Nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn: Lòng người hướng về ai?

Tính Giao

Thích phó đà
Sự hà khắc của nhà Tây Sơn
George Dutton từng là Phó Giáo sư khoa ngôn ngữ và văn hóa Á châu đồng thời là Giám đốc chương trình Liên Khoa Đông Nam Á học của trường đại học California tại Los Angeles có viết sách nghiên cứu về thời Tây Sơn, và được trình bày tại “Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần 2”, tổ chức ở Sài Gòn vào tháng 7/2004.

Theo những gì trình bày tại cuộc hội thảo này thì quân Tây Sơn nổi tiếng ưa cướp bóc và đốt phá, lại áp dụng chế độ cưỡng bức tuyển quân và lao dịch hà khắc. Vì thế mà quân Tây Sơn đi đến đâu thì dân chúng đều tìm cách trốn khỏi vùng họ kiểm soát. Ban đầu nhiều người vào hàng ngũ quân Tây Sơn, nhưng về sau ngày càng ít, chỉ còn là lính quân dịch.

Những nơi quân Tây Sơn chiếm đóng, người dân phải chịu cảnh lao dịch hà khắc, bị bắt buộc phải đi xây dựng các công trình quân sự và dinh thự. Ví như năm 1775 Nguyễn Nhạc bắt dân phục dịch xây dựng thành Chà Bàn (sau này Nguyễn Phúc Ánh đổi tên là thành Bình Định) để làm kinh đô cho mình, tiếm xưng là “thành Hoàng Đế”. Nguyễn Huệ cũng bắt dân phục dịch gây phản ứng xấu trong dân chúng.

Sau khi chiếm được Phú Xuân (kinh thành ở Huế), Nguyễn Huệ bắt dân phải ra sức làm ngày làm đêm nhằm củng cố thành lũy để cố thủ. Vài năm sau, Nguyễn Huệ có ý dời đô nên bắt người dân xây một công trình tầm vóc rất lớn trong thời gian ngắn là “Phượng Hoàng Trung Đô” ở Nghệ An. Theo các sử liệu nước ngoài thì người dân đã phản đối mạnh mẽ, thậm chí mạnh ai nấy trốn.

Chế độ lao dịch của Tây Sơn còn hà khắc hơn cả chúa Trịnh, khi mà quân lính Tây Sơn bắt cả nhà sư, phụ nữ, trẻ em đi phu, chỉ có các bà mẹ cho con bú mới được miễn.

Ngay trong trận chiến đánh quân Thanh, vua Quang Trung cũng đưa ra chế độ tuyển quân và lao dịch vô cùng hà khắc. Khi đó, các tướng Tây Sơn đều mang chức đô đốc, cưỡi ngựa đứng trên gò cao nhìn vào làng đếm nóc nhà, rồi tính ra số người mà mỗi làng phải nộp. Làng nào không nộp đủ thì bị tàn sát cả làng, dân chúng hãi hùng nên làng nào không đủ con trai phải bắt con gái giả trai để nộp cho đủ nhằm cứu cả làng. Sau khi đánh thắng quân Thanh, số lính mới tuyển này bị bỏ mặc, họ phải xin ăn để tìm đường trở lại quê quán.

Khi đánh trận Đống Đa, lo lắng quân Thanh phản công, Nguyễn Huệ lệnh cho dân chúng phải đắp một chiến lũy xung quanh để cố thủ, trong 3 ngày phải làm xong. Các giáo sĩ phương Tây chứng kiến cảnh này lo lắng thay cho dân chúng, vì 3 ngày thì không thể thực hiện được. Thế nhưng họ cũng không thể tưởng tượng được rằng dân chúng Thăng Long đã làm được điều đó. Người dân làm đến kiệt sức bởi lo sợ rằng nếu không hoàn thành sẽ bị tàn sát.

Lòng người hướng về ai?
Quân Tây Sơn không lấy được lòng dân vì thế lòng dân cứ nghiêng dần về quân Nguyễn. Năm 1792 Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh thân chinh đi đánh thành Quy Nhơn nhưng không thành. Từ đó hàng năm cứ đến mùa gió nồm (gió thổi từ hướng Nam), Nguyễn Phúc Ánh lại cho quân theo đường biển tiến ra đánh miền Trung; khi có gió bấc (gió thổi từ phía Bắc) thì lại rút quân về Gia Định.

Chính về thế người dân vùng Quảng Nam, Thuận hóa (tức Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay) cứ trông ngóng quân Nguyễn Vương từ Gia Định ra miền Trung đánh quân Tây Sơn. Nên thời bấy giờ có câu ca dao truyền tụng đến bây giờ:

Lạy trời cho cả gió nồm,
Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra.

Câu ca dao này cũng cho thấy rõ lòng dân ngả về ai.

Sự thất bại của nhà Tây Sơn trước nhà Nguyễn thường được cho là vì cái chết của vua Quang Trung. Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử, tại sao Nguyễn Phúc Ánh bao nhiêu lần tay trắng bại vong lại vẫn nhận được sự ủng hộ của người dân? Lòng người hướng về ai thì đã rõ, nhưng rốt cuộc Nguyễn Phúc Ánh bại vong bao nhiêu lần?

