PC06
Bò lái xe
Trần Độ là người thẳng thắn và có tư duy độc lập. Với anh, làm cách mạng phải đi cùng tỉnh táo và trung thực, không thể tin hay làm theo điều sai chỉ vì quyền lực. Anh được kính trọng vì cách sống và bản lĩnh cá nhân, không phải vì chức vụ.
Trần Độ luôn đặt sự thật lên trên khẩu hiệu. Anh ủng hộ cởi mở cho văn nghệ sĩ, phản đối những rào cản vô lý kìm hãm đất nước, và tin rằng muốn phát triển thì phải tôn trọng sáng tạo và tiếng nói khác biệt. Anh cố thay đổi hệ thống từ bên trong dù biết rất khó.
Điều khiến người ta nhớ nhất ở Trần Độ là nhân cách, dũng khí nói thật và lòng lo cho dân tộc. Anh không chịu làm “kẻ mù” trong thời cuộc, luôn chọn đứng về lẽ phải và tình người, nên được gọi là người yêu sự thật, sống vì đất nước.
Trần Độ được phong trung tướng cùng lúc với Lê Đức Anh, nhân vật sau này làm mưa làm gió trong chính trựờng. Nếu biết xuôi dòng anh có thể sẽ lên cao hơn nữa trong hệ thống quyền lực, hơn đứt Lê Đức Anh. Là nói chuyện đằng thằng, không tính đến ô dù.
Trần Độ là người quá ngay thẳng. Anh nghĩ gì nói nấy, không giữ gìn. Anh không biết lui tới, biết náu mình chờ thời. Anh hành xử theo lương tâm, cứng đầu trong cuộc đấu tranh cho chân lý. Về mặt này anh giống Hoàng Minh Chính. Cả hai đều có tố chất người lính can trường. Nhưng không phải người làm chính trị.
Không ai có thể can ngăn Trần Độ. Những phát biểu của anh lúc này lúc khác, chỗ này chỗ nọ tiếp tục làm chối tai các “lãnh tụ”.
Mà có phải anh chỉ phê bình sơ sơ những khuyết điểm cục bộ đâu. Từ chỗ nhỏ nhẹ, anh dần nói trắng ra ý muốn thay thế thể chế hiện tại bằng chế độ dân chủ, tam quyền phân lập… Với người khác là chuyện bình thường. Nhưng anh là người cộng.sản từ khi chính quyền còn trứng nước, đã có chức vụ cao. Những phát biểu như thế có ảnh hưởng lớn trong quần chúng đảng viên, chưa nói gì tới đông đảo quần chúng ngoài đảng. Một anh bạn trong Bộ Nội vụ, cấp cao, thân tình khuyên tôi chớ dây với Trần Độ – hồ sơ Trần Độ đã được lập, mỗi ngày một dày thêm. Anh bị theo dõi anh từng bước.
Những bài viết của anh, không được đăng báo, nhưng được chuyền tay rộng rãi. Chúng làm cho thiên đình điên ruột. Anh nhanh chóng trở thành “tên phản động”.
Thời thế đã khác – người ta không thể bỏ tù anh tức khắc. Người ta chỉ có thể dùng đủ mọi cách hạ uy tín của anh.
Còn nhớ năm 1997 tôi ở thành phố Strassbourg cùng với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Một hôm, Trần Độ gửi cho tôi bài viết mới của anh, bảo tôi xem lại trước khi anh công bố. Tôi đưa anh Thiện cùng đọc. Thiện đọc xong, nói anh không hài lòng một số câu chữ trong đó. Lúc nói chuyện điện thoại với Trần Độ, tôi bảo Thiện cứ nói thẳng ý kiến của mình cho Trần Độ nghe. Thiện bỗ bã: “Không hiểu sao đến nay anh vẫn còn có thể dùng những từ “giải phóng”, “Mỹ-Nguỵ” trong bài viết, nó không đúng, không chỉnh, người đọc sẽ khó chịu đấy”. Trần Độ cười hề hề: “Mình lỡ viết theo thói quen, cậu sửa lại hộ mình nhá”.
Tôi ngạc nhiên khi đọc ở đâu đó có người viết Trần Độ quan cách, hách dịch. Tôi không hề thấy tính cách ấy ở anh. Rất có thể người nào đó bị anh khinh, không thèm trò chuyện, đã nghĩ thế. Là người trực tính, Trần Độ không biết giấu đi thái độ của anh trong giao thiệp, và chỉ có thế.
