Theo quan điểm của t khi đối chiếu với đoạn trích dưới đây thì không cần phải có một đơn vị chính trị - nhà nước - tổ chức tôn giáo nào đó công nhận mới có thể gọi là Tu sĩ.
Còn chi tiết hơn :
- Nếu ông Minh Tuệ thực hiện được phép truyền Sa Di giới hay Cụ Túc giới thì có thể gọi là Tỳ Kheo hình thức ( có hình tướng).
- Nếu không có thì gọi là người tu học theo Phật, nếu thực hành theo Tứ Niệm Xứ thì cũng có thể gọi là Tỳ Kheo.
Trích :
Bhikkhu (Tỳ-khưu, Tỳ-kheo, Tỷ-kheo)
Chữ Tỳ-khưu (Bhikkhu) theo nghĩa đen là người đi xin ăn.
Trong Tạng Luật (Phân Tích Giới Tỳ-khưu tập 1) giải thích:
1- Tỳ-khưu là người đi xin ăn
2- Tỳ-khưu là người mặc y cắt thành từng mảnh
- Tỳ-khưu là người xuất gia bằng Ehi bhikkhu – Cách xuất gia đầu tiên.
- Cách xuất gia thứ 2: Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi, Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi, Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi (Thọ trì Tam Quy được gọi là Tỳ-khưu).
- Cách xuất gia thứ 3: Tứ tác bạch tuyên ngôn (Tuyên ngôn 4 lần).
- Cách xuất gia thứ 4: Nhận trọng vật (đây là cách xuất gia của Ngài Mahākassapa nhận y
phấn tảo của Đức Thế Tôn).
- Cách xuất gia thứ 5: Nhận 8 trọng pháp (Di mẫu Gotāmī).
- Cách xuất gia thứ 6: Hỏi pháp (Ngài Sopāka 7 tuổi trả lời pháp, Đức Thế Tôn ban cho địa vị Thera).
- Cách xuất gia thứ 7: Thể hiện thần thông (Ngài Sumana vừa cạo xong tóc chứng quả A La Hán. Ngài Sumana đến hồ Anotatta lấy nước cho ngài Anuruddha, Ngài Sumana là Sadi nhỏ tuổi thể hiện thần thông được Đức Thế Tôn ban cho địa vị Thera).
- Trong Bản Sớ Giải của sách Thanh Tịnh Đạo, Ngài Buddhaghosa giải thích: “Người thấy sợ hãi trong sanh tử luân hồi được gọi là Tỳ-khưu”.
- Trong tập Niddesa giải thích: “Người phá vỡ được những phiền não được gọi là Tỳ-khưu”.
- Trong Kinh Pháp Cú, Phẩm Tỳ-khưu giải thích: “Người nào chế ngự tay và chân, chế ngự lời và đầu, người đó vui thích với nội thiền định thì người đó xứng danh là Tỳ-khưu”.
Hay:
- “Người biết đủ, ít dục được gọi là Tỳ-khưu”.
- Tuy nhiên, trong Bản Sớ Giải Kinh Niệm Xứ giải thích rằng người nào thực hành 4 pháp Niệm Xứ được gọi là Tỳ-khưu.
Tỳ-khưu ở đây được hiểu là Tỳ-khưu, Tỳ-khưu ni, Sadi, Sadi ni, Thiện nam, Tín nữ, luôn cả Chư thiên và Phạm Thiên, người nào tu tập 4 Niệm Xứ thì được gọi là Tỳ-khưu.
Như vậy, một ý nghĩa sâu thẳm là người nào không tu tập 4 pháp Niệm Xứ thì người đó không được gọi là Tỳ-khưu.
Trích: Kinh Niệm Xứ Giảng Giải, Tập I, TK Chánh Minh
Còn chi tiết hơn :
- Nếu ông Minh Tuệ thực hiện được phép truyền Sa Di giới hay Cụ Túc giới thì có thể gọi là Tỳ Kheo hình thức ( có hình tướng).
- Nếu không có thì gọi là người tu học theo Phật, nếu thực hành theo Tứ Niệm Xứ thì cũng có thể gọi là Tỳ Kheo.
Trích :
Bhikkhu (Tỳ-khưu, Tỳ-kheo, Tỷ-kheo)
Chữ Tỳ-khưu (Bhikkhu) theo nghĩa đen là người đi xin ăn.
Trong Tạng Luật (Phân Tích Giới Tỳ-khưu tập 1) giải thích:
1- Tỳ-khưu là người đi xin ăn
2- Tỳ-khưu là người mặc y cắt thành từng mảnh
- Tỳ-khưu là người xuất gia bằng Ehi bhikkhu – Cách xuất gia đầu tiên.
- Cách xuất gia thứ 2: Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi, Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi, Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi (Thọ trì Tam Quy được gọi là Tỳ-khưu).
- Cách xuất gia thứ 3: Tứ tác bạch tuyên ngôn (Tuyên ngôn 4 lần).
- Cách xuất gia thứ 4: Nhận trọng vật (đây là cách xuất gia của Ngài Mahākassapa nhận y
phấn tảo của Đức Thế Tôn).
- Cách xuất gia thứ 5: Nhận 8 trọng pháp (Di mẫu Gotāmī).
- Cách xuất gia thứ 6: Hỏi pháp (Ngài Sopāka 7 tuổi trả lời pháp, Đức Thế Tôn ban cho địa vị Thera).
- Cách xuất gia thứ 7: Thể hiện thần thông (Ngài Sumana vừa cạo xong tóc chứng quả A La Hán. Ngài Sumana đến hồ Anotatta lấy nước cho ngài Anuruddha, Ngài Sumana là Sadi nhỏ tuổi thể hiện thần thông được Đức Thế Tôn ban cho địa vị Thera).
- Trong Bản Sớ Giải của sách Thanh Tịnh Đạo, Ngài Buddhaghosa giải thích: “Người thấy sợ hãi trong sanh tử luân hồi được gọi là Tỳ-khưu”.
- Trong tập Niddesa giải thích: “Người phá vỡ được những phiền não được gọi là Tỳ-khưu”.
- Trong Kinh Pháp Cú, Phẩm Tỳ-khưu giải thích: “Người nào chế ngự tay và chân, chế ngự lời và đầu, người đó vui thích với nội thiền định thì người đó xứng danh là Tỳ-khưu”.
Hay:
- “Người biết đủ, ít dục được gọi là Tỳ-khưu”.
- Tuy nhiên, trong Bản Sớ Giải Kinh Niệm Xứ giải thích rằng người nào thực hành 4 pháp Niệm Xứ được gọi là Tỳ-khưu.
Tỳ-khưu ở đây được hiểu là Tỳ-khưu, Tỳ-khưu ni, Sadi, Sadi ni, Thiện nam, Tín nữ, luôn cả Chư thiên và Phạm Thiên, người nào tu tập 4 Niệm Xứ thì được gọi là Tỳ-khưu.
Như vậy, một ý nghĩa sâu thẳm là người nào không tu tập 4 pháp Niệm Xứ thì người đó không được gọi là Tỳ-khưu.
Trích: Kinh Niệm Xứ Giảng Giải, Tập I, TK Chánh Minh