Hong Leung
Cái lồn nhăn nheo
LÊ VĂN DUYỆT - BI KỊCH CỦA LÒNG TRUNG
NHL - Bài viết này, tôi post trên FB cá nhân vào ngày 17-10 - 2025. Nó nhận được khá nhiều sự quan tâm của người đọc MXH, với hơn 2.400 lượt reaction, hơn 300 cmt và 438 lượt share. Nhưng cũng chính vì bài viết này, gạch đá và những lời mạt sát kinh khủng của đám ngụy danh "chống lật sử" xảy ra sau đó chỉ vài tuần đã bay vào nhà tôi tới tấp, kéo dài suốt nhiều tháng. Hàng trăm inbox vô văn hóa, nghèo nàn kiến thức, què quặt tâm hồn đã đổ xô vào trang cá nhân người viết để chửi bới, mạ lị và hăm dọa. Đa số đều không biết rằng bài viết không mới, tôi đã viết từ năm 2008, đã đăng trên báo An ninh Thế giới, đã được trình bày trong kỷ yếu hội thảo và cuộc tranh luận về về Đức Tả quân của Tạp chí Xưa và Nay, sau đó được in trong cuốn "Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ" cùng nhiều tác giả vào năm 2009. Sách đã được tái bản nhiều lần. Nhưng với căn tính chung là không thèm đọc, không biết đọc, hoặc có thâm thù chi đó với sách vở, "bọn vô lại bỗng dưng nổi cơn ái quốc", những kẻ mù quáng bất chấp tri thức và phương pháp tiếp cận tri thức, những kẻ đang bám vào cái gậy "chống lật sử" ngớ ngẩn, sai trái và đầy phá hoại ai đó cố dựng lên thành phong trào đã bất chấp, nhất nhất chỉ dựa vào bài viết trên FB mà chúng tưởng đã "phát hiện và lật tẩy" để đặt tác giả cùng nhiều người khác thành mục tiêu tấn công, hủy diệt, chửi bới, chà đạp.
Tất nhiên, chúng tôi không tranh luận với những kẻ không đủ tư cách tranh luận, chỉ xóa, chặn để bớt bị làm phiền. Tôi căm ghét, coi thường sự hồ đồ, hung hãn với hiểu biết nhưng tôi tôn trọng quyền khư khư giữ nguyên sự dốt nát của kẻ khác. Ai rồi cũng phải chịu trách nhiệm cho hành vi, lời nói của mình. Thái độ chỉ phản ánh tư cách, không phải giấy chứng nhận cho khả năng tri thức, hay cao cả hơn là tinh thần yêu nước. Chỉ mong định kiến do thiếu hiểu biết trong họ có ngay vỡ ra...
Sau gần một năm, sự thật đã đủ phơi bày. Thanh danh Đức Thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt vẫn vang dội, được muôn dân đời sau chiêm bái, vọng tưởng. Nhân lễ giỗ trang trọng lần thứ 194 của Ngài, tôi đăng lại bài viết, như đóng góp nhỏ cho những ai còn phân vân về Đức Ông bên hai bờ công tội, chỉ vì họ chưa biết đủ. Đó như cây hương nhỏ mà kẻ thường dân hậu thế xin được thắp lên để kính vọng tiền nhân!
****
Phải mất 176 năm từ ngày Tả quân Lê Văn Duyệt tạ thế, vị trí lịch sử của vị trung thần mới được trả về đúng giá trị. Ngày 4-2-2008, bức tượng toàn thân Tả thần Chưởng cơ Lê Văn Duyệt đã chính thức được an vị tại Lăng Ông Bà Chiểu, số 1, đường Vũ Tùng, Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Việc đặt tượng, đặt tên đường Lê Văn Duyệt đồng nghĩa với việc chấm dứt cuộc tranh cãi ồn ào hàng trăm năm quanh hai chữ công hay tội đối với bậc khai quốc công thần triều Nguyễn này. Quyết định của UBND TP Hồ Chí Minh là hết sức sáng suốt và cần thiết, được nhân dân đồng tình tán thưởng.
SỦNG THẦN CỦA GIA LONG TRONG "NGŨ HỔ TƯỚNG GIA ĐỊNH THÀNH"
Lê Văn Duyệt sinh năm 1764 tại Vàm Trà Lọt, làng Hòa Khánh, châu Định Viễn, dinh Long Hồ, nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Ông là con trai của một dòng họ ngụ cư, quê gốc ở Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, đến đời ông nội ông là Lê Văn Hiếu mới di cư vào Nam Bộ.
Thời điểm đó, Nam Kỳ Lục Tỉnh sau này vẫn là miền đất hoang vu, nơi được những tội đồ trốn tránh luật pháp, những kẻ phẫn chí tha hương, những tội nhân bị lưu đày phát vãng hoặc những bần cố nông không tấc đất cắm dùi từ miền Trung (xứ Thuận Quảng) lưu lạc phương Nam chọn làm “miền đất hứa”.