Truyền kỳ “tay trắng bại vong”
Đầu năm 1777, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến đánh Sài Gòn – Gia Định, các hoàng tộc chúa Nguyễn như chúa Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương (người ban đầu được quân Tây Sơn có khẩu hiệu phò tá lúc ban đầu) đều bị bắt và giết cả. Nguyễn Phúc Ánh may mắn có được một đứa trẻ con nhà kép hát che dấu mà trốn thoát được đến Rạch Giá.

Tại Hà Tiên, Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn truy tìm ráo riết, Bá Đa Lộc đã giúp đỡ ông chạy đến đảo Thổ Châu (còn gọi là Thổ Chu nằm ở phía tây nam đảo Phú Quốc). Sau một thời gian, quân Tây Sơn truy tìm không được phải rút đi, Nguyễn Phúc Ánh trở lại Long xuyên rồi Sa Đéc tập hợp các quân tướng của mình.

Năm 1782, Nguyễn Nhạc cùng Nguyễn Huệ đi đường biển nam tiến, Nguyễn Phúc Ánh chỉ huy quân đánh chặn ở vùng biển Cần Giờ. Quân Tây Sơn ban đầu tỏ ra yếu hơn, nhưng sau đó vẫn giành được chiến thắng dù hao tổn binh lực. Nguyễn Phúc Ánh thua trận phải bỏ chạy, bị truy gắt gao phải chạy sang tận khu rừng Romdoul thuộc Cao Miên (thuộc phía bắc tỉnh Svay Rieng, Campuchia ngày nay).

Quân Tây Sơn sang tận Cao Miên bắt vua Ang Eng phải hàng phục và buộc tất cả người Việt ở Cao Miên phải về nước, nhưng Nguyễn Phúc Ánh vẫn trốn kịp.

Sau đó Nguyễn Phúc Ánh trở về Nam bộ, bị quân Tây Sơn truy tìm khắp nơi, nhờ người dân Nam bộ che chở nên lần nào cũng thoát được, sau đó dùng thuyền nhỏ trốn ra đảo Phú Quốc.

Đến tháng 5 âm lịch năm 1782, nhận thấy Nguyễn Phúc Ánh không còn sức phản kháng, quân Tây Sơn rút về Quy Nhơn, để lại 3.000 quân ở đồn Bến Nghé để giữ Gia Định. Một tướng trước đây từng theo Tây Sơn là Châu Văn Tiếp cùng Nguyễn Phước Mân đánh chiếm lại được Gia Định và đón Nguyễn Phúc Ánh trở lại. Nguyễn phúc Ánh tổ chức lại quân binh, nhưng lực lượng rất rệu rã và yếu ớt.

Tháng 2 âm lịch năm 1783, Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đưa quân đến đánh Gia Định, tuyến phòng thủ ở cửa biển Cần Giờ bị đánh tan, một số tướng bị bắt hoặc tử trận. Nguyễn Phúc Ánh cùng tàn quân khoảng 100 người chạy thoát về Ba Giồng (tức Hóc Môn, Sài Gòn).

Tháng 4 âm lịch năm 1783, Nguyễn Phúc Ánh cho đóng quân ở Đồng Tuyên. Nguyễn Huệ hay tin đưa quân tới đánh khiến quân Nguyễn Phúc Ánh thua to, nhiều tướng lĩnh chi huy bị tử trận. Nguyễn Phúc Ánh bỏ chạy đến sông Lật Giang (nay là đoạn sông Vàm Cỏ Đông ở Bến Lức – Long An) dưới sự truy sát của quân Tây Sơn. Khi bơi qua sông nhiều lính đi theo bị chết đuối cả, Nguyễn Phúc Ánh may mắn nhờ bơi giỏi mà thoát chết.

Đến khúc sông Đăng Giang, theo Sử quán triều Nguyễn ghi chép lại thì thời ấy sông nhiều cá sấu nên không thể bơi qua, phía sau quân Tây Sơn đang truy đuổi sát phía sau, lúc đó may thay lại có con trâu nước đang nằm trên bờ, nhờ đó Nguyễn Phúc Ánh cưỡi trâu sang sông mà thoát chết.

Sau đó Nguyễn Phúc Ánh đến Mỹ Tho mang theo mẹ cùng vợ con lên thuyền ra đảo Phú Quốc. Tháng 6 âm lịch năm 1783, quân Tây Sơn bất ngờ đến đảo Phú Quốc truy tìm, trong lúc cùng đường rồi thì tướng Lê Phước Điển mặc áo ngự đóng giả Nguyễn Vương, quân Tây Sơn chạy theo bắt được Nguyễn Vương giả cùng các tướng lĩnh, trong khi đó Nguyễn Vương thật đi thuyền đến đảo Côn Lôn (tức Côn Đảo ngày nay). Quân Tây Sơn dụ hàng các tướng, nhưng Lê Phước Điển cùng các thuộc tướng khác thà chết không hàng nên bị quân Tây Sơn giết cả.

