Người Việt Nam để tang cha mẹ bao nhiêu năm thời phong kiến

thời Man di thì cha mẹ chết chỉ có mặc áo tối màu, vẫn sinh hoạt bình thường chứ để tang 1 năm 3 năm gì đâu
 
Thời Lý để tang không có quy định cụ thể thời gian
Thậm chí muốn để tang cha mẹ bao lâu cũng được không có quy định
Vd
Khi Lý Thái Tổ chết 1028 vào tháng 3 thì các con Thái Tổ đánh nhau giành ngôi khi linh cửu cha còn chưa chôn
Lý phật mã lên ngôi từ tháng 3 1028 tức Lý Thái Tông thì linh cữu cha còn quàn đó chưa chôn mà đã tổ chức yến tiệc linh đình mừng sinh nhật rồi
Trích sử toàn thư
Mậu Thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 19 [1028], (Từ tháng 3 về sau là niên hiệu Lý Thái Tông, Thiên Thành năm thứ 1; Tống Thiên Thánh năm thứ 6).
Mùa xuân, tháng 2, vua không khỏe. Tháng 3, ngày mồng 1 Bính Thân, nhật thực. Ngày Mậu Tuất, vua băng ở điện Long An. Bề tôi đều đến cung Long Đức xin thái tử vâng di chiếu lên ngôi.
Tháng 6, lấy ngày sinh của vua làm tiết Thiên Thánh. Lấy tre làm núi Vạn Tuế Nam Sơn ở Long trì: kiểu núi làm thành năm ngọn, trên đỉnh ngọn ở giữa dựng núi Trường Thọ, bên đỉnh bốn ngọn xung quanh đều đặt núi Bạch Hạc, trên núi làm hình dạng các giống chim bay [17a] thú chạy, lưng chừng núi có rồng thần cuốn quanh, cắm xen các thứ cờ, treo lẫn vàng ngọc, sai con hát(423) thổi sáo thổi kèn trong hang núi, dâng ca tấu múa làm vui, cho các quan ăn yến. Quy chế núi năm ngọn bắt đầu từ đấy.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Mừng ngày sinh là lễ lớn. Bề tôi chúc mừng vua, vua ban yến cho bề tôi, vua tôi hòa hợp để thông tình trên dưới, lễ vốn nên như thế. Song vua đương để tang mà vui chơi hết mức, không nghĩ đến việc tiên đế chưa chôn sao? Cái lòng đau đớn thương xót, có lẽ không còn gì.
Mùa đông, tháng 10, táng [tiên đế] ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức, đặt thụy là Thần Vũ Hoàng Đế, miếu hiệu là Thái Tổ
 
Sang đời Lý Nhân Tông vua cảm thấy không khỏe gọi bề tôi vào dặn
Trích sử toàn thư
Tháng 12 1127
Vua không khỏe, gọi Thái úy Lưu Khánh Đàm vào nhận di chiếu rằng: "Trẫm nghe phàm các loài sinh vật không loài nào không chết. Chết là số lớn của trời đất, lẽ đương nhiên của mọi vật. Thế mà người đời không ai là không thích sống mà ghét chết. Chôn cất hậu làm mất cơ nghiệp, để tang lâu làm tổn tính mệnh, trẫm không cho là phải. Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi chết đi lại khiến cho thứ dân mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế, làm cho lỗi ta thêm nặng, thiên hạ sẽ bảo ta là người thế nào...
Ngày Đinh Mão, vua băng ở điện Vĩnh Quang
Hoàng thái tử lên ngôi trước linh cữu. Hạ lệnh cho Vũ vệ Lệ Bá Ngọc truyền bảo quân hầu và các quan văn võ lui ra ngoài cửa Đại Hưng, sai các người giữ thành đóng cửa canh phòng cẩn mật, không cho ai ra vào. Lại sai cấm quân cầm binh khí đứng ở dưới điện Thiên An, rồi cho lệnh mở cửa nách bên hữu, gọi các quan vào long trì sai Bá Ngọc truyền bảo các vương hầu và các quan văn võ rằng: "Không may tiên đế lìa bỏ bầy tôi, ngôi trời không thể bỏ không lâu ngày. Ta còn ít tuổi, cố gượng nối ngôi, các khanh nên bền mãi một lòng(590), giúp đỡ nhà vua, không những để không phụ lòng tiên đế chú ý trông mong mà còn để con cháu các khanh đời đời hưởng lộc vị". Các quan đều lạy mừng và thương khóc. Sai nội nhân là Đỗ Thiện, xá nhân là Bồ Sùng đem việc ấy báo với Sùng Hiền hầu. xuống chiếu cho các hương ấp trong nước đều yên nghiệp như cũ, không được chứa giấu giặc cướp trốn tránh và những kẻ đánh nhau giết người.
Ngày Nhâm Ngọ, các quan dâng biểu xin quàn linh cữu ở điện Hồ Thiên. Ngày Quý Mùi, các quan mặc áo trở ở ngoài gác Vĩnh Bình. Ngày Giáp Thân, các quan dâng biểu xin vua ngự chính diện.
Ngày Ất Dậu, vua bắt đầu ngự điên Thiên An coi chầu. xuống chiếu cho các quan bỏ áo trở. Ngày hôm ấy vua ngự giá đi Na Ngạn(591) xem các cung nữ lên [27b] dàn thêu để chết theo Đại Hành Hoàng Đế.
Lê Văn Hưu nói: Trẻ nhỏ lên 3 tuổi thôi bế ẵm mới rời khỏi cha mẹ, cho nên từ thiên tử cho đến dân thường, tuy sang hèn khác nhau, mà tình thương nhớ 3 năm thì là một. Thế là để báo đền công khó nhọc của cha mẹ vậy. Huống chi Thần Tông được Nhân Tông nuôi nấng trong cung, không ơn gì hậu bằng, đáng lẽ phải tang hết mức buồn, tế hết mức kính, để báo đáp mới phải. Nay chưa được một tháng mà đã bảo các quan bỏ áo trở, chưa đến lễ tốt khốc mà đã đón hai phi hậu vào cung, không hiểu bấy giờ lấy gì để làm khuôn mẫu cho thiên hạ và biểu đạt với các quan? Thần Tông còn nhỏ tuổi, bầy tôi trong triều cũng lấy việc để tang ngắn làm may, không ai có một lời nói đến. Có thể bảo là trong triều không có người vậy."