Những kẻ dám hoặc bị buộc phải chối bỏ quê hương phiêu bạt về Nam, với trật tự của xã hội phong kiến, họ thường bị xem như thành phần bất hảo, lắm nợ nần với luật pháp của ao tù phong kiến, bị xã hội ruồng rẫy. Nhưng nhìn nhận một cách công bằng, đó cũng là những kẻ có phần hơn người ở nhiều phương diện: sức khoẻ, trí tuệ và đặc biệt là máu dấn thân liều lĩnh, văn vẻ hơn thì gọi là ý chí! Họ thường họp nhau thành từng đoàn, hành phương Nam chống chọi với muỗi mòng, bệnh tật, dã thú miền đầm lầy chướng khí để khẩn hoang lập ấp. Với lịch sử, những tội đồ bị lưu đày biên viễn ấy lại là những bậc tiền nhân có đại công mở mang bờ cõi. Dòng họ Lê Văn Duyệt thuộc về thế hệ “công tội bất phân” này. Sau khi sinh thành Lê Văn Duyệt, ông Lê Văn Toại, cha ông mới dời nhà về vùng Rạch Gầm, nay thuộc làng Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Bức tượng Lê Văn Duyệt đặt trong Lăng Ông được đúc bằng đồng, cao 2,7m, nặng 2,8 tấn, do điêu khắc gia Phạm Văn Hạng thực hiện. Tượng mô tả ông theo đúng chân dung Lê Văn Duyệt được vẽ trên tờ giấy bạc của miền Nam trước 1975. Trong đó, Đức Tả quân là người có khuôn mặt sáng, nhân từ, cái nhìn cương quyết, thấu thị. Thanh gươm đặt ngang trước bụng giới thiệu ông là một võ tướng, sự nghiệp gắn với những võ công hiển hách. Thế nhưng, ông lại là một người gầy gò, mày râu nhẵn nhụi. Điều này phù hợp với thực tế: bẩm sinh Lê Văn Duyệt ái nam ái nữ.
Thật đáng ngạc nhiên, bản tính của Tả quân lại trái ngược hoàn toàn với hình hài mà ngài đã trót mang. Thuở nhỏ, Lê Văn Duyệt thuộc loại ham chơi, ít học hành chữ nghĩa, chỉ mê mãi chọi chim, bắt cá và rất thích hát bội, đá gà. Tuy nhiên, ông là người có chí lớn, thích học võ và rất giỏi võ. Năm 15 tuổi, gã thư sinh thân hình ẻo lả, giọng nói không mang âm hùm khí hổ Lê Văn Duyệt đã từng tuyên bố: “Sinh ở đời loạn, không dựng cờ đánh trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là bậc trượng phu!”. Nghe câu ấy, nhưng bậc tu mi nam tử râu hùm, hàm én cũng phải trợn ngược con mắt vì…thất kinh.
Sinh ra, lớn lên ở một vùng sông nước chằng chịt, hoang vu và khuất nẻo, gã thanh niên trí cao chí dày Lê Văn Duyệt đã tưởng chừng sẽ mãi mãi “rồng quẫy ao tù”, khó có cơ hội tung hoành cho thỏa chí bình sinh. Nhưng, gió mưa thời cuộc đã bất ngờ mở cho ông vận hội. Trên đường trốn chạy sự truy đuổi của quân Tây Sơn, trong một đêm mưa to gió lớn năm 1781, thuyền của Nguyễn Ánh đã bị lật và đắm gần vàm Trà Lọt. Không ràng buộc bởi chữ trung, chữ lễ với chúa Nguyễn, cũng chẳng ác cảm hay hằn thù gì với nhà Tây Sơn, chỉ đơn giản là máu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” của dân lưu tán về miền sông nước luôn rần rật trong huyết quản, Lê Văn Duyệt đã phát hiện, cùng cha mình bơi thuyền ra cứu thoát cả Nguyễn Ánh lẫn đoàn tuỳ tùng và đưa cả đám quan chúa về nhà tá túc. Biết người vừa được cứu thoát là bậc chân mệnh thiên tử, ông Lê Văn Toại, cha của Lê Văn Duyệt đã không tiếc công cúc cung phục dịch, đãi đằng khiến Nguyễn Ánh rất cảm động. Năm đó, Lê Văn Duyệt 17 tuổi. Thưởng công cứu giá, khi tiếp tục đường bôn tẩu, Nguyễn Ánh đã cho Lê Văn Duyệt đi theo, nhận ông làm… thái giám, sau phong lên chức Cai cơ coi sóc nội binh.