Tháng 7 âm lịch năm 1783, quân Tây Sơn dò biết được Nguyễn Phúc Ánh đang ở đảo Côn Lôn, liền cho quân kéo đến vây 3 vòng trùng điệp, quyết không cho Nguyễn Phúc Ánh trốn thoát nữa. Thế nhưng lúc này đột nhiên có bão biển, khiến một số tàu Tây Sơn bị đánh chìm, các thuyền khác phải giãn ra; đồng thời mây mù cũng kéo đến kín mít, nhìn ra biển cũng không thấy gì. Nhờ đó Nguyễn Phúc Ánh mới có cơ hội lên thuyền chạy thoát. Sau 7 ngày lênh đênh triển biển, Nguyễn Phúc Ánh đến đảo Cổ Cốt (còn gọi là Hòn Chanh, nay thuộc tỉnh Trat của Campuchia)

Sau đó Nguyễn Phúc Ánh đi thuyền về cửa biển Bình Thuận để tìm cách về lại Gia Định. Thế nhưng quân Tây Sơn biết được liền cho 20 thuyền đuổi theo, khiến ông phải đổi hướng, lênh đênh chạy trốn trên biển suốt 7 ngày đêm rồi đến đảo Phú Quốc. Thời gian này quân Tây Sơn liên tục mai phục nhằm rình bắt Nguyễn Phúc Ánh trên biển , các đảo và các vùng ven biển. Một lần ở cửa biển sông Đốc (thuộc Cà Mau), Nguyễn Phúc Ánh bị 50 thuyền Tây Sơn phục kích sẵn, may mắn Nguyễn Phúc Ánh lại chạy thoát được ra biển, 50 thuyền Tây Sơn truy đuổi theo nhưng không kịp.

Năm 1783 Nguyễn Phúc Ánh muốn cầu viện người Pháp nhằm có vũ khí hiện đại nên nhờ Giám mục Bá Đa Lộc giúp mình sang Pháp một chuyến, nhưng khi Bá Đa Lộc còn chưa kịp đi do đang thời kỳ ngược gió thì Nguyễn Phúc Ánh liên tục bị quân Tây Sơn truy đuổi nên đành phải đến cầu viện Xiêm La. Sang năm 1784 Bá Đa Lộc mang theo quốc thư cùng quốc ấn đi Pháp, và dẫn tới hiệp ước bất bình đẳng với chính phủ Pháp, dù nó không bao giờ được thực hiện.

Năm 1784 Nguyễn Phúc Ánh sang Xiêm để nhờ giúp đỡ mặc cho can ngăn của vị tướng thân cận là Nguyễn Văn Thành. Vua Xiêm cho 2 vạn quân cùng 300 chiến thuyền sang giúp.

Tháng 7/1784 quân Nguyễn Phúc Ánh cùng quân Xiêm đến Nam Bộ đánh bại quân Tây Sơn ở các vùng Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc. Thế nhưng vị tướng trụ cột của Nguyễn Phúc Ánh là Châu Văn Tiếp tử trận khi trao tranh với quân Tây Sơn ở Mân Thít khiến không có ai kiềm chế nổi quân Xiêm.

Quân Xiêm La đến Nam bộ không khác gì quân cướp, đối xử rất tàn bạo với người dân Nam bộ, điều này khiến Nguyễn Phúc Ánh từ thất vọng đến phẫn uất, ân hận vì không nghe lời khuyên của Nguyễn Văn Thành.

Trong cuốn sách “54 vị Hoàng Đế Việt Nam” của Đặng Việt Thủy và Đặng Thành Trung, nhà xuất bản quân đội nhân dân năm 2008 có mô tả Nguyễn Phúc Ánh than rằng:

“Được nước là nhờ lòng dân. Nay Châu Văn Tiếp đã mất không ai kiềm chế nổi quân Xiêm. Nếu có lấy lại được Gia Định mà mất lòng dân thì ta cũng không nỡ làm. Người xưa nói mưu lợi để lấy của cải của người gọi là quân tham mà quân tham thì nhất định phải thua, quân nước Xiêm là thế đấy. Ta sẽ lui quân không nỡ để cho dân tình khốn khổ.”

Trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút tháng 12, quân Tây Sơn vào Nam Bộ đánh 2 vạn quân Xiêm đại bại, chỉ còn sót lại vài nghìn lính chạy trối chết về nước.

Lúc này Nguyễn Phúc Ánh cùng một ít quân tướng trốn đến đảo Cổ Cốt, lúc lại sang đảo Thổ Châu (ở phía tây nam đảo Phú Quốc), theo các sử liệu thì cuộc sống vào thời gian này vô cùng thiếu thốn và khổ sở, nhưng số quân tướng ít ỏi này đều đi theo và trung thành với chủ của mình đến cùng. Quân Tây Sơn cũng kéo đến hai đảo này truy lùng, Nguyễn Phúc Ánh thấy cần phải ổn định một nơi để vừa an toàn vừa tập hợp quân, nên quyết định đến Xiêm La.

Tháng 4 âm lịch năm 1785, Nguyễn Phúc Ánh đến Xiêm La, quân tướng các nơi nghe tin liền tập hợp đến đây, quân số ban đầu có được là 1.000 người.

