Johnny Lê Nữu Vượng
Già làng


Ở Bắc Việt, đại khái chúng ta có thể kể những dòng họ chính sau đây: Thái, Mán, Mèo, Mường, Lô Lô, La Ty, Pa Teng, v.v. Ở Trung Việt về phía Đông dải Trường Sơn có các dòng Vân Kiều, Tahoi, Ka Tu, Chàm, Roglai, v.v. Tại Cao Nguyên Trung Phần có đồng bào Dié, Sé–dang, Halang, Bahnar, Jarai, Radhé, Mnong, Stieng, Koho, Ma, Chil, Churu, v.v.

Cuối thế kỷ 19, cuộc sống đơn sơ của các bộ tộc Thượng đã bị xáo trộn khi người Pháp đến Tây Nguyên cùng với quân đội và súng ống. Nền văn hoá thảo mộc buộc phải học cách hòa đồng với chế độ chính trị hiện đại.
Trước đó, vì địa hình quá hiểm trở, triều đình Huế không can thiệp sâu đến khu vực này, hằng năm chỉ thu một số thuế đã định. Đến thời Pháp, chính quyền thực dân dù cai trị hà khắc nhưng cũng nhún nhường nhất định đối với người Thượng ở Tây Nguyên.
Cũng chính từ thời kỳ này, người Thượng bắt đầu mất dần tiếng nói trên chính vùng đất của mình.
Người Pháp đến đất Thượng
Các nhà truyền đạo Thiên chúa giáo đã đến Annam trước khi người Pháp nổ súng ở Đà Nẵng năm 1858. Có lẽ chúng ta còn nhớ một thời triều đình Huế đã đàn áp khốc liệt Thiên chúa giáo.
Thời vua Minh Mạng, triều đình đã bắt đầu cấm đạo. Đến thời vua Tự Đức, từ năm 1848 đến năm 1860, ở miền Bắc, có hàng chục giáo sĩ bị tàn sát cùng với hàng vạn giáo dân bị lưu đày hay bị giết.
Giáo sĩ và giáo dân miền Trung cũng không tránh khỏi cuộc truy sát này. Một số đã tìm lên đất Mọi, tức là đất của người Thượng trên vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, nhờ vào núi rừng hiểm trở mà lánh nạn.
Người Annam đến đây một thời gian thấy sinh sống dễ dàng nên bắt đầu định cư. Các giáo sĩ bắt đầu truyền đạo cho dân Mọi, lập các làng Công giáo, mở trường học và dạy họ cách làm ruộng như dùng trâu bò để xới đất. Nổi bật trong đó có Hội Truyền giáo Kontum.
Năm 1867, khi người Pháp đã kiểm soát sáu tỉnh Nam Kỳ, họ bắt đầu nhắm đến khu vực Tây Nguyên.
Khi chính thức đô hộ Việt Nam năm 1884, người Pháp thiết lập chính quyền bảo hộ, thực chất là cai trị trực tiếp. Họ chia nước ta nhiều khu vực để cai trị, mỗi khu vực lại có một chế độ riêng. Vùng đồng bằng có Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Vùng núi có miền Thượng du Bắc Kỳ và miền Cao Nguyên Trung Kỳ.
Người Pháp tiến hành nhiều cuộc thám hiểm ở Cao Nguyên Trung Kỳ, có người phải bỏ mạng vì xung đột với các sắc dân ở đây.
Cho đến đầu thế kỷ 20, người Pháp đã can thiệp vào tận cùng các ngõ ngách ở Tây Nguyên mà trước đó triều đình không làm được.
Tuy nhiên, họ không thể kiểm soát cả Tây Nguyên rộng lớn cũng như không thể làm cho tất cả các bộ tộc khuất phục. Người Pháp phải giao tranh thường xuyên với một số bộ tộc. Họ cấm người Annam đến những nơi mà các bộ tộc chưa chịu khất phục.
Với những khu vực đã kiểm soát, người Pháp mở mang đường xá, chia đơn vị hành chính, lập nhà công vụ, nhà thương, sở thú y, bưu điện… Đi liền với những việc này là thu thuế. Ban đầu thuế còn nhẹ, càng về sau thì càng nặng nề.
Để khai thác tối đa thuộc địa, người Pháp thiết lập chính sách nhượng đất lập đồn điền. Ở Tây Nguyên, đất đai dồi dào lại tươi tốt nên các đồn điền ngày càng được mở rộng.
Công sứ của Pháp ở tỉnh Kontum đã viết về Kontum như sau: “Tỉnh Kontum là một vùng đất của tương lai. Ở đây có những cao nguyên mênh mông đất đỏ rất phì nhiêu của vùng Plei Ku, tạo thành một hình vuông mỗi cạnh khoảng 100km, hoàn toàn thích hợp với trồng cà phê và có lẽ cả trồng bông”.