Thiên kiến chính trị không rõ ràng, không định chọn phe nhưng ít nhiều, Lê Văn Duyệt cũng chịu ảnh hưởng quan niệm chung của xã hội dân chúng miền Nam. Khi Nguyễn Ánh cầu viện, quân Xiêm kéo sang, đất nước bị xâm phạm, người dân ủng hộ Nguyễn Huệ để đánh tan giặc Xiêm ngay. Nhưng trong tranh chấp quyền lực của đôi bên, người Nam Bộ hầu như không ủng hộ phong trào nhà Tây Sơn bằng ủng hộ các chúa Nguyễn. Lựa chọn đó càng rõ ràng hơn, khi trong thời gian dài bôn tẩu, chiếm cứ phương Nam để mưu phò việc lớn khôi phục nhà Chúa, tranh đoạt giang sơn, Nguyễn Ánh vẫn tiếp tục chính sách không thu thuế bắt buộc, không cưỡng bức tài sản với lưu dân phương Nam, chỉ nhận sự đóng góp. Ngược lại, mỗi lần quân Tây Sơn (do Nguyễn Lữ chỉ huy) xuất hiện thường kèm theo cướp phá; khi rút đi thường đốt sạch, phá sạch và có khi giết sạch. Trong mắt người phương Nam, Hoàng tử Nguyễn Phúc Ánh, bất luận thế nào vẫn “chính danh” là người đại diện vương quyền. Bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn Phúc Ánh được cư dân biên viễn xem như kẻ đang thọ nạn, cần được “cứu khổn phò nguy”. Lê Văn Duyệt, vì thế cũng dốc lòng giúp sức ông hoàng trẻ tuổi.
Ít học nhưng Lê Văn Duyệt lại là một bậc kỳ tài quân sự. Ông đã theo phò Nguyễn Ánh Nam chinh Bắc chiến, lập nhiều công lao hãn mã trong việc tranh chấp và đánh đuổi nhà Tây Sơn. Từ năm 1789, ông được Nguyễn Ánh đặt vào hàng tín tướng, cho dự bàn những việc cơ mật đại sự. Năm 1793, Lê Văn Duyệt cùng nhiều dũng tướng khác của nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành, Võ Di Nguy và Võ Tánh phò Nguyễn Phúc Ánh đuổi Nguyễn Lữ, hạ thành Qui Nhơn, thu tóm thành Diên Khánh và phủ Bình Khương (Khánh Hoà). Tháng 1-1801, ông lập công đầu khi cùng Nguyễn Ánh đánh chiếm được cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn), làm tan rã cả một đạo đại quân Tây Sơn đang trấn giữ khu vực quan trọng này ở miền Trung. Đến tháng 5-1801, khi Nguyễn Ánh dẫn đại thủy quân ra vào cửa Tư Dung (Thuận Hoá), ông lại cầm quân đại phá quân Tây Sơn, bắt sống phò mã Nguyễn Văn Trị và đô đốc Phan Văn Sách, sau đó đuổi vua Cảnh Thịnh của nhà Tây Sơn chạy dài ra Bắc. Sau đại thắng của ông, Nguyễn Ánh dễ dàng dẫn đại quân tiến thẳng vào Phú Xuân mà không gặp trở ngại nào đáng kể. Việc bình định nhà Tây Sơn giành lại quyền lực, về cơ bản đã xem như hoàn tất.
Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Gia Long hoàng đế (1802), ông được phong Khâm sai Chưởng Tả Quân Dinh Bình Tây Tướng Quân, thường gọi là Tả Quân. Vâng lệnh Gia Long, ông đã cùng với Thống chế Lê Chất dẫn quân bình định và thu phục được đất Bắc Hà chỉ trong một thời gian rất ngắn. Năm 1813, ông được Gia Long giao làm Tổng trấn Gia Định thành, mới đổi từ Gia Định kinh kể từ sau khi Nguyển Ánh lên ngôi, quyền lực bao trùm lên cả đất Bình Thuận phía Bắc và kéo dài tận xứ Hà Tiên ở phía Nam.
Để củng cố sức mạnh nơi phên dậu, ông đã cho đắp thanh Phiên An (tức thành Gia Định, nằm trong khu vực Quận 1, Quận 3 giáp giới quận Bình Thạnh của TP Hồ Chí Minh ngày nay) bằng đá ong với thành cao, hào sâu làm nơi trấn thủ, đến năm 1830 thì hoàn tất. Nhân dân kính trọng, gọi ông là “Ông lớn Thượng”. Các nước lân bang cũng nể sợ, gán cho ông danh xưng “Cọp gấm Đồng Nai”. Hàng năm, vào dịp Tết Nguyên Đán hoặc đại khánh Vua nhà Nguyễn, Vua nước Cao Miên phải đích thân sang thành Phiên An chúc tụng. Riêng dịp Tết, Vua Cao Miên phải có mặt từ trước đêm 30 để đúng sáng Mùng 1 Tết cùng Lê Văn Duyệt lên vọng cung hành lễ, bái tạ và chúc thọ vua nhà Nguyễn! Dân gian truyền tụng: “Oai lẫm đức Tả quân, đến quỷ thần cũng phải kính sợ!”. Trong quan hệ ngoại giao, tôi hiền đã giúp tôn vinh Vua sáng lên tột bậc.