Sau đó Nguyễn Phúc Ánh xây dựng quân đội của mình ngày càng mạnh. Năm 1786 quân Nguyễn giúp vua Xiêm đánh bại quân Miến Điện là Sài Lặc. Vua Xiêm cảm tạ đồng thời cho mượn quân để lấy lại Gia Định, nhưng nhớ lại cảnh quân Xiêm đối xử tàn bạo với dân chúng lại thêm Nguyễn Văn Thành một lần nữa ngăn cản, nên Nguyễn Phúc Ánh đã từ chối.

Sau 3 năm ở Xiêm, nhận thấy vua Xiêm có vẻ không hài lòng khi lực lượng của mình ngày càng lớn mạnh, Nguyễn Phúc Ánh lặng lẽ trở về nước vào ban đêm để lại lá thư cảm ơn gửi vua Xiêm.

Quân Nguyễn tiến đến đánh chiếm lại vùng Nam bộ, đồng thời có thêm nhiều người gia nhập quân Nguyễn, trong khi đó quân Tây Sơn ở Nam Bộ nhưng lại không được lòng dân chúng ở đây.

Tuy nhiên quân Nguyễn vẫn không lấy lại được Sài Gòn – Gia định, bởi tướng Phạm Văn Tham quyết bám trụ cùng thành chứ không lui binh, đồng thời Phạm Văn Tham cũng nhiều lần cho quân tấn công quân Nguyễn.

Lúc này tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Hưng đưa 30 thuyền đến giúp Phạm Văn Tham. Tuy nhiên quân Nguyễn đến Nam Bộ lại được dân chúng ủng hộ nên binh lính tăng nhanh chóng, quân ngày càng mạnh. Trong khi Thái Đức Nguyễn Nhạc chỉ lo phòng bị trước người em là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, nên không đoái hoài gì đến việc cứu viện cho Sài Gòn – Gia Định.

Năm 1788 quân Nguyễn bao vây tấn công vùng Sài Gòn – Gia Định, Phạm Văn Tham cố giữ nhưng không được đành chạy về Quy Nhơn, nhưng trên đường thì bị quân Nguyễn chặn lại, cùng đường nên phải đầu hàng quân Nguyễn.

Năm 1789, Bá Đa Lộc về đến Nam bộ, dù không cầu viện được chính phủ Pháp, nhưng ông đã kêu gọi các thương gia góp tiền mua vũ khí; đồng thời chiêu mộ được khoảng 20 người giỏi về kỹ nghệ, kỹ thuật quân sự đưa về phục vụ cho Nguyễn Vương.

Nguyễn Phúc Ánh xây dựng Nam bộ thành nơi trù phú và giàu có, đời sống người dân ổn định, lương thực dư dả. 20 người Pháp cũng giúp xây dựng thành trì cùng quân đội hiện đại. Từ đó Nguyễn Phúc Ánh phòng thủ chắc chắn vùng Nam Bộ. Không chỉ thế Nguyễn Phúc Ánh cũng đưa quân ra Bắc đánh bại nhà Tây Sơn và lên ngôi vua vào năm 1802.

Điểm tính lại, Nguyễn Phúc Ánh đã hơn chục lần tay trắng bại vong, giả như ông không có được lòng dân, thì liệu có thể cuối cùng vẫn đánh bại nhà Tây Sơn mà lên ngôi vua hay không? Nếu lòng dân miền Bắc hướng về nhà Tây Sơn như lòng dân miền Nam hướng về Nguyễn Phúc Ánh, chắc hẳn mọi việc đã khác. Dẫu cho Nguyễn Phúc Ánh có sai lầm khi cầu viện quân Xiêm vào năm 1784, thì ông cũng đã không lặp lại sai lầm đó dù được quân Xiêm tình nguyện giúp đỡ vào năm 1786. Nói Nguyễn Phúc Ánh tay trắng bại vong, nhưng thật ra ông không hề trắng tay, bởi vì ông có được sự ủng hộ hết mực của người dân Nam Bộ.

*******

Lời kết

Loạt bài “Điều gì khiến nhà Tây Sơn bại bởi nhà Nguyễn?” không có ý định phủ định những đóng ghóp của nhà Tây Sơn cho lịch sử đất nước, mà chỉ muốn chỉ ra những mặt tối của phong trào Tây Sơn, và đồng thời cũng nhắc lại công lao rất lớn của nhà Nguyễn – triều đại quân chủ cuối cùng – đối với đất nước. Thiết nghĩ thành hay bại, được hay mất, tất cả đã là lịch sử. Nhưng lịch sử cũng cần được đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau.

Chúng ta không thể vì thần tượng vua Quang Trung để rồi che đi những cuộc thảm sát của nhà Tây Sơn khiến người dân miền Nam điêu đứng, khiến những khu kinh tế tầm cỡ thế giới của Đàng Trong suy sụp, khiến chính bản thân vua Quang Trung không tài nào đặt nền móng vững chắc cho nhà Tây Sơn ở miền Nam. Ngược lại, chúng ta cũng không thể vì vua Gia Long mượn quân Xiêm, hay nhờ sự trợ giúp của chính phủ Pháp không thành, mà che đi những công lao của 8 đời chúa Nguyễn, cũng như của bản thân vua Gia Long và hậu duệ của ông đối với việc mở mang bờ cõi đất nước.

