Johnny Lê Nữu Vượng
Già làng
Đế quốc Mông Cổ đã cai trị nước Nga hơn 3 thế kỷ, bắt đầu từ khoảng những năm 1240. Phải đến những năm 1550 thì Sa hoàng Ivan IV (tức Ivan Bạo chúa) mới đánh bại các Hãn quốc cuối cùng còn lại là Astrakhan và Kazan. Riêng hãn quốc Crimea thì còn tồn tại đến tận năm 1783.
Vậy 3 thế kỷ này đã tác động đến tiến trình lịch sử của Nga như thế nào?
Về vấn đề này, ở Nga có 3 quan điểm chính.
Quan điểm thứ nhất, theo hầu hết các ghi chép, ảnh hưởng của Mông Cổ là hoàn toàn tiêu cực. Thời kỳ cai trị của Mông Cổ là giai đoạn đau thương, mất mát, sỉ nhục và áp bức. Nước Nga héo mòn dưới cái "ách Tartar" (Tartar yoke) và bị ngăn cản trên con đường phát triển thành một cường quốc Châu Âu."
Theo quan điểm này, người Mông Cổ bị cho là thủ phạm của mọi điều đã kìm hãm nước Nga trên con đường phát triển. Họ bị cho là đã ném nước Nga vào "Kỷ nguyên đen tối", làm thô bỉ hoá mọi khía cạnh của cuộc sống của người Nga. Nhà phê bình văn học người Nga Vissarion Belinsky đã liệt kê những khía cạnh bị hủ hoá như vậy gồm: Sự cách ly phụ nữ, thói quen chôn tiền dưới đất và ăn mặc tồi tàn vì sợ phô trương của cải, tệ cho vay nặng lãi, óc lười suy nghĩ, vô tri, sự tự coi thường bản thân.
Tóm lại đây là tất cả những gì mà Peter Đại đế muốn gột rửa sạch, những gì khiến Nga trở nên khác biệt với Châu Âu, những gì không phải sẵn có (native) ở trên cơ thể nước Nga mà là do những kẻ Tartar cấy ghép vào.
Quan điểm thứ hai là của một số người ngưỡng mộ văn hoá và dân tộc Slavơ (tiếng Anh gọi là Slavophile). Đây là những người theo chủ nghĩa dân tộc vào thế kỷ 19 vốn phản đối việc Nga đi theo mô hình phát triển của phương Tây.
Trong khi chấp nhận rằng người Mông Cổ đã gây ra những tác động có tính chất huỷ hoại đối với Nga, họ nhìn nhận thời kỳ Mông Cổ chiếm đóng là thời kỳ có một số tác động tích cực đối với sự hình thành nhà nước Nga sau này.
Đặc biệt, việc nước Nga bị cô lập với phương Tây đã cho phép họ gìn giữ di sản Byzantine, văn hoá Slavơ lâu đời cùng các đức tin Chính thống giáo tránh khỏi các xu hướng thế tục và mang tính chất cá nhân chủ nghĩa của chủ nghĩa nhân đạo Phục hưng Châu Âu
Quan điểm thứ ba và cũng là quan điểm phổ biến hơn thì phủ nhận việc người Mông Cổ có bất cứ ảnh hưởng nào đến nước Nga: Họ chỉ đến, khủng bố và cướp bóc rồi biến mất không để lại dấu vết.
Ví dụ, sử gia Nga Karamzim trong cuốn "Lịch sử nhà nước Nga" không viết một từ nào về di sản văn hoá của thời kỳ Mông Cổ cai trị. Ông ta nói "Làm sao mà một dân tộc văn minh có thể học được gì từ những kẻ du mục đó?". Đây là quan điểm phổ biến của giới trí thức Âu hoá, vốn muốn Nga hướng về phương Tây.
Việc người Nga chối bỏ di sản Mông Cổ có căn nguyên là cảm giác sỉ nhục dân tộc khi mà một nước Châu Âu như Nga lại bị đô hộ trong một thời gian dài như vậy bởi một đế quốc Châu Á mà người Nga cho là thấp kém hơn họ về mặt văn hoá. Những cuốn sử biên niên thời trung đại mô tả người Mông Cổ như những kẻ cướp bóc nước Nga chứ không phải những kẻ chinh phục, và họ được Chúa trời phái xuống để trừng phạt người Nga vì những tội lỗi của họ.