Chức vụ là một Tổng trấn, nhưng quyền lực thực thụ của ông thì ngang bằng một Phó vương! Tên ông được nhắc đến như một trong ngũ hổ tướng từng giữ chức Tổng trấn Gia Định thành. Bốn người kia là Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhơn, Kiến Xương Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức và Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu.
Cai quản một vùng đất rộng khoảng hơn 53.000 km2 phía Nam đất nước (từ giáp Bình Thuận đến Hà Tiên), Lê Văn Duyệt đã hết sức quan tâm chăm lo đến đời sống nhân dân. Ông giành nhiều công sức khai hoang, lập ấp biến các vùng rừng rậm, đầm lầy … từ Đồng Nai vào đến đồng bằng sông Cửu Long thành những khu vực làng mạc, ruộng đồng trù phú. Trong một cõi rộng lớn mà ông cai quản, trộm cướp, giặc dã đều bị trấn áp và trừng phạt nặng. Ông cũng rất quan tâm đến nề nếp, kỷ cương xã hội, nghiêm trị không xót thương đối với những kẻ bất hiếu, bất kính, hỗn láo hoặc bỏ bê cha mẹ, con cái, gia đình. Thời ông làm Tổng trấn, đời sống thôn ấp dưới quyền cai quản của ông khá yên ổn, ấm no …
Tại Gia Định, ông cho lập hai cơ sở từ thiện là Anh Hài và Giáo Dưỡng. Nơi thứ nhất là chốn dạy võ nghệ và nghề cung kiếm cho trẻ em thuộc hàng tuấn tú được tuyển chọn từ các nơi về, xem như nguồn nhân tài chuẩn bị cho tương lai. Nơi thứ hai, ông thu gom trẻ em mồ côi, quả phụ không nơi nương tựa về nuôi nấng, dạy chữ và dạy nghề thủ công, giúp họ mưu sinh, giảm thiểu gánh nặng tệ nạn xã hội.
Thành Gia Định sau những tháng năm giặc giã đã nhanh chóng trở thành một đô thị sầm uất. Năm 1822, một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu đã đến Gia Định và xin yết kiến Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Trong hồi ký của mình, Crawfurd đã không giấu nỗi sự thán phục: “Tôi bất ngờ thấy rằng nó (thành Gia Định) không thua gì kinh đô nước Xiêm (...). Tôi có cảm giác rằng đây là một vương quốc lý tưởng”. Mô tả đời sống của nhân dân trong thành, vị khách Ăng-lê đã không tiếc lời ca tụng: “Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn xin rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu qui phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày. Một đứa con vô lễ chửi mẹ, Tổng trấn biết được cũng bị phạt rất nặng”.
Phan Thanh Giản, một vị quan thanh liêm khác cũng hết lời ca ngợi đức độ và tấm lòng vì dân của Lê Văn Duyệt: “Gia Định này thật có phúc mới gặp được một Tổng trấn như đại quan. Tôi ở Kinh thành, ở Bắc thành vào Gia Định thấy như đi qua một nước khác. Ở dọc sông thì trên bến, dưới thuyền, ghe thuyền san sát, lúa gạo nghìn nghịt. Vải vóc, đồ thau, đồ đồng, đồ sứ, đồ gốm, thảo mộc quý, quế, trầm, hồi thật là không thiếu thứ gì. Trên đất liền, nhà cửa phố xá san sát, khang trang. Đường đi lại lát gạch, lát đá sạch sẽ mát mắt(...). Tôi thật mừng”.