Công và tội của hai vị vương ấy vẫn sẽ là một đề tài tranh cãi trong lịch sử. Nhưng chắc chắn, dù ít, vẫn có những người yêu mến vua Gia Long, giống như tình cảm của những người khác dành cho vua Quang Trung vậy. Âu đó cũng là việc bình thường.
 
Cám ơn thớt đưa thông tin. Tao chỉ đọc sử SGK thấy nhà nguyễn bị dìm kinh thật.
 
Lịch sử dìm Gia Long hơi quá. Đợt đọc đâu đó thấy Quang Trung khi lên ngôi đào mồ mả 3 đời nhà Gia Long lên. Cũng có qua có lại, chứ không ai thua ai. Nhưng tài cầm quân đánh trận thì vua Quang Trung quá đỉnh.
 
:)) chân mênh thiên tử chứ còn loz gì nữa =)) dí đến thế rồi mà đéo chết. =)) thời gian sau gió lại đổi chiều thôi. chưa biết vài thế kỷ tới sử lại bênh ai đâu. =)) 100 thằng đặt vào tình thế gia long thì 101 thằng quyết đánh tới cùng. Dù có phải nhờ ai.
 
Lịch sử dìm Gia Long hơi quá. Đợt đọc đâu đó thấy Quang Trung khi lên ngôi đào mồ mả 3 đời nhà Gia Long lên. Cũng có qua có lại, chứ không ai thua ai. Nhưng tài cầm quân đánh trận thì vua Quang Trung quá đỉnh.
Quật mồ mả 9 đời dòng dõi chúa Nguyễn.
 
Quật mồ mả 9 đời dòng dõi chúa Nguyễn.
Lịch sử dìm Gia Long hơi quá. Đợt đọc đâu đó thấy Quang Trung khi lên ngôi đào mồ mả 3 đời nhà Gia Long lên. Cũng có qua có lại, chứ không ai thua ai. Nhưng tài cầm quân đánh trận thì vua Quang Trung quá đỉnh.
Cám ơn thớt đưa thông tin. Tao chỉ đọc sử SGK thấy nhà nguyễn bị dìm kinh thật.
Giờ chúng m là Gia long, bị quật mả 9 đời, bị dí khắp miền nam, dí từ năm nay qua năm khác :)) chém chết bằng được. Mà chúng m có cơ hội mượn lính nước ngoài đánh :)) chúng m có mượn ko. Nói thế chứ gia long nó sang nước ngoài mà nó nói được tiếng thái tiếng cam giỏi nhể. Đéo hiểu giao tiếp kiểu loz gì =)). đọc sách thấy thời xưa cứ sang nước ngoài cầu cứu giao tiếp ầm ầm =)) thời xưa giỏi vl.
 
Quật mồ mả 9 đời dòng dõi chúa Nguyễn.
Ừ, tao nhớ không chính xác lắm.
Giờ chúng m là Gia long, bị quật mả 9 đời, bị dí khắp miền nam, dí từ năm nay qua năm khác :)) chém chết bằng được. Mà chúng m có cơ hội mượn lính nước ngoài đánh :)) chúng m có mượn ko. Nói thế chứ gia long nó sang nước ngoài mà nó nói được tiếng thái tiếng cam giỏi nhể. Đéo hiểu giao tiếp kiểu loz gì =)). đọc sách thấy thời xưa cứ sang nước ngoài cầu cứu giao tiếp ầm ầm =)) thời xưa giỏi vl.
Tư tưởng phong kiến ngày xưa mình đéo hiểu để mà bàn luận đâu.
 
Ừ, tao nhớ không chính xác lắm.

Tư tưởng phong kiến ngày xưa mình đéo hiểu để mà bàn luận đâu.
Nhà Tây Sơn có “cõng rắn” hay không?

Chúng ta cứ giả thiết như sự hiện diện của hai vạn quân Xiêm trong đạo quân của nhà Nguyễn năm 1784 là một hình thức “cõng rắn” của Nguyễn Ánh, vậy hãy xét xem nhà Tây Sơn có “cõng rắn” theo cách thức này không?

Trước hết cần nhắc lại một số sự kiện quan trọng trong sử Việt liên quan đến mối quan hệ giữa nhà Tây Sơn và các nhóm quân sự người Hoa. Chỉ hai năm sau khi nổi dậy, năm 1773, Nguyễn Nhạc tự xưng là Trại chủ, thu nạp quân của hai lái buôn người Hoa là Tập Đình và Lý Tài vào quân đội của mình. Quân của Tập Đình gọi là Trung Nghĩa quân, quân của Lý Tài gọi là Hòa Nghĩa quân. Nhờ hai đạo quân này mà quân Tây Sơn đánh thắng nhiều trận lớn, đẩy quân nhà Nguyễn vào thế chống đỡ, cuối cùng chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần phải cùng gia quyến và quần thần bỏ kinh đô Phú Xuân (Huế) chạy vào Gia Định.

