua lớn tuổi. Hoằng vương Chính Trung đã nhiều phen cầm quân và thường thắng trận, vậy xin dựng lên ngôi”.

Tuy nhiên Mạc Kính Điển không đồng ý, ông theo lời căn dặn của Vua quyết đưa Mạc Phúc Nguyên lên ngôi. Phạm Tử Nghi liền cùng Chính Trung khởi binh chống lại.

Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi đưa quân tấn công vào Kinh thành. Mạc Kinh Điển yếu thế phải cử người đưa Vua mới đi lánh nạn, còn bản thân ông bày quân chống giữ Kinh đô. Sau ông phải mời tướng quân Lê Bá Ly giúp đỡ mới chống giữ được quân của Phạm Tử Nghi.

Phạm Tử Nghi tấn công nhiều lần, dù hao binh tổn tướng nhưng không sao chiếm được Kinh thành, phải rút quân chiếm giữ vùng Quảng Ninh và Hải Dương.

Năm 1547, Mạc Kính Điển, đại tướng Lê Bá Ly cùng Tây quận công Nguyễn Kính tập hợp lực lượng thủy bộ đánh bại được Phạm Tử Nghi. Thua trận, Mạc Chính Trung phải chạy sang Khâm châu và Quảng Đông của nhà Minh, còn Phạm Tử Nghi thì đến Vân Đồn.

Chính Trung muốn nương nhờ nhà Minh, tuy nhiên Phạm Tử Nghi lại không đồng ý dẫn đến mâu thuẫn. Tử Nghi đưa quân đánh phá Quảng Tây và Quảng Đông của nhà Minh nhằm đòi lại Chính Trung, rồi sau đó đưa quân đánh phá Khâm châu và Liêm châu. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép rằng: “Tử Nghi trốn vào đất Minh, thả quân đi bắt người cướp của ở Quảng Đông, Quảng Tây, người Minh không thể kìm chế được”.

Nhà Minh lúng túng đối phó rồi trách cứ nhà Mạc. Mạc Kính Điển cho quân sang Trung Quốc tiến đánh, Phạm Tử Nghi phải cho quân về nước đóng ở Yên Quảng. Năm 1551, Mạc Kính Điển đưa quân đến bắt Được Phạm Tử Nghi.

Chính Trung bỏ chạy sang nương nhờ Trung Quốc nhưng không được nhà Minh ủng hộ làm Vua, bị giết ở đất khách. Mạc Kính Điển dẹp yên nội chiến cướp ngôi, giúp nhà Mạc ổn định.

Nội bộ mâu thuẫn, nhà Mạc lâm nguy
Năm 1550, vào thời điểm chưa dẹp xong nạn Mạc Chính Trung thì trong Triều xảy ra chuyện lớn. Thái tể Lê Bá Ly lập công lớn cùng Kính Điển đánh tan quân của Phạm Tử Nghi nên được tin dùng. Gia đình Phạm Quỳnh có công với Phụ chính Mạc Kính Điển và nhà Mạc cũng được tin dùng.

Phạm Quỳnh thấy Lê Bá Ly quyền lực lớn hơn mình thì ghen ghét buông lời gièm pha Lê Bá Lý cùng con trai trưởng là Lê Khắc Thận. Tuy nhiên Mạc Kính Điển không nghe.

Khi Mạc Kính Điển đang ở Dương Kinh lo đối phó quân của Tử Nghi, ở trong cung vua Mạc Tuyên Tông mới chỉ 16 tuổi còn trẻ nên nghe lời của Phạm Quỳnh. Theo “Đại Việt thông sử”, nửa đêm ngày 12/2/1551, cha con họ Phạm bất ngờ đưa quân bản bộ đến trại Hồng Mai vây bắt Lê Bá Ly, đồng thời đến nhà bắt Nguyễn Thiến. Nhưng lúc đó Lê Bá Ly ở trong trại quân chứ không ở Hồng Mai, Nguyễn Thiến ở trong cung chưa về.

Biết tin cha con họ Phạm định bắt mình, Lê Bá Ly tập hợp quân rồi tiến đánh. Hai bên giao chiến ác liệt, cuối cùng quân cha con Phạm Quỳnh, Phạm Dao thua phải bỏ chạy.

