Tình hình Nga - Ukr gần đây đang căng thẳng. Thế giới chia làm 4 phe. Phe thứ nhất, ủng hộ tổng thống Putin và cộng sự. Phe thứ hai, ủng hộ tổng thống Zelensky và cộng sự. Phe thứ ba, lập trường nghiêng về ủng hộ cách làm của Nato cũng như Liên Hợp Quốc, trong đó đứng đầu là Mỹ. Phe còn lại, yêu chuộng hòa bình, nhân loại đều nền được hưởng sự hòa bình và thịnh vượng. Tất nhiên, chính trị thì luôn có nguyên tắc cơ bản đó là: Không có bạn bè vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là trường tồn.
Nay, tôi mở topic này. Trước là dựa trên sự hiểu biết còn ít ỏi của mình kể về nguyên nhân lịch sử khách quan mà khiến cho cuộc xung đột leo thang như hiện nay. Tiếp đó là những nhận định của cá nhân để tránh các hành vi "tiêu chuẩn kép" vẫn diễn ra hằng ngày.
Phần 1. Sự thật lịch sử Nga - Ukraine
Kể từ khi Kiev Rus phân rã vào năm 1125 sau cái chết của Mstislav I Đại đế, đất nước bị phân liệt thành nhiều công quốc khác nhau do các hoàng tử và vương công thuộc trực hệ nhà Rurik cai trị, nhưng vẫn có ảnh hưởng lẫn nhau.
Trong số này có 2 công quốc nổi trội hơn: Công quốc Kiev ở phía Tây Nam và Công quốc Vladimir ở phía Đông Bắc. Suốt hàng thập kỷ sau sự phân rã của Kiev Rus, 2 công quốc này đã gầm gè nhau, tìm cách gây ảnh hưởng lên các công quốc khác thuộc Kiev Rus cũ với mong muốn tái thống nhất quốc gia. Thông thường họ sẽ không trực tiếp chạm mặt nhau, mà sẽ can thiệp ngầm vào các cuộc thừa kế ngai vàng của các công quốc nhỏ.
Vào năm 1169, Công quốc Kiev do Mstislav Izyaslavich (hay Mstislav II) đứng đầu, thường can thiệp vào việc thừa kế ngai vàng xứ Polotsk (thuộc nước Belarus ngày nay). Các công quốc khác bao gồm cả Vladimir hầu hết đều bênh Polotsk trong cuộc tranh chấp này. Họ lên tiếng răn đe Kiev, thậm chí dọa tấn công để Kiev ngừng các hành vi gây hấn với Polotsk. Nhưng Mstislav II của Kiev, tự tin mình có sự ủng hộ của các đồng minh phía Tây - ở đây là các xứ Volyn, Galicia hay cả Novgorod phía Bắc - nên vẫn thách thức công quốc Vladimir không hề nể sợ.
Khó chịu trước hành vi của Kiev, mùa xuân năm 1169 Đại vương công Andrey Bogolyubsky của xứ Vladimir (sau này là Đại công quốc Moscow) tổ chức họp mặt các công quốc Nga bàn cách xử trí với Kiev. Tại đây, giống như các cuộc họp phụ huynh hay Hội nghị Diên Hồng, các đại biểu tham gia đều đồng thanh: ĐÁNH!!!!
Thế là 1 liên quân được thành lập, đứng đầu bởi công quốc Vladimir, nhưng Đại vương công Andrey Bogolyubsky lại không trực tiếp dẫn quân. Ông ủy quyền cho em trai mình là Gleb Yurievich chỉ huy. Cùng với đó nhiều con trai, cháu trai của Đại vương công Andrey Bogolyubsky, cũng như cả các hoàng tử và vương công các Công quốc đồng minh như Potolsk, Chernigov, Smolensk, Murom,... tổng cộng có 11 hoàng tử và vương công các Công quốc tham gia trận này. Ngoài ra, cả người du mục Polovtsi ở phía Nam cũng được lôi kéo tham gia, hứa hẹn chia tài sản sau khi hạ Kiev.