Tận tâm lo cho dân, cho nước, Lê Văn Duyệt hầu như chẳng màng gì đến danh lợi của bản thân. Xuất thân từ thứ dân, suốt đời ông vẫn sống mộc mạc và bình dị. Trong “Nhật ký hành trình” xuất bản tại London năm 1824, nhà thám hiểm người Anh John White đã viết về ông khá chi tiết với tất cả sự thán phục về sự bình dị: “Tổng trấn Sài gòn nghe nói là một hoạn quan. Ông khoảng 50 tuổi, có cái nhìn thông minh… Gương mặt tròn, nhẵn, không râu. Riêng giọng nói rất chát tai, giống tiếng đàn bà. Còn y phục của ông ta giản dị giống như y phục của người nghèo …"
(còn tiếp)
NHL - Bài viết này, tôi post trên FB cá nhân vào ngày 17-10 - 2025. Nó nhận được khá nhiều sự quan tâm của người đọc MXH, với hơn 2.400 lượt reaction, hơn 300 cmt và 438 lượt share. Nhưng cũng chính vì bài viết này, gạch đá và những lời mạt sát kinh khủng của đám ngụy danh "chống lật sử" xảy ra sau đó chỉ vài tuần đã bay vào nhà tôi tới tấp, kéo dài suốt nhiều tháng. Hàng trăm inbox vô văn hóa, nghèo nàn kiến thức, què quặt tâm hồn đã đổ xô vào trang cá nhân người viết để chửi bới, mạ lị và hăm dọa. Đa số đều không biết rằng bài viết không mới, tôi đã viết từ năm 2008, đã đăng trên báo An ninh Thế giới, đã được trình bày trong kỷ yếu hội thảo và cuộc tranh luận về về Đức Tả quân của Tạp chí Xưa và Nay, sau đó được in trong cuốn "Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ" cùng nhiều tác giả vào năm 2009. Sách đã được tái bản nhiều lần. Nhưng với căn tính chung là không thèm đọc, không biết đọc, hoặc có thâm thù chi đó với sách vở, "bọn vô lại bỗng dưng nổi cơn ái quốc", những kẻ mù quáng bất chấp tri thức và phương pháp tiếp cận tri thức, những kẻ đang bám vào cái gậy "chống lật sử" ngớ ngẩn, sai trái và đầy phá hoại ai đó cố dựng lên thành phong trào đã bất chấp, nhất nhất chỉ dựa vào bài viết trên FB mà chúng tưởng đã "phát hiện và lật tẩy" để đặt tác giả cùng nhiều người khác thành mục tiêu tấn công, hủy diệt, chửi bới, chà đạp.
Tất nhiên, chúng tôi không tranh luận với những kẻ không đủ tư cách tranh luận, chỉ xóa, chặn để bớt bị làm phiền. Tôi căm ghét, coi thường sự hồ đồ, hung hãn với hiểu biết nhưng tôi tôn trọng quyền khư khư giữ nguyên sự dốt nát của kẻ khác. Ai rồi cũng phải chịu trách nhiệm cho hành vi, lời nói của mình. Thái độ chỉ phản ánh tư cách, không phải giấy chứng nhận cho khả năng tri thức, hay cao cả hơn là tinh thần yêu nước. Chỉ mong định kiến do thiếu hiểu biết trong họ có ngay vỡ ra...
Sau gần một năm, sự thật đã đủ phơi bày. Thanh danh Đức Thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt vẫn vang dội, được muôn dân đời sau chiêm bái, vọng tưởng. Nhân lễ giỗ trang trọng lần thứ 194 của Ngài, tôi đăng lại bài viết, như đóng góp nhỏ cho những ai còn phân vân về Đức Ông bên hai bờ công tội, chỉ vì họ chưa biết đủ. Đó như cây hương nhỏ mà kẻ thường dân hậu thế xin được thắp lên để kính vọng tiền nhân!
****
Phải mất 176 năm từ ngày Tả quân Lê Văn Duyệt tạ thế, vị trí lịch sử của vị trung thần mới được trả về đúng giá trị. Ngày 4-2-2008, bức tượng toàn thân Tả thần Chưởng cơ Lê Văn Duyệt đã chính thức được an vị tại Lăng Ông Bà Chiểu, số 1, đường Vũ Tùng, Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Việc đặt tượng, đặt tên đường Lê Văn Duyệt đồng nghĩa với việc chấm dứt cuộc tranh cãi ồn ào hàng trăm năm quanh hai chữ công hay tội đối với bậc khai quốc công thần triều Nguyễn này. Quyết định của UBND TP Hồ Chí Minh là hết sức sáng suốt và cần thiết, được nhân dân đồng tình tán thưởng.
SỦNG THẦN CỦA GIA LONG TRONG "NGŨ HỔ TƯỚNG GIA ĐỊNH THÀNH"
Lê Văn Duyệt sinh năm 1764 tại Vàm Trà Lọt, làng Hòa Khánh, châu Định Viễn, dinh Long Hồ, nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Ông là con trai của một dòng họ ngụ cư, quê gốc ở Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, đến đời ông nội ông là Lê Văn Hiếu mới di cư vào Nam Bộ.
Thời điểm đó, Nam Kỳ Lục Tỉnh sau này vẫn là miền đất hoang vu, nơi được những tội đồ trốn tránh luật pháp, những kẻ phẫn chí tha hương, những tội nhân bị lưu đày phát vãng hoặc những bần cố nông không tấc đất cắm dùi từ miền Trung (xứ Thuận Quảng) lưu lạc phương Nam chọn làm “miền đất hứa”.