Lê Bá Ly cùng các thủ hạ đuổi theo, đến cửa Chu Tước của Kinh thành. Mạc Tuyên Tông phải chạy sang sông đến Bồ Đề rồi cho người mang chỉ dụ đến yêu cầu Lê Bá Ly bãi binh. Nhưng Lê Bá Ly yêu cầu phải giải cha con họ Phạm đến mới chịu bãi binh.

Mạc Tuyên Tông bèn triệu các tướng đến đánh, Lê Bá Ly chia quân cố thủ rồi viết thư nhờ người đến giúp. Quân của Lê Bá Ly đánh bại quân của Vua khiến quân của Mạc Tuyên Tông phải rút lui. Lê Bá Ly lại yêu cầu giao lại cha con họ Phạm nhưng Mạc Tuyên Tông không nghe.

Lê Bá Ly liền cho người đưa thư đến Thanh Hóa gặp vua Lê Trung Tông xin hàng. Tháng 3 năm 1551, Lê Bá Ly cùng thông gia Nguyễn Thiến, các con trai Lê Khắc Thận, Lê Khắc Đôn, các con rể Nguyễn Quyện và Bùi Bỉnh Uyên (cháu Bùi Trụ) cùng 14.000 quân vào Thanh Hóa đi theo vua Lê.

Nhà Mạc bị tổn thất nghiêm trọng, mất nhều tướng giỏi sau sự kiện này. Rất nhiều tướng sĩ dao động, Đặng Huấn, Nguyễn Khải Khang và cháu là Nguyễn Hữu Liêu cũng vì dao động mà bỏ Mạc vào nam theo nhà Lê.

Vua Lê vui mừng phong cho Lê Bá Ly làm Phụng Quốc Công. Trịnh Kiểm chớp cơ hội đưa quân tiến đánh nhà Mạc.

Ngay trong tháng 3/1551, Trịnh Kiểm cử Lê Bá Ly, Nguyễn Quyện, Lê Khắc Thận làm tiên phong cầm quân tấn công nhà Mạc, phối hợp cùng quân của chúa Bầu Vũ Văn Mật ở Tuyên Quang, hình thành hai đầu tấn công nhà Mạc.

Tướng sĩ nhà Mạc rối bời, tình thế lâm nguy, Kinh thành Thăng Long bị uy hiếp, chỉ còn trông cậy vào Mạc Kính Điển.

Thủ vững kinh thành
Cho rằng thời cơ tốt đã đến, Trịnh Kiểm chỉ huy quân Nam triều phối hợp cùng quân chúa Bầu của Vũ Văn Mật phía bắc tiến đánh. Nhà Mạc lâm nguy trong khi quân tướng vẫn chưa yên sau biến cố lớn. Mạc Kính Điển đốc thúc quân trấn giữ các nơi.

Trịnh Kiểm cho quân qua sông Thao đến núi An Lạc. Còn quân Chúa Bầu và Lê Bá Ly, Nguyễn Khải Khang từ ba hướng bắc nam tiến đánh Thăng Long. Trước sức tấn công mạnh mẽ của quân Nam triều, quân nhà Mạc liên tiếp thua trận. Ba cánh quân Nam triều cùng Vũ Văn Mật từ bắc – nam tiến về Thăng Long.

Mạc Kính Điển cho người tin cẩn phò tá vua Mạc Tuyên Tông rời Kinh thành đến Kim thành (Hải Dương), còn ông ở lại quyết chiến với quân Nam triều. Ông cho đắp lũy đất từ Bồ Đề (ở xã Lâm Hạ) kéo dài ra phía bắc để phòng thủ, lại xếp đặt thủy chiến để quân thủy bộ hỗ trợ được cho nhau. Ông cũng ổn định lòng quân, ra kỷ luật nghiêm ngặt.

Khi quân Nam Triều đến, Mạc Kính Điển cùng quân sĩ một lòng chống cự, đẩy lui quân Nam triều hết lần này đến lần khác. Quân Nam triều có kế họach đưa vua Lê vào Kinh thành Thăng Long, nên cũng quyết chiến tiến vào Kinh thành. Tuy nhiên dù giao chiến đã lâu nhưng quân nhà Mạc vẫn giữ vững các phòng tuyến dẫn vào Kinh thành.