Theo biên niên sử chép, ngày 9/3/1169 liên quân do Công quốc Vladimir dẫn đầu tiến vào vây Kiev. Mstislav II của Kiev ban đầu khá tự tin, cầm quân ra cổng thách thức vì ông tự tin rằng đồng minh phía Tây là Volyn,Galicia,... sẽ tới cứu. Nhưng 3 ngày đợi không thấy quân đồng minh tới phá vây, Mstislav II vỡ lẽ rằng đã bị bỏ rơi, và ông buộc phải rút lui bí mật khỏi Kiev.
Khi hay tin Mstislav II đã bỏ chạy, liên quân Vladimir đã vui sướng tràn vào Kiev và không khó để đoán chuyện gì xảy ra tiếp theo. Liên quân thỏa sức cướp phá Kiev trong 3 ngày đêm, cướp đến từng cây thánh giá nhỏ trong nhà thờ. Nhiều cư dân Kiev cũng bị hãm hại, cưỡng bức, bắt về làm nô lệ,... trong số đó có cả Agnieszka Boleslavovna - công chúa Ba Lan và là vợ của Mstislav II - đã bị bỏ lại cùng các con khi Mstislav II bỏ trốn.
Sau khi cướp phá chán chê, liên quân rút về, nhưng người chỉ huy là Gleb Yurievich lại muốn tự mình ở lại cai trị Kiev, nên ông xin phép anh trai Vương công Vladimir của mình là Andrey Bogolyubsky và được đồng ý. Tham vọng của Gleb Yurievich sớm tan vỡ vì chỉ 1 năm sau, năm 1170 vua cũ của Kiev Mstislav II đã được các đồng minh phía Tây hỗ trợ quay về tái chiếm Kiev, đuổi cổ Gleb Yurievich về lại Vladimir.
Sau này Andrey Bogolyubsky còn định chiếm Kiev một lần nữa vào năm 1173, nhưng thất bại nửa chừng. Tới năm 1203, Kiev mới một lần nữa bị hạ, nhưng lần này do liên quân của xứ Smolensk đứng đầu. Dù thế nào, thì cuộc cướp phá Kiev năm 1169 vẫn tạo ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử Nga - đó là việc tàn phá Kiev, làm suy yếu tột độ ảnh hưởng của xứ này, khiến trung tâm quyền lực của Nga chuyển từ Kiev về Vladimir. Công quốc Vladimir, sau này trở thành tiền đề của Đại công quốc Moscow, hình thành nên nước Nga hiện đại.
Sự gia nhập của Ukraine vào Nga
1/ Bối cảnh
Tới giữa thế kỷ 17, vùng đất tương ứng phần lớn lãnh thổ Ukraine ngày nay là một vùng phụ thuộc lỏng lẻo của Khối thịnh vượng chung Ba Lan - Lithuania. Riêng vùng cực Nam (bao gồm bán đảo Crimea) là Hãn quốc Crimea - chư hầu của Đế quốc Ottoman.
Người Cossack vốn sống tự do hoãng dã trên các thảo nguyên Đông Nam Âu từ lâu đời. Vào thế kỷ 17, sự tự do này bị chèn ép bởi chính quyền khối Thịnh vượng chung Ba Lan, chủ yếu liên quan tới vấn đề đất đai, thuế má, nô lệ và tôn giáo (người Ba Lan cố gắng ép người Cossack theo Công giáo La Mã). Vì vậy, hàng chục cuộc nổi dậy lớn nhỏ của người Cossack đã nổ ra chống lại chính quyền Ba Lan. 5 cuộc nổi dậy lớn diễn ra vào các năm 1635, 1630, 1635, 1637 và 1638. Sau cuộc nổi dậy năm 1638 thất bại, người Cossack rơi vào một thời kỳ khủng hoảng: dân số giảm, người dân ly tán, đất sống bị thu hẹp, bị đàn áp nặng nề,...