Những kẻ dám hoặc bị buộc phải chối bỏ quê hương phiêu bạt về Nam, với trật tự của xã hội phong kiến, họ thường bị xem như thành phần bất hảo, lắm nợ nần với luật pháp của ao tù phong kiến, bị xã hội ruồng rẫy. Nhưng nhìn nhận một cách công bằng, đó cũng là những kẻ có phần hơn người ở nhiều phương diện: sức khoẻ, trí tuệ và đặc biệt là máu dấn thân liều lĩnh, văn vẻ hơn thì gọi là ý chí! Họ thường họp nhau thành từng đoàn, hành phương Nam chống chọi với muỗi mòng, bệnh tật, dã thú miền đầm lầy chướng khí để khẩn hoang lập ấp. Với lịch sử, những tội đồ bị lưu đày biên viễn ấy lại là những bậc tiền nhân có đại công mở mang bờ cõi. Dòng họ Lê Văn Duyệt thuộc về thế hệ “công tội bất phân” này. Sau khi sinh thành Lê Văn Duyệt, ông Lê Văn Toại, cha ông mới dời nhà về vùng Rạch Gầm, nay thuộc làng Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Bức tượng Lê Văn Duyệt đặt trong Lăng Ông được đúc bằng đồng, cao 2,7m, nặng 2,8 tấn, do điêu khắc gia Phạm Văn Hạng thực hiện. Tượng mô tả ông theo đúng chân dung Lê Văn Duyệt được vẽ trên tờ giấy bạc của miền Nam trước 1975. Trong đó, Đức Tả quân là người có khuôn mặt sáng, nhân từ, cái nhìn cương quyết, thấu thị. Thanh gươm đặt ngang trước bụng giới thiệu ông là một võ tướng, sự nghiệp gắn với những võ công hiển hách. Thế nhưng, ông lại là một người gầy gò, mày râu nhẵn nhụi. Điều này phù hợp với thực tế: bẩm sinh Lê Văn Duyệt ái nam ái nữ.
Thật đáng ngạc nhiên, bản tính của Tả quân lại trái ngược hoàn toàn với hình hài mà ngài đã trót mang. Thuở nhỏ, Lê Văn Duyệt thuộc loại ham chơi, ít học hành chữ nghĩa, chỉ mê mãi chọi chim, bắt cá và rất thích hát bội, đá gà. Tuy nhiên, ông là người có chí lớn, thích học võ và rất giỏi võ. Năm 15 tuổi, gã thư sinh thân hình ẻo lả, giọng nói không mang âm hùm khí hổ Lê Văn Duyệt đã từng tuyên bố: “Sinh ở đời loạn, không dựng cờ đánh trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là bậc trượng phu!”. Nghe câu ấy, nhưng bậc tu mi nam tử râu hùm, hàm én cũng phải trợn ngược con mắt vì…thất kinh.
Sinh ra, lớn lên ở một vùng sông nước chằng chịt, hoang vu và khuất nẻo, gã thanh niên trí cao chí dày Lê Văn Duyệt đã tưởng chừng sẽ mãi mãi “rồng quẫy ao tù”, khó có cơ hội tung hoành cho thỏa chí bình sinh. Nhưng, gió mưa thời cuộc đã bất ngờ mở cho ông vận hội. Trên đường trốn chạy sự truy đuổi của quân Tây Sơn, trong một đêm mưa to gió lớn năm 1781, thuyền của Nguyễn Ánh đã bị lật và đắm gần vàm Trà Lọt. Không ràng buộc bởi chữ trung, chữ lễ với chúa Nguyễn, cũng chẳng ác cảm hay hằn thù gì với nhà Tây Sơn, chỉ đơn giản là máu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” của dân lưu tán về miền sông nước luôn rần rật trong huyết quản, Lê Văn Duyệt đã phát hiện, cùng cha mình bơi thuyền ra cứu thoát cả Nguyễn Ánh lẫn đoàn tuỳ tùng và đưa cả đám quan chúa về nhà tá túc. Biết người vừa được cứu thoát là bậc chân mệnh thiên tử, ông Lê Văn Toại, cha của Lê Văn Duyệt đã không tiếc công cúc cung phục dịch, đãi đằng khiến Nguyễn Ánh rất cảm động. Năm đó, Lê Văn Duyệt 17 tuổi. Thưởng công cứu giá, khi tiếp tục đường bôn tẩu, Nguyễn Ánh đã cho Lê Văn Duyệt đi theo, nhận ông làm… thái giám, sau phong lên chức Cai cơ coi sóc nội binh.