Một thí dụ. Năm 2001, trong một cuộc trò chuyện điện thoại với Trần Độ khi tôi đang ở Frankfurt am Main (CHLB Đức), có mặt một chú em rất hâm mộ bác Độ. Chú này có mặt trong cuộc điện đàm của tôi với Trần Độ, nằng nặc đòi tôi cho chú nói với bác Độ vài câu: “Bác ơi, cái đảng của bác kỳ quá, ai lại chống tham nhũng mà lại chống từ cấp cơ sở? Quét nhà thì người ta phải quét từ tầng trên xuống tầng dưới chứ! Ai lại đi làm chuyện ngược đời – quét từ dưới lên trên?”. Anh Độ cười to: ”Hay, chú nói hay lắm. Chỉ sai một chút thôi: cái đảng ấy không phải của tôi. Nó là của lũ vừa ngu vừa rồ. Này, chú tên gì nhỉ?”, “Dạ, cháu tên Cóc, Nguyễn Văn Cóc. Dễ nhớ lắm, bác ạ. Ở Đức này chỉ có mình cháu có cái tên xấu xí ấy thôi”. Anh Độ lại cười to: “Xấu gì mà xấu, cậu ông Giời nói đúng lắm, cái đảng ấy toàn làm chuyện lộn ngược thôi!”.
Việc Trần Độ bị khai trừ Đảng năm 1999 ai cũng đã biết. Đảng cộng.sản vốn không thích vạch áo cho người xem lưng cũng đã kiên nhẫn với Trần Độ lắm rồi, nhịn Trần Độ nhiều lắm rồi. Lẽ ra không bắt anh thì người ta cũng phải khai trừ anh từ lâu.
Anh cười, anh nói anh bị đảng của anh khai trừ là may. Như thế, anh được thừa nhận không phải là người nằm trong “vũng bùn mà cái đảng ấy đang đằm mình một cách sáng tạo”.
Khai trừ anh đảng cộng.sản thêm một lần không thèm giấu giếm cái hẹp hòi truyền thống của mình – không bao giờ chịu nghe lời nói ngược. Hành hạ anh cho tới khi chết, cấm người đi đưa tang không được dùng chữ “Vô cùng thương tiếc”, đảng cộng.sản lại càng cho thiên hạ thấy nó tiểu nhân tới mức nào trong sự hằn thù.
Đảng của anh khai trừ anh. Bù lại anh được nhân dân đón vào lòng.
Nhà cầm quyền căm ghét anh. Bù lại anh được tình yêu thương của những người yêu nước, của đồng bào.
Anh được rất nhiều, mà không mất gì. Nói cách khác, cái người ta quen cho là mất chẳng là cái quái gì đối với anh.
Khi lâm bệnh, anh không dùng một viên thuốc nào của nhà nước cấp – anh không tin thứ thuốc từ những người mà anh biết là không tử tế. Anh chỉ dùng thuốc đồng bào gửi cho anh. Có hai người rất sốt sắng lo cho anh có thuốc đủ dùng là Tưởng Năng Tiến và Đinh Quang Anh Thái. Khi anh qua đời, những bọc thuốc cuối cùng vẫn còn ở trên đường. Trần Độ không bao giờ quên nhắn tôi gửi lời cảm ơn hai người bạn thiết anh không biết mặt.
Được tin anh mất, tôi không khóc. Nước mắt chảy vào tim. Tôi cảm được rằng mất mát này lớn hơn rất nhiều mất mát cho riêng tôi, đứa em yêu mến và kính trọng anh. Mất mát này là của cả dân tộc đang nhọc nhằn đi tìm quyền sống, quyền làm người.
Trong bức thư cuối cùng Trần Độ gửi cho tôi trước khi mất, anh dặn: “Giai đoạn chuẩn bị cho sự chuyển đổi chế độ có thể kéo dài. Việc hàng ngày của ta, không được quên, là nâng cao dân trí. Dân trí càng được nâng cao bao nhiêu thì sự chuyển đổi sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu. Thời cơ đến, việc mới thành. Chuẩn bị tốt thì thành tốt”.
Thời cơ mà ta chờ đợi sẽ đến, bao giờ cũng bất ngờ, lịch sử vốn thích làm thế mà, nhưng nó sẽ đến, tất yếu đến, bởi nó là quy luật của muôn đời.
Như nó đã từng xảy ra cùng với sự kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai đã bất ngờ đưa lại nền độc lập cho các nước thuộc địa.
Như nó đã đến với sự sụp đổ không thể nào đoán trước của cường quốc Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu.
Nó sẽ đến, như Trần Độ mong ước. Như chúng ta cùng mong ước với anh.
Ở thế giới bên kia, khi nó đến, hẳn anh sẽ mỉm cười sung sướng.
Vũ Thư Hiên - Paris, 2002