Tính Giao
Thích phó đà
Thời thượng cổ xa xưa Trung Hoa chỉ có 8 họ duy nhất là Khương (姜), Cơ (姬), Cật (姞), Diêu (姚), Quy (媯), Doanh (嬴), Tự (姒), Vân (妘), và Nhậm (妊)
Sau này tới thời nhà Chu, các tiểu quốc được vua Chu lập ra làm đất phân phong cho các hoàng tộc họ Cơ (họ của nước Chu) và các quý tộc cũ. Trải qua chiến tranh sáp nhập, các nước bị diệt thì dân lấy tên nước làm họ ví dụ như họ Trần, họ Đặng, họ Hoàng,... thì tương đương các tiểu quốc Trần, Đặng, Hoàng,... là vậy.
Ngoài ra người ta còn lấy tên nghề hoặc chức tước của mình làm họ, ví dụ như họ Đào (匋) tổ tiên làm nghề gốm sứ, chữ Đào (匋) có nghĩa là đồ gốm, từ đó có họ Đào như bây giờ. Họ Sử (史, "sử gia"), Tịch (籍, "quan coi thư tịch"), Lăng (凌, "quan coi phòng băng"), Thương (倉, "người quản lý kho thóc"), Khố (庫, "người quản lý kho"), Gián (諫, "quan có phận sự can gián nhà vua"), Thượng Quan (上官, "quan cao cấp"), Thái Sử (太史, "sử quan cao cấp"), Trung Hàng (中行, "chỉ huy quân hàng giữa"), Nhạc Chính (樂正, "trưởng đoàn nhạc"), và trường hợp "Ngũ Quan" (五官) thời nhà Thương là Tư Mã (司馬, "quan coi ngựa", giống như bộ trưởng quốc phòng), Tư Đồ (司徒, "chức quan tư đồ"), Tư Không (司空, "quan tư không", coi về nghề nghiệp), Tư Sĩ (司士, "quan thanh tra") và Tư Khấu (司寇, "quan tư khấu" coi việc hình).
Một số họ khác như họ Đông Phương (quan coi cửa Đông), Nam Cung, Tây Môn,... cũng từ đó mà ra.
Nhiều khi lấy tên Thái ấp, đất phân phong làm họ ví dụ như họ Lệnh Hồ: tướng nước Tấn là Ngụy Khỏa (魏顆) được phong chức tước ở đất Lệnh Hồ, từ đó hậu duệ của ông bèn lấy tên thái ấp làm tên của thị tộc. Họ Âu Dương cũng là lấy từ tên đất Âu Dương làm họ sau này.
Do hoàn cảnh lịch sử: Ví dụ như họ Gia Cát, vốn gốc là từ hậu duệ của tướng Cát Anh thời chống Tần, Cát Anh bị giết oan, sau này vua Hán là Lưu Bị lập quốc thì cho tìm con cháu hậu duệ Cát Anh. Lúc này một chi của họ Cát ở vùng đất tên là Gia thì lấy luôn tên đất và họ ghép vào thành Gia Cát, từ đó lấy làm họ luôn.
Một số họ của người Hồ (Hồ là chỉ chung các dân tộc phía Bắc, người Trung Hoa rất khinh thường và coi họ là man di mọi rợ) là do bị phiên âm sang tiếng Hán ví dụ như họ Mộ Dung, Gia Luật, Hoàn Nhan, Ái Tân Giác La,...
Có một họ độc quyền của người Triều Tiên đó là họ Phác (ở Việt Nam xem phim Hàn Quốc hay có họ Park chính là Phác). Người đầu tiên mang họ này trong lịch sử là vua đầu tiên nước Tân La (một nước cổ thời xưa của bán đảo Triều Tiên) là vua Phác Hách Cư Thế (Pak Hyŏkkŏse). Trong lịch sử vị vua này ra đời từ một quả trứng hình trái bầu. Trong tiếng Tân La (một thứ tiếng cổ xưa ở bán đảo Triều Tiên), trái bầu được phát âm là Pak. Về sau âm Pak này được dùng chữ Hán 朴 để ghi. Họ Phác này chỉ có ở bán đảo Triều Tiên, không có ở Việt Nam, Tàu và Nhật Bản.