Thiên kiến chính trị không rõ ràng, không định chọn phe nhưng ít nhiều, Lê Văn Duyệt cũng chịu ảnh hưởng quan niệm chung của xã hội dân chúng miền Nam. Khi Nguyễn Ánh cầu viện, quân Xiêm kéo sang, đất nước bị xâm phạm, người dân ủng hộ Nguyễn Huệ để đánh tan giặc Xiêm ngay. Nhưng trong tranh chấp quyền lực của đôi bên, người Nam Bộ hầu như không ủng hộ phong trào nhà Tây Sơn bằng ủng hộ các chúa Nguyễn. Lựa chọn đó càng rõ ràng hơn, khi trong thời gian dài bôn tẩu, chiếm cứ phương Nam để mưu phò việc lớn khôi phục nhà Chúa, tranh đoạt giang sơn, Nguyễn Ánh vẫn tiếp tục chính sách không thu thuế bắt buộc, không cưỡng bức tài sản với lưu dân phương Nam, chỉ nhận sự đóng góp. Ngược lại, mỗi lần quân Tây Sơn (do Nguyễn Lữ chỉ huy) xuất hiện thường kèm theo cướp phá; khi rút đi thường đốt sạch, phá sạch và có khi giết sạch. Trong mắt người phương Nam, Hoàng tử Nguyễn Phúc Ánh, bất luận thế nào vẫn “chính danh” là người đại diện vương quyền. Bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn Phúc Ánh được cư dân biên viễn xem như kẻ đang thọ nạn, cần được “cứu khổn phò nguy”. Lê Văn Duyệt, vì thế cũng dốc lòng giúp sức ông hoàng trẻ tuổi.
Ít học nhưng Lê Văn Duyệt lại là một bậc kỳ tài quân sự. Ông đã theo phò Nguyễn Ánh Nam chinh Bắc chiến, lập nhiều công lao hãn mã trong việc tranh chấp và đánh đuổi nhà Tây Sơn. Từ năm 1789, ông được Nguyễn Ánh đặt vào hàng tín tướng, cho dự bàn những việc cơ mật đại sự. Năm 1793, Lê Văn Duyệt cùng nhiều dũng tướng khác của nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành, Võ Di Nguy và Võ Tánh phò Nguyễn Phúc Ánh đuổi Nguyễn Lữ, hạ thành Qui Nhơn, thu tóm thành Diên Khánh và phủ Bình Khương (Khánh Hoà). Tháng 1-1801, ông lập công đầu khi cùng Nguyễn Ánh đánh chiếm được cửa biển Thị Nại (Quy Nhơn), làm tan rã cả một đạo đại quân Tây Sơn đang trấn giữ khu vực quan trọng này ở miền Trung. Đến tháng 5-1801, khi Nguyễn Ánh dẫn đại thủy quân ra vào cửa Tư Dung (Thuận Hoá), ông lại cầm quân đại phá quân Tây Sơn, bắt sống phò mã Nguyễn Văn Trị và đô đốc Phan Văn Sách, sau đó đuổi vua Cảnh Thịnh của nhà Tây Sơn chạy dài ra Bắc. Sau đại thắng của ông, Nguyễn Ánh dễ dàng dẫn đại quân tiến thẳng vào Phú Xuân mà không gặp trở ngại nào đáng kể. Việc bình định nhà Tây Sơn giành lại quyền lực, về cơ bản đã xem như hoàn tất.
Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Gia Long hoàng đế (1802), ông được phong Khâm sai Chưởng Tả Quân Dinh Bình Tây Tướng Quân, thường gọi là Tả Quân. Vâng lệnh Gia Long, ông đã cùng với Thống chế Lê Chất dẫn quân bình định và thu phục được đất Bắc Hà chỉ trong một thời gian rất ngắn. Năm 1813, ông được Gia Long giao làm Tổng trấn Gia Định thành, mới đổi từ Gia Định kinh kể từ sau khi Nguyển Ánh lên ngôi, quyền lực bao trùm lên cả đất Bình Thuận phía Bắc và kéo dài tận xứ Hà Tiên ở phía Nam.
Để củng cố sức mạnh nơi phên dậu, ông đã cho đắp thanh Phiên An (tức thành Gia Định, nằm trong khu vực Quận 1, Quận 3 giáp giới quận Bình Thạnh của TP Hồ Chí Minh ngày nay) bằng đá ong với thành cao, hào sâu làm nơi trấn thủ, đến năm 1830 thì hoàn tất. Nhân dân kính trọng, gọi ông là “Ông lớn Thượng”. Các nước lân bang cũng nể sợ, gán cho ông danh xưng “Cọp gấm Đồng Nai”. Hàng năm, vào dịp Tết Nguyên Đán hoặc đại khánh Vua nhà Nguyễn, Vua nước Cao Miên phải đích thân sang thành Phiên An chúc tụng. Riêng dịp Tết, Vua Cao Miên phải có mặt từ trước đêm 30 để đúng sáng Mùng 1 Tết cùng Lê Văn Duyệt lên vọng cung hành lễ, bái tạ và chúc thọ vua nhà Nguyễn! Dân gian truyền tụng: “Oai lẫm đức Tả quân, đến quỷ thần cũng phải kính sợ!”. Trong quan hệ ngoại giao, tôi hiền đã giúp tôn vinh Vua sáng lên tột bậc.