Trịnh Kiểm thấy lực lượng nhà Mạc còn nhiều, lòng dân vẫn hướng về nhà Mạc, nhất là từ sau giai đoạn 10 năm thịnh trị thời Mạc Thái Tông. Cho rằng thời cơ lớn chưa đến, Trịnh Kiểm đành ngậm ngùi cùng Lê Bá Ly rút về Thanh Hóa. Ở phía bắc quân của Vũ Văn Mật bị chặn đứng cũng rút về Tuyên Quang. Thấy quân Nam triều rút, Mạc Kính Điển chia quân lấy lại các vùng đã mất.

Mời gọi Nguyễn Quyện
Lúc này từ Ninh Bình ra bắc là thuộc nhà Mạc, từ Thanh Hoá vào nam là Nam triều nhà Lê. Nhận thấy Nam triều ngày càng mạnh, để lâu sẽ mang đến tai họa, Mạc Kính Điển nhiều lần cho quân nam tiến, dù không diệt được nhà Lê nhưng những cuộc chiến khiến nhà Lê không yên ổn phát triển.

Nhà Lê ở Nam triều từ khi có Lê Bá Ly cùng cha con Nguyễn Thiến, Nguyễn Quyện theo về thì rất mạnh.

Năm 1557, cả Lê Bá Ly và Nguyễn Thiến đều mất vì tuổi cao. Mạc Tuyên Tông thấy con của Nguyễn Thiến và cũng là con rể của Lê Bá Ly là Nguyễn Quyện rất có tài, lập nhiều chiến công khi đối đầu quân Mạc nên muốn tìm cách kéo Nguyễn Quyện theo về nhà Mạc như xưa.

Biết Nguyễn Quyện là học trò Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Mạc Tuyên Tông nhờ Trạng Trình giúp đỡ. Trạng Trình hẹn gặp và nói chuyện với anh em Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn. Sau đó hai anh em quay lại theo nhà Mạc.

Thấy anh em Nguyễn Quyện theo về với mình, Mạc Kính Điển rất vui mừng. Ông gả luôn hai con gái của mình cho anh em Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn. Từ đó Nguyễn Quyện trung thành với nhà Mạc đến tận cuối đời.

Tháng 9 năm 1557, Trịnh Kiểm thống lĩnh 5 vạn quân tiến đánh nhà Mạc. Quân Nam triều thắng lớn rồi tiến thẳng đến Sơn Nam. Nguyễn Quyện nhận lệnh chặn quân Nam triều, cuộc chiến diễn ra ở sông Giao Thủy. Quân Nam triều bị đánh bại, tướng sĩ phải nhảy xuống sông, bỏ thuyền lên bờ tháo chạy.

Mạc Kính Điển đưa quân chặn đường về của quân Nam triều khiến quân Nam triều thảm bại, vài chục chiến tướng tử trận/ Trịnh Kiểm rút về đến nơi thì chỉ còn lại non nửa quân số.

Tài cầm quân giúp nhà Mạc vượt qua phong ba bão táp
Tháng 9/1559, Trịnh Kiểm cho tinh binh trấn giữ các vùng biển trọng yếu, còn mình xuất 6 vạn đại quân quyết diệt nhà Mạc. Biết phía nam nhà Mạc có tuyến phòng thủ chặt chẽ, Trịnh Kiểm tiến quân ra Sơn Tây. Quân chúa Bầu cũng đánh hội với quân Nam triều, nhờ chúa Bầu giúp đỡ mà quân Nam triều có nguồn lương thảo dồi dào có thể đánh lâu dài. Quân hai bên vượt sông đánh chiếm Lạng Sơn, Kinh Bắc.

Cuối năm 1559, đầu năm 1560, Trịnh Kiểm cho quân tiến đánh Khoái Châu, Hồng Châu, các huyện Siêu Loại, Văn Giang, Nam Sách, Tiên Hưng và đều giành thắng lợi.