2/ Cuộc nổi dậy của Khmelnitsky.
Ở làng Subotov, miền trung Ukraine ngày nay, có một chủ đất Cossack giàu có tên là Bohdan Khmelnytsky vốn trung thành với vua Ba Lan. Vào năm 1648, quân đội Ba Lan vào cướp điền trang lớn của Bohdan Khmelnytsky, bắt đi vợ và các con trai ông. Bohdan Khmelnytsky sau đó tìm cách kiện những kẻ cướp bóc ở tòa án Ba Lan, thậm chí cả nhà vua, nhưng cuối cùng quan tòa đã xử có lợi cho những kẻ cướp bóc.
Bị mất tài sản và gia đình, Bohdan Khmelnytsky từ bỏ lòng trung thành với Ba Lan, lui về phía Nam tới vùng Zaporozhia, tập hợp những thợ săn Cossack dũng mãnh thành lập một đội quân tự xưng là "binh đoàn Zaporozhia". Bản thân Bohdan Khmelnytsky tự xưng là "hetman" (dịch là Thống soái) của binh đoàn, tuyên bố chiến đấu chống lại người Ba Lan.
Quân Zaporozhia còn xin liên minh với quân đội của Hãn quốc Crimea, hứa chia cho họ tài sản và tù binh chiếm được từ quân Ba Lan nếu chiến thắng. Hãn quốc Crimea đã đồng ý và gửi kỵ binh đến giúp đỡ cuộc nổi dậy của quân Zaporozhia.
Cuộc chiến của người Cossack thu được những thắng lợi ban đầu. Hai trận đánh lớn đầu năm 1648 ở Zhovti Vody (tháng 4) và ở Korsun (tháng 5) đã tiêu diệt hoàn toàn lực lượng 3 vạn quân Ba Lan ở miền Nam Ukraine. Hầu hết tù binh Ba Lan (khoảng 7.000 người) sau đó được trao cho Hãn quốc Crimea làm nô lệ như lời tạ ơn của người Ukraine.
Đến hết năm 1648, một nửa lãnh thổ Ukraine đã được quân của thống soái Khmelnytsky giải phóng. Ngày 23/12/1648, thống soái Khmelnytsky tiến vào giải phóng Kiev ngay trước Giáng sinh, một sự kiện mang tính biểu tượng lịch sử. Sau sự kiện này, Khmelnytsky tạm dừng các chiến dịch quân sự và cố gắng gửi thư đàm phán với người Ba Lan để chấm dứt chiến tranh và khôi phục lại các quyền lợi cho người Cossack Ukraine.
3/ Ba Lan đàn áp nổi dậy
Dù thất bại trước người Cossack trong thời gian đầu, nhưng tình hình trở nên có lợi cho Ba Lan vào năm 1649. Chiến tranh 30 năm (1618-1848) kết thúc giúp họ có thời gian bổ sung binh lực lính đánh thuê từ Đức, Ý, Thụy Điển,... Vua Ba Lan cũng đứng ra yêu cầu hãn quốc Crimea ngừng can thiệp vào Ukraine, đổi lại bằng những phần quà giá trị lớn. Trong khi đó, quân đội của người Cossack trải qua trận dịch hạch lớn làm nhiều người bỏ mạng.
Nhờ những điều kiện đó, năm 1649 quân Ba Lan nối lại cuộc tấn công nhằm đàn áp người cossack. Ngày 31/7/1649, 7.000 quân Ba Lan đánh thắng 3 vạn quân cossack Ukraine một trận lớn ở Loyew, khiến lực lượng cossack tổn thất nặng nề và phải chịu đầu hàng. Một hiệp định đầu hàng ký sau đó cho phép người cossack được tự trị, nhưng phải giải giáp quân đội và thề trung thành với Vua Ba Lan.
4/ Cuộc xâm lược của Ba Lan (1651) và thất bại của Cossack.