Tuy nhiên, đến năm 1775, mối quan hệ giữa nhà Tây Sơn và hai nhân vật người Hoa trên bắt đầu rạn nứt, Nguyễn Nhạc lập mưu giết Tập Đình, Đình biết trước, bỏ chạy về Quảng Đông, bị quan nhà Thanh bắt giết. Ít lâu sau, không chịu đựng nổi cách hành xử khắc nghiệt của Nguyễn Nhạc, Lý Tài dẫn Hòa Nghĩa quân đến đầu hàng tướng Tống Phước Hiệp của nhà Nguyễn. Năm 1782, Hòa Nghĩa quân chém được tướng Phạm Ngạn của nhà Tây Sơn tại cầu Tham Lương, Nguyễn Nhạc giận cá chém thớt, bắt giết hàng mấy ngàn người Hoa ở Gia Định, bất kể thuộc thành phần nào, thây nằm chật sông, dân chúng không dám ăn cá mấy tháng liền.

Trong những năm gần đây, các hoạt động của phong trào Tây Sơn được nhiều giáo sư, nhà nghiên cứu phương Tây khảo rất kỹ, trong số này phải kể đến bà Dian H. Murray, tác giả quyển Pirates of the South China Coast, 1790-1810 (Hải tặc ở miền duyên hải Nam Trung Hoa, những năm 1790-1810), xuất bản năm 1987, và giáo sư người Mỹ George Dutton, tác giả quyển The Uprising of Tây Sơn (Cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn) – 2006 . Hai tác giả trên đã dành những chương quan trọng nêu chi tiết cụ thể sự hợp tác mật thiết giữa nhiều nhóm hải tặc người Hoa ở biển Đông với nhà Tây Sơn, từ khi hoàng đế Quang Trung còn nắm quyền cho đến ngày cuối cùng của chính thể này. Bọn cầm đầu các nhóm hải tặc Trung Hoa được nhà Tây Sơn giao cho nhiệm vụ tuyển người bổ sung vào lực lượng của họ, đưa quân làm chốt chặn các ngả tiến quân của quân nhà Nguyễn và bước đầu đã đóng góp nhiều công sức quan trọng trong các chiến dịch đánh chiếm Phú Xuân và Thăng Long năm 1786. Một trong những nhân vật cốt lõi thuộc nhóm hải tặc Trung Hoa là Trần Thiên Bảo được nhà Tây Sơn phong chức Tổng binh, tước hầu; một người bạn của y là Lương Khuê Hiệp được phong tước Hiệp Đức hầu. Trong tác phẩm kể tên, giáo sư Dutton đã viết về sự liên kết giữa hải tặc Trung Hoa và nhà Tây Sơn như sau:

“Những người từng là cướp biển đơn thuần, không có phẩm cấp hay địa vị nay được công nhận là tướng lĩnh, quan trấn thủ, hầu tước, trong lúc có người thậm chí còn được phong vương. Một tay cầm đầu hải tặc tên Mạc Quan Phù được phong tước Đông Hải Vương, trong khi một người khác là Ô Thạch Nhị được phong Bình Ba Vương năm 1797. Giữa thập niên 1770, các nhà lãnh đạo Tây Sơn đã triển khai sức mạnh và địa vị từ những chức vụ và cương vị chính thức do chúa Trịnh ban cho, thì các hải tặc Trung Hoa cũng có được tầm cỡ từ những chức vụ mà nhà Tây Sơn ban cho chúng. Sự hợp pháp hóa này quan trọng trong mối quan hệ giữa bọn hải tặc với nhau và với chính quyền Trung Hoa, nhưng nó cũng có ích cho những nhà lãnh đạo Tây Sơn, vì nó đưa ra một sự giải thích về cách hành xử trong mối quan hệ giữa họ với những kẻ ngoài vòng pháp luật này.

Đội thủy quân của hải tặc phục vụ trong quân đội Tây Sơn khá quan trọng, một mặt với Mạc Quan Phù chỉ huy hơn một ngàn người, mặt khác với một người cầm đầu hải tặc là Trịnh Thất, chỉ huy một lực lượng hơn 200 tàu thuyền. Thủy quân với tầm cỡ đó rất hữu dụng cho nhà Tây Sơn, đảm đương nhiều chức năng cốt yếu cho triều đại Quang Trung. Trước hết, hải tặc giúp ông mở rộng sức mạnh thủy quân, bổ sung khả năng tuần tra vùng duyên hải từ biên giới với Trung Quốc đến vùng cực nam Qui Nhơn…” (sách đã dẫn, trang 222)

Sau khi vua Quang Trung qua đời, hải tặc Trung Hoa tiếp tục tham gia vào những chiến dịch quân sự quan trọng của nhà Tây Sơn, phục vụ cho chính quyền này cho đến những ngày cuối cùng (1802). Xét như thế để thấy rằng sự hiện diện của những lực lượng hải tặc Trung Hoa do nhà Tây Sơn kết nạp vào quân đội của họ về bản chất không khác gì lực lượng quân Xiêm được tăng cường cho quân đội của Nguyễn Ánh. Chúng ta sẽ có dịp trở lại một cách chi tiết hơn về sự “cộng sinh” giữa nhà Tây Sơn và các nhóm hải tặc Trung Hoa trong suốt mười mấy năm liền.