Riêng Nhật Bản thì lại khác so với 3 nước kia, đến trước thời Minh Trị xã hội Nhật Bản được phân chia đẳng cấp rất chặt chẽ, loại dân thường bần nông không bao giờ có họ mà chỉ có tên. Sau thời cải cách Minh Trị, tầng lớp bần nông mới có họ, cách đặt họ thì đơn giản là lấy tên làng, tên nơi sống, thậm chí lấy cả tên cửa hiệu để đặt,... Thường họ người Nhật sẽ là họ kép chứ không phải họ đơn. Riêng Thiên Hoàng Nhật Bản thì không có họ riêng, vì dòng dõi Thiên Hoàng đại diện cho sự thần thánh của nước Nhật rồi.
Ở Việt Nam nguồn gốc các họ thì có nhiều giả thiết, thường nghiêng về hướng là học theo người Hoa. Một số họ mãi về sau mới có như họ Sử vốn dĩ tổ tiên là ông Trần Hy Nhan, ông này do giỏi chép Sử nên vua Trần ban cho họ Sử, con cháu đời đời sau này nối tiếp mang họ Sử mà bỏ họ Trần. Nhiều dòng họ phải đổi do loạn lạc chiến tranh, ví dụ như thời Trần lúc mới thành lập, Trần Thủ Độ đồ sát con cháu họ Lý, con cháu họ Lý về sau bị ép đổi sang họ Nguyễn rất nhiều. Rồi nhà Mạc sau khi sụp đổ con cháu họ Mạc cũng đổi sang họ Nguyễn. Thời vua Minh Mạng có lập thêm họ Tôn Thất (尊室) cho con cháu hậu duệ của các chúa Nguyễn đời trước. Vốn dĩ chữ Tôn (尊) đọc chuẩn là Tông, nhưng vì tránh húy của vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông) nên đổi đọc thành Tôn, từ đó có họ Tôn Thất. Đây là họ kép, nếu là trai thì là Tôn Thất, gái thì là Tôn Nữ. Do vậy trường hợp con trai giáo sư Tôn Thất Bách lại đặt là Tôn Hiếu Anh là sai, người đặt tên này không hiểu rằng Tôn Thất là một họ riêng khác hoàn toàn với họ Tôn (孫). Hậu quả cũng là vì Việt Nam giờ không dùng chữ Hán nên mới có sự nhầm lẫn vô cùng tai hại đó, đúng ra phải đặt là Tôn Thất Hiếu Anh.
Sau này tới thời nhà Chu, các tiểu quốc được vua Chu lập ra làm đất phân phong cho các hoàng tộc họ Cơ (họ của nước Chu) và các quý tộc cũ. Trải qua chiến tranh sáp nhập, các nước bị diệt thì dân lấy tên nước làm họ ví dụ như họ Trần, họ Đặng, họ Hoàng,... thì tương đương các tiểu quốc Trần, Đặng, Hoàng,... là vậy.
Ngoài ra người ta còn lấy tên nghề hoặc chức tước của mình làm họ, ví dụ như họ Đào (匋) tổ tiên làm nghề gốm sứ, chữ Đào (匋) có nghĩa là đồ gốm, từ đó có họ Đào như bây giờ. Họ Sử (史, "sử gia"), Tịch (籍, "quan coi thư tịch"), Lăng (凌, "quan coi phòng băng"), Thương (倉, "người quản lý kho thóc"), Khố (庫, "người quản lý kho"), Gián (諫, "quan có phận sự can gián nhà vua"), Thượng Quan (上官, "quan cao cấp"), Thái Sử (太史, "sử quan cao cấp"), Trung Hàng (中行, "chỉ huy quân hàng giữa"), Nhạc Chính (樂正, "trưởng đoàn nhạc"), và trường hợp "Ngũ Quan" (五官) thời nhà Thương là Tư Mã (司馬, "quan coi ngựa", giống như bộ trưởng quốc phòng), Tư Đồ (司徒, "chức quan tư đồ"), Tư Không (司空, "quan tư không", coi về nghề nghiệp), Tư Sĩ (司士, "quan thanh tra") và Tư Khấu (司寇, "quan tư khấu" coi việc hình).
Một số họ khác như họ Đông Phương (quan coi cửa Đông), Nam Cung, Tây Môn,... cũng từ đó mà ra.