Hòa bình được 2 năm, quân Ba Lan nối lại cuộc xâm lược nhằm tiêu diệt tận gốc mối nguy từ người Cossack Ukraine. Mùa hè năm 1651, quân Ba Lan càn quét Ukraine, liên tục đánh bại quân Cossack những trận lớn. Trong trận Berestetskaya tháng 7/1651, quân Ba Lan chỉ mất khoảng 1.000 người đã đánh tan lực lượng đông đảo tới 20 vạn quân Cossack và đồng minh Hãn quốc Crimea, tiêu diệt 3 vạn quân địch.
Trong 2 năm sau đó, từ 1651 tới 1653, các cuộc tấn công của Ba Lan đã tàn phá Ukraine và khiến quân Cossack đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn. Đứng trước thảm cảnh vong quốc, thủ lĩnh Bohdan Khmelnitsky của người Cossack đã quyết định cầu xin sự giúp đỡ của Sa quốc Nga.
Cuối năm 1653, thủ lĩnh Bohdan Khmelnitsky gửi một bức thư tới Sa hoàng Alexei Mikhailovich. Trong thư, Bohdan Khmelnitsky khẩn cầu nước Nga giúp đỡ người Cossack chống lại họa xâm lăng của Ba Lan. Đổi lại, Bohdan Khmelnitsky bày tỏ lòng trung thành của người Cossack với Sa hoàng nếu được giúp đỡ.
5/ Sự gia nhập của cossack và sự giúp đỡ của Nga
Nhận được bức thư của thủ lĩnh Cossack, Sa hoàng Nga quyết định cử một phái đoàn tới Kiev để "ghi nhận" lòng trung thành của người Cossack. Tháng 1/1654, phái đoàn Nga tới Kiev để tiếp nhận lời thề. Một cuộc gặp mặt lớn của người dân đã được các thủ lĩnh Cossack triệu tập. Kết quả là một lời tuyên thệ trung thành của các thủ lĩnh Cossack được đưa tới Sa hoàng, với sự chứng thực của 122.542 cư dân.
Tháng 3/1654, các văn bản của lời thề trung thành của Cossack được đưa về Moscow tới tay Sa hoàng. Chúng được chính thức chấp nhận vào ngày 14/3/1654, cũng coi như sự kiện chính thức đánh dấu việc Ukraine sáp nhập vào Đế quốc Nga.
Dĩ nhiên, người Nga phải thực hiện lời hứa của họ để đổi lấy sự sáp nhập của Ukraine - đó là chống lại Ba Lan. Bất chấp những khó khăn về quân sự, Nga vẫn phát động một cuộc chiến chống lại Ba Lan năm 1654 để giúp người Ukraine tránh khỏi họa vong quốc. Cuộc xâm lược của Nga vào Ba Lan diễn ra khá khó khăn, không thu được nhiều thắng lợi. Nhưng điều đó cũng không quan trọng, vì năm 1655, Thụy Điển đã xâm lược Ba Lan, tạo nên thảm họa lớn nhất lịch sử Ba Lan mà họ gọi là "potop" (đại hồng thủy) - tàn phá 3/4 lãnh thổ và làm mất 1/3 dân số quốc gia này.
6/ Ảnh hưởng của sự kiện
Với thất bại gần như sụp đổ của Ba Lan trước Thụy Điển, Ukraine đã được đảm bảo tách khỏi ảnh hưởng của Ba Lan một cách lâu dài. Điều này giúp họ thoát được trước mắt là sự đàn áp của giáo hội Công giáo La Mã ở Ba Lan, duy trì tín ngưỡng Chính thống của mình.
Mặc dù vậy, mối quan hệ giữa người Cossack và người Nga sau khi sáp nhập cũng không phải hoàn hảo. Sự sáp nhập vào Nga đánh đổi bằng việc áp đặt chế độ nông nô lên người Cossack, quá trình Nga hóa mạnh mẽ, trong khi các vấn đề về thuế và ruộng đất cũng không khá hơn là bao. Những khúc mắc trong quan hệ giữa người Cossack và Nga (chủ yếu xoay quanh chế độ nông nô hà khắc) đã dẫn đến những cuộc nổi dậy lớn của người Cossack ở Nga, kéo dài tới thế kỷ 18 mới chấm dứt.