Tất nhiên, chúng ta không hẹp hòi kết luận rằng sự hiện diện của một lực lượng hùng hậu hải tặc Trung Hoa trong quân đội nhà Tây Sơn là một hình thức “cõng rắn” của ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ. Việc làm có ý thức của họ cũng như việc Nguyễn Ánh chấp nhận cho 2 vạn quân Xiêm chiến đấu chung hàng ngũ với quân đội của mình chỉ nhằm tăng cường tiềm lực quân sự trong cuộc nội chiến giữa hai bên. Vì vậy, trên tinh thần công bằng của lịch sử, nay đã đến lúc cần xem lại cái luận điệu một chiều cũ rích “Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà” của hàng ngàn cái loa vẫn ra rả từ nhiều năm qua.
 
Về chuyện “cõng rắn” của chúa Nguyễn Ánh

Những năm đầu thập niên 1780, cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn mà người cuối cùng còn sống sót là Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn đã đến hồi khốc liệt. Đến năm 1783 thì thế trận nghiêng hẳn về phía Tây Sơn, chúa Nguyễn phải chạy ra những đảo xa để tránh cuộc truy sát của đối phương. Năm 1784, thế cùng lực tận, theo lời đề nghị của một tướng Xiêm (Thái Lan) trong cuộc gặp gỡ tại Long Xuyên, Nguyễn Ánh quyết định tạm thời sang Xiêm tá túc, chờ cơ hội lật ngược thế cờ. Tháng 3 Âm lịch năm này, vua Xiêm “bèn ước hẹn giúp quân để mưu đồ khôi phục. Vua thứ hai nước Xiêm nhân đó nhắc đến việc năm trước giảng hòa với Nguyễn Hữu Thụy (Nguyễn Văn Thoại) đã có thề ước với nhau là gặp hoạn nạn thì cứu nhau, thì ngày nay xin phải ra sức. Bèn đưa những vật Nguyễn Hữu Thụy tặng là cờ đào và gươm ra để làm tin, rồi định ngày cử binh”. (Đại Nam Thực Lục – Tập Một – NXB Giáo dục – Hà Nội 2002, trang 221)

Tháng 6 Âm lịch năm ấy, Nguyễn Ánh mang quân về Gia Định, vua Xiêm sai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem hai vạn thủy quân và 300 chiến thuyền theo giúp. Lực lượng quân Xiêm được đặt dưới sự chỉ huy chung của tướng Việt là Bình Tây Đại Đô đốc Châu Văn Tiếp, bắt đầu tiến đánh đạo Kiên Giang, rồi thẳng đến Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc… Tháng 10 Âm lịch năm 1784, Châu Văn Tiếp tử trận trong trận đánh tại sông Mân Thít. Tháng sau, “vua thấy quân Xiêm tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đấy, nhân dân ta oán rất nhiều, bảo các tướng rằng: ‘Muốn được nước phải được lòng dân. Nay Chu (Châu) Văn Tiếp đã mất, quân Xiêm không ai chế ngự được. Nếu được Gia Định mà mất lòng dân thì ta cũng không nỡ làm. Thà hãy lui quân để đừng làm khổ nhân dân’” (Đại Nam Thực Lục – sđd, trang 222).

Cuối năm (âm lịch) đó, quân Xiêm bị phục binh của nhà Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ đánh một trận tan tác. Tháng 4 Âm lịch năm sau (1785), được tin về sự lộng hành của quân Xiêm tại Gia Định, vua Xiêm nổi giận định chém hai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương là những người chỉ huy trực tiếp đạo quân này, may nhờ Nguyễn Ánh can gián nên họ thoát chết. Qua những sự kiện lịch sử trên, ta có thể thấy rõ những lập luận cho rằng quân Xiêm xâm lược nước ta và Nguyễn Ánh “cõng rắn cắn gà nhà” là không đứng vững, vì các lý do sau:

Hành động xâm lược chỉ có thực khi quân đội nước này sang tấn công một nước khác, đánh bại quân nước đó và chiếm đóng lâu dài. Trong trường hợp kể trên, quân Xiêm được triều đình nước này cử đi tăng cường cho lực lượng có sẵn của chúa Nguyễn Ánh và đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của tướng Việt là Châu Văn Tiếp thì chỉ có thể nói đó là đạo quân đánh thuê hơn là đạo quân xâm lược.

Không thể coi Nguyễn Ánh là “cõng rắn” khi ông sử dụng quân Xiêm như một công cụ để tăng cường sức mạnh của quân đội do ông và các tướng Việt chỉ huy. Việc quân Xiêm lợi dụng cơ hội để tàn hại dân lành là một tình huống bất ngờ trong chiến tranh, nằm ngoài dự kiến của cả phía Việt lẫn phía Xiêm. Tất nhiên, Nguyễn Ánh và các tướng của ông phải chịu trách nhiệm về biến động này, và như những phát biểu của ông với các tướng, điều này chỉ có tính nhất thời và vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của phía Việt. Nếu quân Xiêm được đưa sang Đại Việt nhằm mục đích xâm lược, vua Xiêm đã không nổi trận lôi đình đòi mang hai người cháu ra chém đầu về những việc làm tệ hại mà binh lính của họ đã gây ra.