Phải đến cuối thế kỷ 19, các nhà khảo cổ học, dân tộc học và Đông phương học của Nga mới bắt đầu nghiêm túc quan tâm đến người Mông Cổ cũng như ảnh hưởng của họ. Các cuộc khai quật khảo cổ cho thấy Sarai (thủ phủ của Hãn quốc Kim Trướng) không phải một khu vực định cư toàn lều trại như người Nga cho đến lúc đó vẫn tưởng tượng mà là một thành phố lớn thời trung cổ với 75 ngàn dân và những ngôi nhà bằng đá, những đường phố gọn gàng, các hệ thống dẫn nước, các xưởng thủ công và trường học.
Các nhà ngôn ngữ học khẳng định nguồn gốc Mông Cổ của nhiều từ cơ bản trong tiếng Nga trong lĩnh vực quản trị và tài chính như: dengi (tiền), kazna (kho bạc), tamozhna (thuế hải quan), barysh (lợi nhuận), chứng tỏ người Mông Cổ đã có những ảnh hưởng đối với các lĩnh vực này
Nhiều gia đình Nga có tên Tartar. Một số là con cháu của những người Mông Cổ đã ở lại Nga và phục vụ trong triều đình Nga sau khi Hãn quốc Kim trướng tan rã. Theo một ước tính, 156 trong số 915 gia đình quý tộc phục vụ Sa hoàng vào những năm 1680 là có nguồn gốc Tatar hoặc chủng tộc Châu Á khác. Con số này không nhiều như các gia đình có nguồn gốc Litva và Tây Âu vốn chiếm gần một nửa tầng lớp quý tộc; nhưng con số thực sự có thể cao hơn bởi nhiều người Tatar đã Nga hoá tên của mình khi gia nhập giới quý tộc. Trong số này có một số tên tuổi nổi tiếng trong lịch sử Nga như các nhà văn Karamzin, Chaadaev, Turgenev, Bulgakov), các nhà soạn nhạc Rimsky-Korsakov), Sa hoàng (Boris Godunov) và nhà cách mạng Bukharin.
Người Mông Cổ đã đem lại một số tiến bộ cho Nga. Hệ thống bưu chính tại Nga lúc đó thuộc loại nhanh nhất thế giới với một mạng lưới trạm dịch (relay stations) được trang bị ngựa có khả năng đưa các quan chức tới mọi nơi của Đế quốc Mông Cổ với một tốc độ chưa từng được biết tới. Một bức thư từ Muscovy có thể được chuyển đến Novgorod, một nơi cách đó 600 km, trong 3 ngày. Ở nước Đức thế kỷ 16, để đi được quãng đường tương tự thì người ta phải cần tới khoảng thời gian dài gấp đôi.
Quân đội của Đại công quốc Muscovite cũng có sự tiến bộ thông qua tiếp xúc với người Mông Cổ, lực lượng kỵ binh giỏi nhất thế giới.
Quân đội Muscovite học từ quân Mông Cổ từ chiến thuật bọc sườn đến đội hình kỵ binh cơ động cao, áo giáp và khí giới. Richard Chancellor, một nhà du hành người Anh đến Muscovy năm 1553, ghi lại rằng kỵ binh Nga cưỡi ngựa ở tư thế nửa đứng nửa ngồi trên bộ bàn đạp yên ngựa ngắn giống như người Thổ. Richard cũng cho biết, giống như các cung thủ Mông Cổ, quân Nga cũng mặc vải lụa cùng với áo giáp. Họ mặc như vậy không phải để khoe của cải, mà là do họ đã học được từ người Mông Cổ rằng đầu mũi tên có ngạnh không đâm xuyên qua được lụa khi cắm vào cơ thể người. Điều này giúp họ có thể rút mũi tên ra mà không làm cho vết thương trở nên trầm trọng hơn.
Về mặt kinh tế, ảnh hưởng của Mông Cổ không tai hại như các nhà viết sử biên niên của Nga từng nghĩ. Hãn Kim trướng là một thế lực lớn bảo hộ cho các tuyến đường thương mại quốc tế vốn giúp làm giàu cho các thành phố của Nga. Tiền kiếm được từ thương mại và thuế quan chảy vào các thành phố vốn đã được tái thiết và tái sinh sau khi bị tàn phá bởi các cuộc xâm lăng của Mông Cổ. Novgorod và Moscow trở thành những thành phố lớn và giàu có, không thua kém về mặt kiến trúc và sự giàu có về nghệ thuật so với nhiều thành phố khác tại Châu Âu.
Tuy nhiên, trên tất cả, di sản Mông Cổ để lại nhiều tranh luận nhất trong lịch sử là ảnh hưởng của đế chế này đối với chế độ chuyên chế của Nga.