Phần 2. Nhận định
Phần 3. Bàn luận
[1]
[2]
Để đây lát viết.
Nay, tôi mở topic này. Trước là dựa trên sự hiểu biết còn ít ỏi của mình kể về nguyên nhân lịch sử khách quan mà khiến cho cuộc xung đột leo thang như hiện nay. Tiếp đó là những nhận định của cá nhân để tránh các hành vi "tiêu chuẩn kép" vẫn diễn ra hằng ngày.
Phần 1. Sự thật lịch sử Nga - Ukraine
Kể từ khi Kiev Rus phân rã vào năm 1125 sau cái chết của Mstislav I Đại đế, đất nước bị phân liệt thành nhiều công quốc khác nhau do các hoàng tử và vương công thuộc trực hệ nhà Rurik cai trị, nhưng vẫn có ảnh hưởng lẫn nhau.
Trong số này có 2 công quốc nổi trội hơn: Công quốc Kiev ở phía Tây Nam và Công quốc Vladimir ở phía Đông Bắc. Suốt hàng thập kỷ sau sự phân rã của Kiev Rus, 2 công quốc này đã gầm gè nhau, tìm cách gây ảnh hưởng lên các công quốc khác thuộc Kiev Rus cũ với mong muốn tái thống nhất quốc gia. Thông thường họ sẽ không trực tiếp chạm mặt nhau, mà sẽ can thiệp ngầm vào các cuộc thừa kế ngai vàng của các công quốc nhỏ.
Vào năm 1169, Công quốc Kiev do Mstislav Izyaslavich (hay Mstislav II) đứng đầu, thường can thiệp vào việc thừa kế ngai vàng xứ Polotsk (thuộc nước Belarus ngày nay). Các công quốc khác bao gồm cả Vladimir hầu hết đều bênh Polotsk trong cuộc tranh chấp này. Họ lên tiếng răn đe Kiev, thậm chí dọa tấn công để Kiev ngừng các hành vi gây hấn với Polotsk. Nhưng Mstislav II của Kiev, tự tin mình có sự ủng hộ của các đồng minh phía Tây - ở đây là các xứ Volyn, Galicia hay cả Novgorod phía Bắc - nên vẫn thách thức công quốc Vladimir không hề nể sợ.
Khó chịu trước hành vi của Kiev, mùa xuân năm 1169 Đại vương công Andrey Bogolyubsky của xứ Vladimir (sau này là Đại công quốc Moscow) tổ chức họp mặt các công quốc Nga bàn cách xử trí với Kiev. Tại đây, giống như các cuộc họp phụ huynh hay Hội nghị Diên Hồng, các đại biểu tham gia đều đồng thanh: ĐÁNH!!!!
Thế là 1 liên quân được thành lập, đứng đầu bởi công quốc Vladimir, nhưng Đại vương công Andrey Bogolyubsky lại không trực tiếp dẫn quân. Ông ủy quyền cho em trai mình là Gleb Yurievich chỉ huy. Cùng với đó nhiều con trai, cháu trai của Đại vương công Andrey Bogolyubsky, cũng như cả các hoàng tử và vương công các Công quốc đồng minh như Potolsk, Chernigov, Smolensk, Murom,... tổng cộng có 11 hoàng tử và vương công các Công quốc tham gia trận này. Ngoài ra, cả người du mục Polovtsi ở phía Nam cũng được lôi kéo tham gia, hứa hẹn chia tài sản sau khi hạ Kiev.
Theo biên niên sử chép, ngày 9/3/1169 liên quân do Công quốc Vladimir dẫn đầu tiến vào vây Kiev. Mstislav II của Kiev ban đầu khá tự tin, cầm quân ra cổng thách thức vì ông tự tin rằng đồng minh phía Tây là Volyn,Galicia,... sẽ tới cứu. Nhưng 3 ngày đợi không thấy quân đồng minh tới phá vây, Mstislav II vỡ lẽ rằng đã bị bỏ rơi, và ông buộc phải rút lui bí mật khỏi Kiev.