Có nghĩa là Lý Thần Tông chỉ để tang vua Lý Nhân Tông đúng 1 tháng là bỏ áo tang mặc đồ bình thường trị quốc
 
Thời nhà Trần không quy định thời hạn để tang
Có trường hợp kỳ dị hơn
Nhân vinh lấy em gái vua Trần Nghệ Tông và hy sinh vì nước
Em gái Trần Nghệ Tông mới để tang 6 tháng mà bị Nghệ Tông bắt gả cho Hồ Quý Ly
Trích sử toàn thư
Cho nên vua khi mới lên ngôi rất tín nhiệm Quý Ly. Lại đem em gái mới góa chồng là công chúa Huy Ninh gả cho ông ta (Huy Ninh trước là vợ của tôn thất Nhân Vinh, Nhân Vinh bị Nhật Lễ giết hại).
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Nhân Vinh chết vì thù nước, Huy Ninh để tang chồng mới được 6 tháng mà vua đã đem gả cho Quý Ly. Thế là làm hỏng nhân luân bắt đầu từ vua, mà kẻ làm chồng, người làm vợ cũngkhông có nhân tâm. Phá bỏ lẽ chồng vợ, đảo loạn đạo tam cương, thì làm sao mà chẳng sinh loạn?.
 
Vậy người Việt Nam bắt đầu biết quy định để tang cha mẹ ba năm bắt đầu từ đâu?
Trích Minh Thực Lục
Ngày 4 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [26/7/1419]

Phó Lý vấn ty Bố chính Giao Chỉ Lô văn Chính, tâu rằng:

"Người Giao Chỉ tập quen phong tục Man Di, cha mẹ chết chỉ mặc áo đen; Thổ quan, Sinh viên, Thư lại cha mẹ chết cũng không xin nghỉ việc cư tang. Xin dùng quốc triều [Trung Quốc) đã định về tang lễ, ban hành dân gian để tuân hành. Các Thổ quan, Sinh viên, Thư lại có cha mẹ chết, phải bỏ chức dịch" chịu tang, ngõ hầu dần dần từ bỏ tập tục Man Di."

Hoàng Thượng nghe tấu, liền dụ bộ Lễ rằng:


"Ba năm cư tang là thông lệ xưa nay, thiên hạ ai mà không có cha mẹ, cho theo lời thỉnh cầu."