Mạc Kính Điển đốc thúc quân chặn các tuyến đường vào Kinh thành Thăng Long, quân Nam triều tấn công nhưng không sao phá được. Trịnh Kiểm liền cho quân đánh phá các vùng Đông Triều, Giáp Sơn, Chí Linh, An Dương. Quân Nam triều đã chiếm được vùng đất phía bắc sông Hồng.

Quân Nam triều cố đánh vào Thăng Long nhưng bị Mạc Kính Điển cho quân phòng thủ chặn lại. Dù Trịnh Kiểm đánh mãi đến sang năm 1561 nhưng quân Nam triều vẫn không sao tiến được. Trịnh Kiểm đành cho quân tiếp tục đánh chiếm các vùng đất phía đông.

Nhận thấy quân Nam triều tấn công phía bắc. Tháng 3/1561, Mạc Kính Điển cho quân tiến thẳng vào Nam triều, tấn công Thanh Hoá, khiến quân Nam triều ở đây bị đánh bại phải bỏ chạy.

Trịnh Kiểm nghe tin Thanh Hóa bị đánh thì vội rút quân trở về, Mạc Kính Điển cũng cho quân rút về.

Với cuộc tấn công vào Nam triều, Mạc Kính khiến quân nhà Lê đang ở thế chủ động tấn công phải lo rút trở về phòng thủ, nhờ đó mà giải nguy cho Kinh thành Thăng Long.

Tiếp tục ngăn cản quân Nam triều, chủ động tấn công
Năm 1562, vua Mạc Tuyên Tông mất, Mạc Mậu Hợp mới 2 tuổi lên ngôi Vua. Vì Vua còn nhỏ cần người ở bên cạnh, mà Mạc Kính Điển quá bận việc bên ngoài, nên ông để em mình là Mạc Đôn Nhượng làm Nội Phụ chính giúp Vua những việc ở trong Triều. Bản thân Mạc Kính Điển thì lo việc quân cơ bên ngoài, thực chất mọi việc vẫn đều do ông Phụ chính.

Năm 1563, Trịnh Kiểm lại cho quân tấn công ra bắc. Thay vì chỉ thủ, Mạc Kính Điển cho quân tiến đánh Thanh Hóa của Nam triều. Trịnh Kiểm nhanh chóng sai Lộc quận công đưa quân tiến nhanh về trước còn mình thì theo sau.

Lộc quận công về Thanh Hóa trước, hợp với quân nhà Lê ở đây tiến đánh quân Mạc ở Du Trường. Mạc Kính Điển cho quân giả thua rồi bỏ chạy. Quân nhà Lê đuổi theo và rơi vào trận địa mai phục được chuẩn bị trước. Quân nhà Mạc bao vây chặt thành mấy lớp, quân Nam triều tử trận rất nhiều, Lộc quận công bị quân Mạc đâm chết trên lưng voi. Các tướng còn lại cố liều chết phá vây chạy thoát vào núi.

Lúc này Trịnh Kiểm cùng toàn quân sắp về đến, Mạc Kính Điển cũng cho quân rút vì đã đạt được mục tiêu trong kế hoạch.

Sau đó Mạc Kính Điển cùng Nguyễn Quyện nhiều lần tiến đánh Thanh Hóa, Nghệ An, khiến quân Nam triều điêu đứng, nhiều danh tướng Nam triều tử trận, như tướng hàng đầu là Trịnh Mô bị Nguyễn Quyện giết chết.

Những cuộc tấn công của Mạc Kính Điển khiến quân Nam triều chỉ lo cố thủ và không còn đủ sức để tấn công ra bắc nữa.
 
Mạc Kính Điển mất, nhà Mạc suy yếu
Năm 1580, Mạc Kính Điển mất, thời điểm này nhà Mạc mạnh hơn nhà Lê rất nhiều, cả về kinh tế cũng như quân đội. Thế nhưng sau khi ông mất, nhà Mạc ngày càng suy sụp.

Mạc Đôn Nhượng vốn được cử làm Nội Phụ chính nhưng không quản giáo được Mạc Mậu Hợp khiến Vua càng lớn càng hư hỏng. Mạc Đôn Nhượng cũng chẳng màng việc Triều chính, nhiều người có tâm huyết gửi tấu sớ lên nhưng không có hồi âm.