Khi hay tin Mstislav II đã bỏ chạy, liên quân Vladimir đã vui sướng tràn vào Kiev và không khó để đoán chuyện gì xảy ra tiếp theo. Liên quân thỏa sức cướp phá Kiev trong 3 ngày đêm, cướp đến từng cây thánh giá nhỏ trong nhà thờ. Nhiều cư dân Kiev cũng bị hãm hại, cưỡng bức, bắt về làm nô lệ,... trong số đó có cả Agnieszka Boleslavovna - công chúa Ba Lan và là vợ của Mstislav II - đã bị bỏ lại cùng các con khi Mstislav II bỏ trốn.
Sau khi cướp phá chán chê, liên quân rút về, nhưng người chỉ huy là Gleb Yurievich lại muốn tự mình ở lại cai trị Kiev, nên ông xin phép anh trai Vương công Vladimir của mình là Andrey Bogolyubsky và được đồng ý. Tham vọng của Gleb Yurievich sớm tan vỡ vì chỉ 1 năm sau, năm 1170 vua cũ của Kiev Mstislav II đã được các đồng minh phía Tây hỗ trợ quay về tái chiếm Kiev, đuổi cổ Gleb Yurievich về lại Vladimir.
Sau này Andrey Bogolyubsky còn định chiếm Kiev một lần nữa vào năm 1173, nhưng thất bại nửa chừng. Tới năm 1203, Kiev mới một lần nữa bị hạ, nhưng lần này do liên quân của xứ Smolensk đứng đầu. Dù thế nào, thì cuộc cướp phá Kiev năm 1169 vẫn tạo ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử Nga - đó là việc tàn phá Kiev, làm suy yếu tột độ ảnh hưởng của xứ này, khiến trung tâm quyền lực của Nga chuyển từ Kiev về Vladimir. Công quốc Vladimir, sau này trở thành tiền đề của Đại công quốc Moscow, hình thành nên nước Nga hiện đại.
Sự gia nhập của Ukraine vào Nga
1/ Bối cảnh
Tới giữa thế kỷ 17, vùng đất tương ứng phần lớn lãnh thổ Ukraine ngày nay là một vùng phụ thuộc lỏng lẻo của Khối thịnh vượng chung Ba Lan - Lithuania. Riêng vùng cực Nam (bao gồm bán đảo Crimea) là Hãn quốc Crimea - chư hầu của Đế quốc Ottoman.
Người Cossack vốn sống tự do hoãng dã trên các thảo nguyên Đông Nam Âu từ lâu đời. Vào thế kỷ 17, sự tự do này bị chèn ép bởi chính quyền khối Thịnh vượng chung Ba Lan, chủ yếu liên quan tới vấn đề đất đai, thuế má, nô lệ và tôn giáo (người Ba Lan cố gắng ép người Cossack theo Công giáo La Mã). Vì vậy, hàng chục cuộc nổi dậy lớn nhỏ của người Cossack đã nổ ra chống lại chính quyền Ba Lan. 5 cuộc nổi dậy lớn diễn ra vào các năm 1635, 1630, 1635, 1637 và 1638. Sau cuộc nổi dậy năm 1638 thất bại, người Cossack rơi vào một thời kỳ khủng hoảng: dân số giảm, người dân ly tán, đất sống bị thu hẹp, bị đàn áp nặng nề,...
2/ Cuộc nổi dậy của Khmelnitsky.