(Minh Thực lục v.14, tr. 2146; Thái Tông q. 214, tr. lb
Như vậy người đầu tiên quy định người Việt Nam để tang cha mẹ 3 năm là thằng vua Tàu Chu Đệ
 
Lê Lợi sau khi lên ngôi vua thì bỏ quy định này
Trở về với thời Lý Trần không quy định cụ thể thời gian để tang bao nhiêu năm
Sau Lê Lợi đánh bại Minh thì quy chế tang 3 năm này không dùng nửa.
Bằng chứng là Nguyễn Trãi có tranh luận với các quan về thời gian cư tang Lê Lợi và mặc tang phục
Bằng chứng là Nguyễn Trãi có tranh luận với các quan về thời gian cư tang Lê Lợi và mặc tang phục
Trích sử toàn thư
Tháng 8 nhuận tức tháng 9 1433, sao Chổi mọc ở phương tây.
Ngày 22, vua băng ở chính tẩm.
Mùa thu, tháng 9 năm 1433, ngày mồng 8, thái tử Nguyên Long lên ngôi Hoàng đế. Đại xá, đổi niên hiệu, lấy năm sau làm năm Thiệu Bình thứ 1. Bấy giờ vua mới 11 tuổi.

Ngày 22 tháng 8 năm 1434
Sai bọn Nhập nội thiếu bảo Lê Quốc Hưng; Nhập nội hữu bật Lê Văn Linh làm lễ tấu cáo ở Thái miếu, rước thần chủ mới của Thái Tổ và Quốc thái mẫu vào thờ ở Thái miếu.

Sai các quan văn võ tới đô sảnh đài bàn việc bỏ áo tang. Bọn Hành khiển Nguyễn Trãi đều bàn nên mặc áo trắng 27 ngày nữa rồi sau hãy bỏ.

Ngày 26, vua thân ngồi ngai son.
Lê Lợi mất tháng 9 1433 mà tháng 8 năm 1434 mới chưa đầy 1 năm đã bỏ áo tang rồi
Nguyễn Trãi cố gắng duy trì thêm 27 ngày là cố vượt qua 1 năm ngày mất Lê Lợi hãy bỏ tang
Trong khi các tướng Lam Sơn muốn bỏ tang trước 1 năm.
Như vậy thời Lê Lợi thì người ta để tang cha mẹ chưa đến 1 năm
 
Trích sử toàn thư
"Tháng 6, lấy ngày sinh làm Hiến Thiên thánh tiết.
Mùa đông, tháng 10 1443, vua bỏ áo tang, mặc hoàng bào, ngự chính điện để coi chầu. Các quan mặc thường phục theo thứ bậc của mình, vì các quan tâu xin bỏ tang phục, mặc cát phục, căn cứ theo lời chiêm đoán các việc âm dương tai dị của Thái sử viện."
Lê Nhân Tông để tang Thái Tông đúng 1 năm
Vua Thái Tông chết đầu tháng 9 1442 thì tháng 10 1443 vua bỏ tang rồi
Để tang cha mẹ chỉ 1 năm
Sau này các nhà nho giáo đã viết sớ đàn hặc thì hanh vì cái vụ để tang này
"Hôm sau, Thì Hanh thản nhiên lên điện coi sổ sách như thường. Hanh Phát tâu vua:
"Thần làm chức ngôn quan,điều hay dở của chính sự, việc dùng người đúng sai, đều phải nói cho rõ xem có được hay không. Vì thế người xưa có câu: "Nói tới xe ngự thì Thiên tử phải đổi sắc mặc, nói tới miếu đường thì Tể tướng phải [71b] chờ xét tội". Nay Thì Hanh không chịu tạ tội, cứ điềm nhiên như không. Như vậy đâu chỉ là khinh thần, mà hẳn còn coi thường phép nước. Ngày xưa Phó Dịch và Lý Thuần Phong(1711) nhà Đường, tinh thông lịch số, rất giỏi thiên văn, người bấy giờ đều cho là không ai sánh kịp, nhưng họ cũng chỉ làm đến Thái sử lệnh mà thôi. Nay Thì Hanh tài nghệ còn thua kém bọn Thuần Phong tới trăm ngàn lần, mà được lạm dự Môn hạ sảnh kiêm tri Tây đạo là tại làm sao ? Huống chi, Thì Hanh là đứa là đứa tiểu nhân gian tà về đời Thái Tổ, dám nói càn chiết tự hai chữ "Thuận Thiên"(1712) đã bị bãi truất. Đến triều Thái Tông lại cậy tà thuật, ngầm sai giết vượn lấy máu, để trấn yểm tai biến của trời. Đến khi bệ hạ đang lúc có tang, bỗng gặp thiên tai, Thì Hanh bịa cớ âm dương xung khắc, nói láo là do có quốc tang nên mới sinh ra, tâu xin rút ngắn ngày để tang để trừ bỏ tai biến của trời. Xét các việc làm của hắn, thực là [72a] lừa dối cả. Thần sợ thiên hạ đời sau đều bảo là dùng bọn âm dương(1713) làm Tham tri, bọn bói toán làm An phủ, bắt đầu từ bệ hạ, chứ từ xưa chưa từng bao giờ có bao giờ"
 