Chức vụ là một Tổng trấn, nhưng quyền lực thực thụ của ông thì ngang bằng một Phó vương! Tên ông được nhắc đến như một trong ngũ hổ tướng từng giữ chức Tổng trấn Gia Định thành. Bốn người kia là Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhơn, Kiến Xương Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức và Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu.
Cai quản một vùng đất rộng khoảng hơn 53.000 km2 phía Nam đất nước (từ giáp Bình Thuận đến Hà Tiên), Lê Văn Duyệt đã hết sức quan tâm chăm lo đến đời sống nhân dân. Ông giành nhiều công sức khai hoang, lập ấp biến các vùng rừng rậm, đầm lầy … từ Đồng Nai vào đến đồng bằng sông Cửu Long thành những khu vực làng mạc, ruộng đồng trù phú. Trong một cõi rộng lớn mà ông cai quản, trộm cướp, giặc dã đều bị trấn áp và trừng phạt nặng. Ông cũng rất quan tâm đến nề nếp, kỷ cương xã hội, nghiêm trị không xót thương đối với những kẻ bất hiếu, bất kính, hỗn láo hoặc bỏ bê cha mẹ, con cái, gia đình. Thời ông làm Tổng trấn, đời sống thôn ấp dưới quyền cai quản của ông khá yên ổn, ấm no …
Tại Gia Định, ông cho lập hai cơ sở từ thiện là Anh Hài và Giáo Dưỡng. Nơi thứ nhất là chốn dạy võ nghệ và nghề cung kiếm cho trẻ em thuộc hàng tuấn tú được tuyển chọn từ các nơi về, xem như nguồn nhân tài chuẩn bị cho tương lai. Nơi thứ hai, ông thu gom trẻ em mồ côi, quả phụ không nơi nương tựa về nuôi nấng, dạy chữ và dạy nghề thủ công, giúp họ mưu sinh, giảm thiểu gánh nặng tệ nạn xã hội.
Thành Gia Định sau những tháng năm giặc giã đã nhanh chóng trở thành một đô thị sầm uất. Năm 1822, một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu đã đến Gia Định và xin yết kiến Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Trong hồi ký của mình, Crawfurd đã không giấu nỗi sự thán phục: “Tôi bất ngờ thấy rằng nó (thành Gia Định) không thua gì kinh đô nước Xiêm (...). Tôi có cảm giác rằng đây là một vương quốc lý tưởng”. Mô tả đời sống của nhân dân trong thành, vị khách Ăng-lê đã không tiếc lời ca tụng: “Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn xin rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu qui phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày. Một đứa con vô lễ chửi mẹ, Tổng trấn biết được cũng bị phạt rất nặng”.
Phan Thanh Giản, một vị quan thanh liêm khác cũng hết lời ca ngợi đức độ và tấm lòng vì dân của Lê Văn Duyệt: “Gia Định này thật có phúc mới gặp được một Tổng trấn như đại quan. Tôi ở Kinh thành, ở Bắc thành vào Gia Định thấy như đi qua một nước khác. Ở dọc sông thì trên bến, dưới thuyền, ghe thuyền san sát, lúa gạo nghìn nghịt. Vải vóc, đồ thau, đồ đồng, đồ sứ, đồ gốm, thảo mộc quý, quế, trầm, hồi thật là không thiếu thứ gì. Trên đất liền, nhà cửa phố xá san sát, khang trang. Đường đi lại lát gạch, lát đá sạch sẽ mát mắt(...). Tôi thật mừng”.
Tận tâm lo cho dân, cho nước, Lê Văn Duyệt hầu như chẳng màng gì đến danh lợi của bản thân. Xuất thân từ thứ dân, suốt đời ông vẫn sống mộc mạc và bình dị. Trong “Nhật ký hành trình” xuất bản tại London năm 1824, nhà thám hiểm người Anh John White đã viết về ông khá chi tiết với tất cả sự thán phục về sự bình dị: “Tổng trấn Sài gòn nghe nói là một hoạn quan. Ông khoảng 50 tuổi, có cái nhìn thông minh… Gương mặt tròn, nhẵn, không râu. Riêng giọng nói rất chát tai, giống tiếng đàn bà. Còn y phục của ông ta giản dị giống như y phục của người nghèo …"
(còn tiếp)