Ở làng Subotov, miền trung Ukraine ngày nay, có một chủ đất Cossack giàu có tên là Bohdan Khmelnytsky vốn trung thành với vua Ba Lan. Vào năm 1648, quân đội Ba Lan vào cướp điền trang lớn của Bohdan Khmelnytsky, bắt đi vợ và các con trai ông. Bohdan Khmelnytsky sau đó tìm cách kiện những kẻ cướp bóc ở tòa án Ba Lan, thậm chí cả nhà vua, nhưng cuối cùng quan tòa đã xử có lợi cho những kẻ cướp bóc.
Bị mất tài sản và gia đình, Bohdan Khmelnytsky từ bỏ lòng trung thành với Ba Lan, lui về phía Nam tới vùng Zaporozhia, tập hợp những thợ săn Cossack dũng mãnh thành lập một đội quân tự xưng là "binh đoàn Zaporozhia". Bản thân Bohdan Khmelnytsky tự xưng là "hetman" (dịch là Thống soái) của binh đoàn, tuyên bố chiến đấu chống lại người Ba Lan.
Quân Zaporozhia còn xin liên minh với quân đội của Hãn quốc Crimea, hứa chia cho họ tài sản và tù binh chiếm được từ quân Ba Lan nếu chiến thắng. Hãn quốc Crimea đã đồng ý và gửi kỵ binh đến giúp đỡ cuộc nổi dậy của quân Zaporozhia.
Cuộc chiến của người Cossack thu được những thắng lợi ban đầu. Hai trận đánh lớn đầu năm 1648 ở Zhovti Vody (tháng 4) và ở Korsun (tháng 5) đã tiêu diệt hoàn toàn lực lượng 3 vạn quân Ba Lan ở miền Nam Ukraine. Hầu hết tù binh Ba Lan (khoảng 7.000 người) sau đó được trao cho Hãn quốc Crimea làm nô lệ như lời tạ ơn của người Ukraine.
Đến hết năm 1648, một nửa lãnh thổ Ukraine đã được quân của thống soái Khmelnytsky giải phóng. Ngày 23/12/1648, thống soái Khmelnytsky tiến vào giải phóng Kiev ngay trước Giáng sinh, một sự kiện mang tính biểu tượng lịch sử. Sau sự kiện này, Khmelnytsky tạm dừng các chiến dịch quân sự và cố gắng gửi thư đàm phán với người Ba Lan để chấm dứt chiến tranh và khôi phục lại các quyền lợi cho người Cossack Ukraine.
3/ Ba Lan đàn áp nổi dậy
Dù thất bại trước người Cossack trong thời gian đầu, nhưng tình hình trở nên có lợi cho Ba Lan vào năm 1649. Chiến tranh 30 năm (1618-1848) kết thúc giúp họ có thời gian bổ sung binh lực lính đánh thuê từ Đức, Ý, Thụy Điển,... Vua Ba Lan cũng đứng ra yêu cầu hãn quốc Crimea ngừng can thiệp vào Ukraine, đổi lại bằng những phần quà giá trị lớn. Trong khi đó, quân đội của người Cossack trải qua trận dịch hạch lớn làm nhiều người bỏ mạng.
Nhờ những điều kiện đó, năm 1649 quân Ba Lan nối lại cuộc tấn công nhằm đàn áp người cossack. Ngày 31/7/1649, 7.000 quân Ba Lan đánh thắng 3 vạn quân cossack Ukraine một trận lớn ở Loyew, khiến lực lượng cossack tổn thất nặng nề và phải chịu đầu hàng. Một hiệp định đầu hàng ký sau đó cho phép người cossack được tự trị, nhưng phải giải giáp quân đội và thề trung thành với Vua Ba Lan.
4/ Cuộc xâm lược của Ba Lan (1651) và thất bại của Cossack.
Hòa bình được 2 năm, quân Ba Lan nối lại cuộc xâm lược nhằm tiêu diệt tận gốc mối nguy từ người Cossack Ukraine. Mùa hè năm 1651, quân Ba Lan càn quét Ukraine, liên tục đánh bại quân Cossack những trận lớn. Trong trận Berestetskaya tháng 7/1651, quân Ba Lan chỉ mất khoảng 1.000 người đã đánh tan lực lượng đông đảo tới 20 vạn quân Cossack và đồng minh Hãn quốc Crimea, tiêu diệt 3 vạn quân địch.