Tháng 3 năm 1449
Giáng Thẩm hình viện đồng tri Phan Nhân làm An phủ phó sứ lộ Lý Nhân.
Đưa Ngự sử Lưu Thúc Khiêm ra làm Chuyển vận phó sứ huyện Yên Lãng(1728) ; Nguyễn Cư Đạo làm Quốc tử giám trực giảng, vì hai ông này hặc tội Doãn Cung va Hoằng Nghị.
Lấy Đông đạo đồng tri bạ tịch Nguyễn Thúc Huệ làm Môn hạ hữu nạp ngôn, Thái sử lệnh Bùi Thì Hanh làm Tham nghị chính sự.
Gíán quan Đồng Hanh Phát hặc Thúc Huệ rằng:
"Chức vụ quan trọng nhất của triều đình chỉ có Tể tướng và Hành khiển thôi. Nay Thúc Huệ xuất thân là tiểu lại, chuyên dùng chính lệnh hà khắc.Trước đã làm Tham tri Bắc đạo 2 người chung nhau một chiếc quần. Đến khi vâng mệnh đi sứ nước ngoài thì gọi là đồ qủy, làm nhục cho nước đến thế, còn làm gì?"
[82b] Lại hặc Thì Hanh rằng:
"Thì Hanh dùng tà thuật lừa dối vua,xui vua để tang ngắn ngày để bệ hạ thất hiếu với Tiên đế. Vả lại, việc để tang ba năm, thì Tiên đế đã thực hiện rồi.Thần trước đã hặc Thì Hanh phải bãi chức Tham tri Tây đạo, thế mà nay lại thăng tới chức Chính sự tham nghị! Vả "chính" có nghĩa là chính đáng, nếu bản thân mình không chính đáng thì làm việc sao cho chính đáng được? Thần nghe hào Lục tam trong quẻ Giải nói: 'Kẽ mang tội mà ngồi xe, ắt sẽ dắt giặc tới" (1729) là chỉ bọn Thúc Huệ,Thì Hanh đó chăng?"

Như vậy Lê Thái Tông đã có quy định để tang 3 năm nhưng Lê Nhân Tông chỉ để tang cha có 1 năm do quan thiên giám Thì Hanh dâng sớ bảo để tang lâu thì không tốt cho quốc vận
Như vậy cho đến thời Lê Nhân Tông quy chế để tang còn chưa thống nhất
 
Đến Lê Thánh Tông 1470 mới chính thức ra quy định rõ ràng về thời gian để tang trong luật pháp
Trích sử toàn thư
Canh Dần, Hồng Đức năm thứ 1 [1470] ( Minh Thành Hoá năm thú 6), Mùa xuân, tháng giêng cấm làm giả nón da.
Chọn các vủ sĩ vệ Kim ngô đi bắt giặc biển.
Ra sắc chỉ rằng: Con để tang cha mẹ, vợ để tang chồng phải theo quy chế chung là 3 năm, không được theo ý riêng tự tiện làm trái lễ, phạm pháp. Con để tang cha mẹ và vợ cả, vợ lẽ có chửa thì bắt tội đi đày. Vợ để tang chồng mà dâm loạn bừa bãi, hoặc chưa hết tang đã bỏ áo trở, mặc áo thường, hoặc nhận lễ hỏi của nguời khác, hay đi lấy chồng khác [53a] đều phải tội chết cả. Nếu đương có tang, ra ngoài thấy đám trò vui mà cứ mê mải xem không tránh, thì xử tội đi đày. Nếu kẻ nào tham của, hiếu sắc mà lấy vợ cả vợ lẽ của kẻ đại ác phản nghịch, cùng là người Man thông dâm với vợ cả vợ lẽ của anh em đã chết rồi, cùng những kẻ làm quan lại mà nhận hối lộ thì tùy tộ nặng nhẹ mà xử tội
 
Tóm lại phong tục để tang cha mẹ 3 năm là học theo Tàu từ thời thuộc Minh và ông vua nho giáo Lê Thánh Tông học mót từ Tàu đem về áp dụng
Chứ truyền thống tổ tiên dân Việt Nam không có phong tục này
Phong tục tập quán Truyền thống tốt đẹp của dân ta là cha chết chưa kịp chôn thì mấy đứa con đã đánh nhau giành ngai vàng hay gia tài rồi
Con của Lê Hoàn và Lý Công Uẩn đấm nhau giành ngôi ngay khi cha vừa chết
Ông vua Lý Trần cha vừa chết thì lập hậu ngay còn ăn chơi hát hò yến tiệc linh đình
Đó mới là truyền thống tốt đẹp của dân Việt Nam
 

Có thể bạn quan tâm

Top