Nhiều khi lấy tên Thái ấp, đất phân phong làm họ ví dụ như họ Lệnh Hồ: tướng nước Tấn là Ngụy Khỏa (魏顆) được phong chức tước ở đất Lệnh Hồ, từ đó hậu duệ của ông bèn lấy tên thái ấp làm tên của thị tộc. Họ Âu Dương cũng là lấy từ tên đất Âu Dương làm họ sau này.
Do hoàn cảnh lịch sử: Ví dụ như họ Gia Cát, vốn gốc là từ hậu duệ của tướng Cát Anh thời chống Tần, Cát Anh bị giết oan, sau này vua Hán là Lưu Bị lập quốc thì cho tìm con cháu hậu duệ Cát Anh. Lúc này một chi của họ Cát ở vùng đất tên là Gia thì lấy luôn tên đất và họ ghép vào thành Gia Cát, từ đó lấy làm họ luôn.
Một số họ của người Hồ (Hồ là chỉ chung các dân tộc phía Bắc, người Trung Hoa rất khinh thường và coi họ là man di mọi rợ) là do bị phiên âm sang tiếng Hán ví dụ như họ Mộ Dung, Gia Luật, Hoàn Nhan, Ái Tân Giác La,...
Có một họ độc quyền của người Triều Tiên đó là họ Phác (ở Việt Nam xem phim Hàn Quốc hay có họ Park chính là Phác). Người đầu tiên mang họ này trong lịch sử là vua đầu tiên nước Tân La (một nước cổ thời xưa của bán đảo Triều Tiên) là vua Phác Hách Cư Thế (Pak Hyŏkkŏse). Trong lịch sử vị vua này ra đời từ một quả trứng hình trái bầu. Trong tiếng Tân La (một thứ tiếng cổ xưa ở bán đảo Triều Tiên), trái bầu được phát âm là Pak. Về sau âm Pak này được dùng chữ Hán 朴 để ghi. Họ Phác này chỉ có ở bán đảo Triều Tiên, không có ở Việt Nam, Tàu và Nhật Bản.
Riêng Nhật Bản thì lại khác so với 3 nước kia, đến trước thời Minh Trị xã hội Nhật Bản được phân chia đẳng cấp rất chặt chẽ, loại dân thường bần nông không bao giờ có họ mà chỉ có tên. Sau thời cải cách Minh Trị, tầng lớp bần nông mới có họ, cách đặt họ thì đơn giản là lấy tên làng, tên nơi sống, thậm chí lấy cả tên cửa hiệu để đặt,... Thường họ người Nhật sẽ là họ kép chứ không phải họ đơn. Riêng Thiên Hoàng Nhật Bản thì không có họ riêng, vì dòng dõi Thiên Hoàng đại diện cho sự thần thánh của nước Nhật rồi.
Ở Việt Nam nguồn gốc các họ thì có nhiều giả thiết, thường nghiêng về hướng là học theo người Hoa. Một số họ mãi về sau mới có như họ Sử vốn dĩ tổ tiên là ông Trần Hy Nhan, ông này do giỏi chép Sử nên vua Trần ban cho họ Sử, con cháu đời đời sau này nối tiếp mang họ Sử mà bỏ họ Trần. Nhiều dòng họ phải đổi do loạn lạc chiến tranh, ví dụ như thời Trần lúc mới thành lập, Trần Thủ Độ đồ sát con cháu họ Lý, con cháu họ Lý về sau bị ép đổi sang họ Nguyễn rất nhiều. Rồi nhà Mạc sau khi sụp đổ con cháu họ Mạc cũng đổi sang họ Nguyễn. Thời vua Minh Mạng có lập thêm họ Tôn Thất (尊室) cho con cháu hậu duệ của các chúa Nguyễn đời trước. Vốn dĩ chữ Tôn (尊) đọc chuẩn là Tông, nhưng vì tránh húy của vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông) nên đổi đọc thành Tôn, từ đó có họ Tôn Thất. Đây là họ kép, nếu là trai thì là Tôn Thất, gái thì là Tôn Nữ. Do vậy trường hợp con trai giáo sư Tôn Thất Bách lại đặt là Tôn Hiếu Anh là sai, người đặt tên này không hiểu rằng Tôn Thất là một họ riêng khác hoàn toàn với họ Tôn (孫). Hậu quả cũng là vì Việt Nam giờ không dùng chữ Hán nên mới có sự nhầm lẫn vô cùng tai hại đó, đúng ra phải đặt là Tôn Thất Hiếu Anh.