Qua việc vua Xiêm công bố về thỏa thuận của cả hai bên “đã có thề ước với nhau là gặp hoạn nạn thì cứu nhau”, có thể thấy rằng vào những thế kỷ XVIII – XIX, các nước Đông Nam Á đã có một thỏa thuận mặc nhiên là nước này gặp nguy biến có thể nhờ một nước khác mang quân sang giúp. Tất nhiên khi đã nhờ nước khác sang giúp mình thì không thể coi họ là đạo quân xâm lược. Điều này đã được nhiều lần chứng minh trong lịch sử: năm 1785, trong thời gian nương náu tại Vọng Các (Bangkok), các tướng Việt đã có dịp giúp quân Xiêm đánh tan cuộc xâm lăng của quân Miến Điện (Diến Điện, nay là Myanmar); thế kỷ XIX và các thế kỷ trước, mỗi lần nước láng giềng Chân Lạp bị lân bang Xiêm La xâm lấn, họ yêu cầu quân ta kéo sang Nam Vang để giúp đẩy lùi cuộc ngoại xâm, không có lịch sử nước nào gọi quân ta là quân xâm lược. Ngay giữa cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn, nhiều lần nước Lào tình nguyện đưa quân sang tấn công vào mặt tây bắc của Đại Việt để phân tán lực lượng của quân Tây Sơn (còn kiểm soát miền trung và miền bắc Đại Việt), giúp chúa Nguyễn Ánh rảnh tay giải quyết các chiến trường phía Nam
 
Giờ chúng m là Gia long, bị quật mả 9 đời, bị dí khắp miền nam, dí từ năm nay qua năm khác :)) chém chết bằng được. Mà chúng m có cơ hội mượn lính nước ngoài đánh :)) chúng m có mượn ko. Nói thế chứ gia long nó sang nước ngoài mà nó nói được tiếng thái tiếng cam giỏi nhể. Đéo hiểu giao tiếp kiểu loz gì =)). đọc sách thấy thời xưa cứ sang nước ngoài cầu cứu giao tiếp ầm ầm =)) thời xưa giỏi vl.
Lấp liếm à, Ánh chơi thân với Bá Đa Lộc và nhờ Bá Đa Lộc làm môi giới.
 
Nhà Tây Sơn có “cõng rắn” hay không?
Hải tặc hùng hậu vãi Lồn :)) có 1 nhúm, xài kiểu lính đánh thuê, hết giá trị thì clear resource chứ thấy xài miết đâu mà mày khóc ghê vậy =)) Vấn đề nó khác xa nhau lắm anh bạn à. Quân Tây Sơn sẵn sàng khử bọn hải tặc nào chống đối, còn bạn Long idol của mày vẫn cứ làm ngơ trước cảnh quân Xiêm ức hiếp người dân nam bộ. Cao thượng thật :))

Nhiều sử gia đã nhận định quân xịn nhất của Tây Sơn, core team, toàn đến từ vùng Bình Định - Quảng Ngãi. Quân các vùng khác toàn làm bia thịt cả thôi, xài hết giá trị là vứt, cũng là 1 nguyên nhân khiến cho lòng dân ghét Tây Sơn. Mày cứ làm như đéo có hải tặc cứu giá thì Tây Sơn thua không vậy ấy =)) ảo tưởng sức mạnh à
 
Lịch sử dìm Gia Long hơi quá. Đợt đọc đâu đó thấy Quang Trung khi lên ngôi đào mồ mả 3 đời nhà Gia Long lên. Cũng có qua có lại, chứ không ai thua ai. Nhưng tài cầm quân đánh trận thì vua Quang Trung quá đỉnh.
quang trung đào mộ ông già của gia long và mộ 9 đời nhà nguyễn, sau mộ quang trung cũng bị gia long chơi lại.
 
Hải tặc hùng hậu vãi lồn :)) có 1 nhúm, xài kiểu lính đánh thuê, hết giá trị thì clear resource chứ thấy xài miết đâu mà mày khóc ghê vậy =)) Vấn đề nó khác xa nhau lắm anh bạn à. Quân Tây Sơn sẵn sàng khử bọn hải tặc nào chống đối, còn bạn Long idol của mày vẫn cứ làm ngơ trước cảnh quân Xiêm ức hiếp người dân nam bộ. Cao thượng thật :))

Nhiều sử gia đã nhận định quân xịn nhất của Tây Sơn, core team, toàn đến từ vùng Bình Định - Quảng Ngãi. Quân các vùng khác toàn làm bia thịt cả thôi, xài hết giá trị là vứt, cũng là 1 nguyên nhân khiến cho lòng dân ghét Tây Sơn. Mày cứ làm như đéo có hải tặc cứu giá thì Tây Sơn thua không vậy ấy =)) ảo tưởng sức mạnh à
quả không hổ là đệ nhất cẩu tặc:shame:
 

Có thể bạn quan tâm

Top