Truyền thống chuyên chế của thể chế chính trị của Nga có nguồn gốc từ nhiều yếu tố, nhưng di sản Mông Cổ là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất trong việc hình thành nên bản chất cơ bản của nền chính trị nước này.
"Nhà xã hội chủ nghĩa thế kỷ 19 Alexander Herzen đã ví Sa hoàng chuyên chế Nicolas I, người trị vì nước Nga từ năm 1825 đến năm 1855) với "Thành Cát Tư Hãn với một chiếc máy điện báo". Còn đảng viên Bolshevik Nikolai Bukharin thì nói Stalin giống như Thành Cát Tư Hãn với một chiếc điện thoại".
Các vương công Nga sau khi đã đánh đuổi được người Mông Cổ đi và lên ngôi Sa hoàng đã học theo những cách thức tổ chức của họ. Họ yêu cầu và áp đặt một cách không thương xót sự phục tùng tuyệt đối từ mọi tầng lớp xã hội trước ý chí của họ. Họ cũng học từ các hãn Mông Cổ ý tưởng về việc Sa hoàng được quyền sở hữu đối với toàn bộ đất đai; điều mà chính các hãn Mông Cổ đã học từ người Trung Quốc.
Giống như các hãn Mông Cổ, các vương công Nga coi lãnh địa mà mình cai trị là của cải riêng và họ toàn quyền ban phát đất đai cùng quyền thu các loại thuế từ người nông dân canh tác trên đó cho những người phục vụ họ cũng như lấy lại đất đai đó khi họ làm mình phật lòng .
Điều này trở thành điểm yếu nhất của chế độ chuyên chế Nga. Những gia tộc quý tộc (boyar) quyền lực nhất, vốn có được quyền lực thông qua hôn nhân với hoặc ân huệ của hoàng gia, tạo thành một tầng lớp cai trị đầu sỏ có thể khuynh loát cả triều chính. Nhưng của cải và quyền lực của họ đến từ Sa hoàng, họ chỉ có thể giữ được những thứ đó nếu duy trì được sự bảo trợ của ông ta. Đó là một hệ thống lệ thuộc vào người cai trị đứng đầu mà sự tồn tại còn duy trì đến tận ngày nay.
Một đặc điểm khác của chế độ chuyên chế này là việc "nuôi béo" các quan chức bằng nguồn lợi từ đất đai." Thông lệ này có nguồn gốc từ thời đại công quốc Kievan Rus nhưng trở nên phổ biến vào thời Mông Cổ. Do thiếu tiền trả lương cho quan lại dưới quyền, vương công cai trị cho phép họ tự "kiếm ăn" (kormlenie) bằng việc bòn rút hàng hoá và tiền bạc từ người dân dưới quyền kiểm soát của họ". Hệ thống "nuôi béo" này là cách thức làm giàu dễ dàng cho các boyar, những người cạnh tranh với nhau để kiếm được những miếng béo bở nhất"
Cơ chế kormlenie bị bãi bỏ chính thức năm 1556, nhưng tệ tham nhũng mà nó hợp pháp hoá còn được các quan chức địa phương tiếp tục kế thừa thông qua những mánh lới khác như nhận hối lộ, tống tiền hay biển thủ ngân sách nhà nước. Đây cũng chính là nguồn gốc của nạn tham nhũng đã đeo đẳng nước Nga nhiều thế kỷ.
Di sản của Mông Cổ tồn tại lâu dài nhất tại khu vực phía bắc và đông của Nga, tương ứng với địa hạt đại công quốc Muscovy. Tại khu vực phía tây và nam, tương ứng với Ukraine và Belarus, ảnh hưởng của Mông Cổ yếu hơn và tan biến sớm hơn bởi hầu hết các vùng lãnh thổ này đã bị sáp nhập vào Ba Lan hoặc Lítva vào đầu thế kỷ 14. Ở một mức độ nào đó, điều này đã khiến Kiev đi theo một quỹ đạo lịch sử khác với Muscovy. Các vùng đất Kiev có xu hướng theo phương Tây nhiều hơn và ít chịu ảnh hưởng hơn của các định chế của chế độ chuyên chế.
Tuy nhiên, sự tương phản này không lớn như những người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraine khẳng định. Theo những người này, Nga đã trở nên chuyên chế và người Nga đã trở nên có tính nô lệ bởi "cái ách Tarta", trong khi người Ukraine thì luôn yêu tự do và có tính "Châu Âu" hơn bởi họ không bị Mông Cổ cai trị.
Nguồn: Dịch và tổng hợp từ "The Story of Russia" của Orlando Figes.