Nhằm ngăn quân Nam triều hồi phục sức mạnh, Mạc Đôn Nhượng cũng nhiều lần cho quân tấn công, tuy nhiên Mạc Đôn Nhượng không có tài cầm quân như Mạc Kính Điển, nên khi thì bị phục binh đánh thua, khi thì hết lương thảo phải kéo quân về.

Từ năm 1583 thì nhà Mạc không còn nam tiến nữa, nhà Lê – Trịnh càng có cơ hội phát triển mạnh. Trong khi đó Vua Mạc Mâu Hợp thì suốt ngày ăn chơi sa đà tửu sắc, Mạc Đôn Nhượng thì không lo chính sự.

Năm 1592, Trịnh Tùng ra bắc chiếm được Thăng Long, Mạc Mậu Hợp bỏ chạy nhưng bị bắt và bị khép vào tội chết.

Hậu duệ lên ngôi làm chủ Cao Bằng
Trước đây Tây Quốc Công Nguyễn Kính là người có công lớn với nhà Mạc nên các con ông đều được ban quốc tính mang họ Mạc. Một người con của ông là Nguyễn Ngọc Liễn được ban họ Mạc, lấy tên là Mạc Ngọc Liễn, cũng là hôn phu của công chúa Mạc Thị Ngọc Lâm.

Khi nhà Mạc thua, Mạc Ngọc Liễn bỏ trốn. Tháng 3/1593, Ngọc Liễn tìm người con trai của Mạc Kính Điển là Mạc Kính Cung lập làm Vua.

Đến năm 1594 thì Mạc Ngọc Liễn mất, trước khi mất để lại bức thư dặn Mạc Kính Cung rằng: ”Khí số nhà Mạc đã hết, nhà Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta vô tội mà để cho mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế. Ta nên lánh mình ngoài cõi, dấu tiết đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được…”

Mạc Kính Cung cầm cự với quân nhà Lê trong hoàn cảnh nhà Mạc đã rất yếu. Dù Mạc Kính Cung đã lấy lại được Thăng Long vào năm 1600 nhưng sau đó không giữ được. Nhớ lời dặn của Mạc Ngọc Liên, ông liền rút đến Cao Bằng vào năm 1621.

Từ đó Mạc Kính Cung trấn giữ vùng đất ở Cao Bằng, mang lại nhiều lợi ích cho dân chúng. Vua khuyến khích phát triển nông nghiệp, thương mại giúp kinh tế phát triển. Vua cũng cho xây dựng thành trì, đồn lũy nhằm ngăn chặn quân nhà Lê. Vua cũng cho mở khoa thi nhằm có được hiền tài phụng sự Xã Tắc. Nhờ đó nhà Mạc ở Cao Bằng còn trụ ở nơi đây mãi đến năm 1677 mới chấm dứt.

Tài năng và đức độ của Mạc Kính Điển khiến người nhà Mạc tôn kính, người theo nhà Lê cũng kính nể. Cuốn Đại Việt Sử ký Toàn thư do các sử gia nhà Lê đã chép rằng: “Kính Điển là người nhân hậu, dũng lược, thông minh, tài trí, nhạy bén, hiểu đời, từng trải nhiều gian nan nguy hiểm, cần lao, trung thành”.

Cuốn “Đại Việt thông sử” của Lê Qúy Đôn có ghi lại rằng: “Kính Điển là người nhân hậu, linh mẫn, dũng cảm có thừa” và “ông tiếp đãi quan liêu có lễ độ, đối với quân sĩ có ân nghĩa, từng trải qua biết bao sự gian hiểm, mà vẫn cần lao trung thành, thời bấy giờ tựa vào ông làm trọng. khi ông chết, lòng người trong nước đều dao động!”
 
Thời thế tạo A hùng, càng binh đao loạn lạc, càng lắm A hùng xuất hiện. Chỉ có điều dân khổ vãi lol, nhưng các A hùng .... mặc kệ, cứ thỏa chí 1 đời đã.
 
an_nan_lai_wei_tu_ce.jpg
Con cháu thì quỳ dân bản đồ và sổ hộ khẩu cho Đại Minh
 

Có thể bạn quan tâm

Top