Trong 2 năm sau đó, từ 1651 tới 1653, các cuộc tấn công của Ba Lan đã tàn phá Ukraine và khiến quân Cossack đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn. Đứng trước thảm cảnh vong quốc, thủ lĩnh Bohdan Khmelnitsky của người Cossack đã quyết định cầu xin sự giúp đỡ của Sa quốc Nga.
Cuối năm 1653, thủ lĩnh Bohdan Khmelnitsky gửi một bức thư tới Sa hoàng Alexei Mikhailovich. Trong thư, Bohdan Khmelnitsky khẩn cầu nước Nga giúp đỡ người Cossack chống lại họa xâm lăng của Ba Lan. Đổi lại, Bohdan Khmelnitsky bày tỏ lòng trung thành của người Cossack với Sa hoàng nếu được giúp đỡ.
5/ Sự gia nhập của cossack và sự giúp đỡ của Nga
Nhận được bức thư của thủ lĩnh Cossack, Sa hoàng Nga quyết định cử một phái đoàn tới Kiev để "ghi nhận" lòng trung thành của người Cossack. Tháng 1/1654, phái đoàn Nga tới Kiev để tiếp nhận lời thề. Một cuộc gặp mặt lớn của người dân đã được các thủ lĩnh Cossack triệu tập. Kết quả là một lời tuyên thệ trung thành của các thủ lĩnh Cossack được đưa tới Sa hoàng, với sự chứng thực của 122.542 cư dân.
Tháng 3/1654, các văn bản của lời thề trung thành của Cossack được đưa về Moscow tới tay Sa hoàng. Chúng được chính thức chấp nhận vào ngày 14/3/1654, cũng coi như sự kiện chính thức đánh dấu việc Ukraine sáp nhập vào Đế quốc Nga.
Dĩ nhiên, người Nga phải thực hiện lời hứa của họ để đổi lấy sự sáp nhập của Ukraine - đó là chống lại Ba Lan. Bất chấp những khó khăn về quân sự, Nga vẫn phát động một cuộc chiến chống lại Ba Lan năm 1654 để giúp người Ukraine tránh khỏi họa vong quốc. Cuộc xâm lược của Nga vào Ba Lan diễn ra khá khó khăn, không thu được nhiều thắng lợi. Nhưng điều đó cũng không quan trọng, vì năm 1655, Thụy Điển đã xâm lược Ba Lan, tạo nên thảm họa lớn nhất lịch sử Ba Lan mà họ gọi là "potop" (đại hồng thủy) - tàn phá 3/4 lãnh thổ và làm mất 1/3 dân số quốc gia này.
6/ Ảnh hưởng của sự kiện
Với thất bại gần như sụp đổ của Ba Lan trước Thụy Điển, Ukraine đã được đảm bảo tách khỏi ảnh hưởng của Ba Lan một cách lâu dài. Điều này giúp họ thoát được trước mắt là sự đàn áp của giáo hội Công giáo La Mã ở Ba Lan, duy trì tín ngưỡng Chính thống của mình.
Mặc dù vậy, mối quan hệ giữa người Cossack và người Nga sau khi sáp nhập cũng không phải hoàn hảo. Sự sáp nhập vào Nga đánh đổi bằng việc áp đặt chế độ nông nô lên người Cossack, quá trình Nga hóa mạnh mẽ, trong khi các vấn đề về thuế và ruộng đất cũng không khá hơn là bao. Những khúc mắc trong quan hệ giữa người Cossack và Nga (chủ yếu xoay quanh chế độ nông nô hà khắc) đã dẫn đến những cuộc nổi dậy lớn của người Cossack ở Nga, kéo dài tới thế kỷ 18 mới chấm dứt.
Phần 2. Nhận định
Phần 3. Bàn luận
[1]
[2]
Để đây lát viết.
Sửa lần cuối: