Jessu ỉa chảy
Mai là mùng một
Quân Đội Liên Minh Pháp - Vatican trong thời kỳ 1948-1954 còn được gọi là Quân Đội Liên Hiệp Pháp). Ngoài quân đội này còn có những đạo quân thập tự Việt Nam (gọi tắt là lính đạo). Trong cuộc chiến chống lại dân tộc Việt Nam kéo dài từ năm 1858 đến cuối tháng 7/1954, các nhà viết sử đều ghi nhận rằng quân đội này và lính đạo Việt Nam là một thứ quân đội ăn cướp, đi đến đâu cướp phá đến đó, gặp đàn ông thì bắn giết, gặp đàn bà con gái thì hãm hiếp, gặp cái gì cũng muốn đốt phá và hủy diệt, gặp cái gì muốn lấy và có thể mang đí thì lấy mang đi. Trong cuốn Hell In A Very Small Place – The Siege Of Dien Bien Phu, sử gia Bernard B. Fall nói về sự kiện này bằng câu vắn tắt như sau:
“Quân lính Việt Nam (lính Bảo Đại) trong cuộc thử lửa đầu tiên (ở Liên Khu V) hoặc là đã có những thành tích tồi tệ hoặc là cướp đoạt của cải. Theo sau là các viên chức hành chánh đổ tới vùng mới chiếm được lại còn tệ hơn cả đám quân lính (Liên Hiệp Pháp)”. (1)
Các xóm đạo đã được đoàn ngũ hóa từ trước, giờ đây lại được võ trang và trở thành những đạo quân thập tự địa phương vừa đóng vai trò giống như một ổ gián điệp để thâu thập tin tức tình báo tại địa phương, vừa rình chờ cơ hội chắc ăn thì kéo nhau tới tấn công các làng bên để đánh phá, giết người, đốt nhà, đọat của, cưỡng hiếp đàn bà con gái, giống như những hành động dã man của quân lính trong các đoàn quân Thập Ác trong thời Trung Cổ khi tiến vào vùng Tiểu Á và miền Nam nước Pháp. Nói phải có sách mách phải có chứng. Phần chứng minh dưới đây sẽ gồm có (1) một phần là những tài liệu trích ra từ các sách sử, (2) một phần là do những chứng nhân của thời cuộc kể lại những câu chuyên có thật trong đó cả nạn nhân và thủ phạm hiện nay đều là người Việt hải ngọai đang sinh sống ở Hoa Kỳ mà độc giả có thể kiểm chứng được, (3) một phần là do chính bản thân người viết chứng kiến, và (4) một phần là những bản văn trích ra từ các tập hồi kỳ có giá trị lịch sử và có liên hệ đến cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Thập Ác Vatican.
I.- Những Chuyện Theo Tài Liệu Lịch Sử
Trong một chương sách trước đây, độc giả đã thấy bọn lính đạo Ca-tô người Việt và người Âu (quân Thập Ác) trong thời 1858-1945 tham tàn và dã man đến độ chính quan thày người Pháp của chúng cũng phải ghê tởm và khinh bỉ ra mặt. Trong phần này, quý vị sẽ thấy bọn lính đạo Ca-tô người Việt còn tham tàn và dã man gấp ngàn lần nếu so với mức độ tham tàn và dã man của những tên lính đánh thuê người Âu Phi trong các cuộc hành quân tấn công hay tiến vào các làng thôn mục tiêu trong những năm 1945-1954. Nếu ai đã từng sống ở những làng bên cạnh các làng đạo đều biết rõ sự thật này và thảm cảnh của những người dân Lương trong vùng chung quanh các làng hay xóm đạo trên đây. Trong thời kỳ này, giáo dân Ca-tô trong các xóm đạo hay làng đạo nào tiếp cận được liên quân giặc Pháp - Vatican thì làng đạo đó được giặc vũ trang và trở thành một đơn vị tiền phong canh chừng cho đồn giặc và tiếp tay cho giặc trong những chiến dịch càn quét và đánh phá các làng lương bên cạnh. Vì thế mà bọn lính đạo ở trong các làng đạo này mới có cơ hội làm những việc làm ghê tởm hơn cà các quân lính Da-tô trong các đạo quân thập tự trong thời Trung Cổ khi chúng tiến vào các vùng mục tiêu ở Trung Đông và miền Nam nước Pháp.
Phải nói rằng trong lịch sử nhân lọai, chưa có quân linh nào lại tàn ác và dã man bằng bọn lính đạo Ca-tô người Việt Nam trong thời Kháng Chiến 1945-1954. Không một hành động tội ác nào mà chúng không làm: Đốt làng, phá chùa, phá miếu, thiêu hủy mùa màng, tàn sát đàn ông, đánh đập trẻ em, hãm hiếp đàn bà con gái, cướp đọat của cải và tóm thâu vơ vét tất cả những gì chúng muốn chiếm đọat rồi bắt chính nạn nhân phải khuân vác đem về xóm đạo cho chúng. Tình trạng này đã được các nhà biên khảo, các chứng nhân và nạn nhân kể lại. Những bản văn dưới đây cho chúng ta thấy rõ tệ trạng này.
Thứ nhất: Linh-muc Trần Tam Tỉnh ghi lại trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm như sau:
"Từ năm 1950, nhiều làng Công Giáo vùng đồng bằng được vũ trang, nhận súng ống của Pháp, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của các linh mục. Đội quân vũ trang của Phát Diệm gồm 10 ngàn người, ở dưới quyền chỉ huy của Giám-mục Lê Hữu Từ, còn quân Bùi Chu thì do Giám-mục Phạm Ngọc Chi điều khiển.. Vai trò của đội quân tự vệ vượt qua tư cách gọi là chỉ để tự vệ khi bị ******** tấn công, bởi vì nó được tung ra các hoạt động chủ yếu là hành quân càn quét, có khi bao trùm cả vùng, có lúc chỉ ở địa phương nhỏ. Chẳng hạn trong trận Ký Con ở Nam Định, một bộ tham mưu liên quân gồm có Trung Tá Candou ở Nam Định, Trung Đoàn Trưởng Mollat đồn Phát Diệm và Linh-mục Hoàng Quỳnh, tổng tư lệnh đội quân Công Giáo, đã thành công loại khỏi vòng chiến cả tiểu đoàn Việt Minh ở đây. Lính Công Giáo có lúc tham dự các cuộc hành quân gồm nhiều tiểu đoàn của Pháp.
Nhưng ở cấp địa phương, quân lính Công Giáo mới là đội quân hung hăng nhất. Nhằm lo cho các xứ được bảo vệ hữu hiệu hơn, bọn chúng tổ chức ruồng bố liên tiếp các làng lương chung quanh, bắt giam hoặc giết chết, khỏi cần tòa án, tất cả các chiến sĩ du kích và những ai bị tình nghi là Việt Minh. Theo gương lính Pháp, chúng cướp bóc các làng, lấy trộm, tàn sát, thiêu rụi tất cả những gì bị coi là ổ kháng chiến. Nực cười hết cỡ, có những linh mục - đại úy nghĩ rằng giờ đem cả nước theo đạo Kitô đã tới: Họ ra lệnh cho lính đi cướp phá các chùa Phật Giáo, mang hết các tượng Phật về làm củi chụm, rồi cắm thánh giá lên chùa hay là đặt Đức Mẹ vào trong đó. Thật phải rùng mình, khi nhắc lại tên tuổi của một số linh mục như Khâm, Tôn, Luật...
Các bản tin về những vụ ******** tàn sát Công Giáo do báo chí Pháp hoặc hãng thồng tấn Fides (của Tòa Thánh Vatican) đưa ra phải được đặt trong bối cảnh lịch sử nói trên. Chẳng hạn Beena Phan, trích dẫn tờ báo tiếng Pháp Viễn Đông xuất bản tại Sàgòn, đã viết; "Người ta kể lại rằng tại Cao Mại, 180 người Công Giáo, gồm nam nữ và trẻ con bị thiêu sống trong nhà thờ làng theo sau vụ một đồn lính Pháp cạn đó không chịu đầu hàng."
Tác giả Nguyễn Mạnh Quang thăm nhà thờ giáo xứ Cao Mại năm 2017
Sự thật lịch sử hoàn toàn khác thế. Cao Mại là một làng thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, ở 5 km cách sông Hồng, nơi chia đôi Thái Bình với Nam Định, và cũng là ranh giới giữa hai địa phận Thái Bình và Bùi Chu. Cao Mại có hai thôn, một Công Giáo và một Phật Giáo. Đang là mùa xuân 1950, giáo dân Bùi Chu lúc đó đã được võ trang, còn Thái Bình thì quân Pháp chỉ đóng ở thành phố và những vùng lân cận. Một hôm Cha Luật, chính xứ Cao Mại, tiếp một bạn người Bùi Chu sang thăm, có mấy tiểu đội mang vũ khí tháp tùng. Bọn lính này đi lùng sục các làng chung quanh, bắt các du kích quân và cán bộ Việt Minh bất ngờ gặp được và giết chết mấy người.
Được báo động, du kích toàn vùng đó kéo về hướng Cao Mại. Bọn lính Công Giáo vừa đánh vừa rút lui, có chừng 50 thanh niên Cao Mại và các linh mục tham gia. Khi thấy quân du kích kéo tới, giáo dân Cao Mại hoảng sợ, chạy vào nhà thờ đóng cửa lại, chờ cha xứ trở về mang theo tiếp viện. Du kích tổ chức bao vây, đòi phải thả các đồng chí bị bắt ra. Đám người bị bao vây cứ cầm cự. Khi đêm về, nhà thờ bốc cháy và những người bị nhốt trong đó chết thiêu. Người ta loan tin rằng vụ hoả hoạn đó là do nhóm người bao vây gây ra, hay chỉ là một chuyện rủi ro. Sau đó, cha Luật và quân lính của ông trở về, ông chỉ còn biết khóc trước đống tro tàn của nhà thờ và cái tang của dân chúng. Ông quyết định trả thù cho giáo dân. Cuộc báo thù hết sức kinh khủng. Các du kích quân bị lính của cha bắt được đều bị chôn sống trước nhà thờ. Từ đó, Cao Mại trở nên một nơi kinh hoàng cho cả vùng.
"Cao Mại là một trường hợp điển hình trong thảm kịch Việt Nam hồi đó. Máu đổi máu, những cuộc thanh toán tiếp theo những vụ trả thù. Vì không biết nghệ thuật quân sự và chiến lược của Kháng Chiến - do chính phủ Hồ Chí Minh vạch ra từ năm 1940 - quá tự tin vào những thắng lợi lúc đầu, người Công Giáo cứ đi bố ráp tại các làng không Công Giáo, thường đâu có chống cự lại họ." (2)
Thứ hai: Hai nhà biên khảo Quang Toàn và Nguyễn Hoài ghi lại trong cuốn Những Họat Động Của Bọn Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Giáo với nguyên văn như sau:
"Quỳnh Lang Đẫm Máu: Quỳnh Lang là một thôn thuộc xã Quỳnh Lâm (Toàn Thắng), huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Dân số trong thôn có hơn 1.000 người, phần lớn theo đạo Thiên Chúa. Thôn này ở về phía Tây Bắc huyện Quỳnh Côi. Giữa thôn có một nhà xứ (nhà thờ) thường gọi là nhà thờ Quỳnh Lang. Nhà thờ thường có hai cha cố (linh mục) bẩy thày giáo và một số cô mụ.
Ngay từ ngày đầu sau thắng lợi của cuộc Cách Mạng tháng Tám năm 1945, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa Giáo đã ngấm ngầm tổ chức hoạt động chống lại chính quyền dân chủ nhân dân. Đứng đầu bọn này là tên Anvarê Cao, người Tây Ban Nha. Là Linh-mục chánh xứ, Anvarê Cao đã cai quản nhà xứ Quỳnh Lang từ năm 1941-1942. Khi chính quyền về tay nhân dân, chúng đã lợi dụng tòa giảng của các nhà thờ và các lớp giáo lý để tuyên truyền xuyên tạc mọi chủ trương chính sách của chính phủ ta. Khi kháng chiến bùng nổ, chúng ngấm ngầm tổ chức những đội "Thanh Niên Diệt Cộng" trong các họ thuộc xứ, dưới những hình thức "Đội Âm Nhạc", "Đội Chầu"...
Năm 1948, 1949, quân Pháp đánh rộng ra Hải Dương, Hưng Yên thì Anvarê Cao tổ chức "Liên Đoàn Thanh Niên Công Giáo" toàn xã Quỳnh Lang. Ban chấp hành của Liên Đoàn này do Anvarê Cao đứng đầu và mỗi họ (đạo) này được cử một đại biểu vào ban đó. Từ đó, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa Giáo hoạt động ngày càng ráo riết hơn, có kế hoạch và tổ chức hơn. Anvarê Cao còn chọn một số tay sai đắc lực đưa vào Quốc Dân Đảng như tên Mậu tức Ái (Quỳnh Lang), Tuyên (Tân Mỹ).... để nắm lấy tổ chức này.
Sau đó, bọn này đi tuyên truyền phát triển đảng viên. Tên nào tổ chức được một đảng viên thì được thưởng 100 đồng Đông Dương. Dần dần chúng thu hút được những tên Ruy, Trị, Rẫn... (Quỳnh Lang)... Những tên này đều trở thành tay sai đắc lực của bọn Thiên Chúa Giáo phản động ở đây.
Tháng 11 năm 1949, giặc Pháp đem quân về đóng ở Bến Trại và La Tiên (bắc sông Luộc), gần Quỳnh Lang. Anvarê Cao bèn tập họp thanh niên Thiên Chúa Giáo ở các thôn Đông Châu, Tân Mỹ, Quỳnh Lang bí mật cho đi kiểm soát khu tứ xã. Y cho một thanh niên sang liên lạc với giặc Pháp ở Bến Trại và La Tiên, cử tên Luân (Tân Mỹ) sang Bến Trại cầu cứu Pháp cho quân về càn đồng bào Thiên Chúa Giáo đi tản cư. Y còn dùng thị Hồng người Việt Yên (gái điếm) liên lạc với giặc Pháp ở Hưng Yên và La Tiến.
Tháng 1 năm 1950, giặc Pháp từ Bến Trại vượt sông Luộc về dẫn đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở khu tứ xã tản cư. Khi giặc đến, Anvarê Cao ra lệnh cho các trùm trưởng các họ ở ba thôn Quỳnh Lang, Đông Châu và Tân Mỹ phải tập họp giáo dân đến Tân Mỹ. Tên Ký Giáp và Trùm Vĩ vâng lệnh Anvarê Cao doạ nạt giáo dân: "Đồng bào tới đây sẽ có quân Pháp đón và theo cha xứ đi tản cư, chứ ở nhà Việt Minh đến đánh nhau, đồng bào không chạy được thì nó cắt tiết (Tài liệu của Ty Văn Hoá Thái Bình).
Dưới mũi súng hỗ trợ của giặc, Anvarê Cao cùng bọn trùm trưởng đã dẫn hơn 1.000 giáo dân sang Bến Trại (Hải Dương). Hơn một tháng ở đó, Anvarê Cao bắt giáo dân đi càn quét cướp phá thóc gạo, lợn gà của nhân dân quanh vùng về tập trung. Hàng ngày y ra lệnh phát từng bơ (lon) gao, miếng thịt cho từng gia đình. Gia đình nào bị chúng tình nghi có liên lạc với kháng chiến thì lập tức mất khẩu phần thịt gạo, cho nên nhiều gia đình rất khốn khổ.
Sau hơn 30 ngày sống bằng của cướp giật của nhân dân quanh vùng Bến Trại, gây tội ác đã nhiều, Anvarê Cao cho giáo dân chuyển sang làng Tranh (Ninh Giang), cũng vẫn luận điệu lừa bịp: "Sang đây sẽ có nhà cửa ruộng vườn cầy cấy". Ở đây, y bắt giáo dân đi càn quét, cướp bóc của cải, trâu, bò lợn, gà của nhân dân quanh vùng. Những người không đi càn quét thì phải đi phu gánh gạch, gánh cát xây bốt cho giặc ở Ninh Giang.
Để chuẩn bị kéo về Quỳnh Lang lập tề, ngụy, Anvarê Cao nài xin giặc Pháp vũ trang và huấn luyện quân sự cho hơn 60 thanh niên Thiên Chúa Giáo. Đồng thời, y tổ chức bầu các ban quản trị, xã uỷ.
Tháng 2 năm 1950, địch đánh rộng ra Thái Bình, Anvarê Cao đưa lực lượng vũ trang về Quỳnh Lang lập bốt (đồn). Bốt Quỳnh Lang chiếm một khu đất rộng ngay trước cửa nhà thờ. Chúng cho xây nhiều lô cốt và hàng rào dây thép gai vây quanh. Trong bốt có trên 100 vệ sĩ do tên đồn trưởng Bùi Hữu Lùn chỉ huy. Y là tay sai đắc lực của Anvarê Cao. Mọi việc của đồn đều do Anvarê Cao quyết định. Hàng ngày, chúng bắt vệ sĩ đi càn quét các vùng lân cận như Bương Hà, Hỷ Hà, Đông Quynh để giết người, cướp của nhằm phá vỡ cơ sở kháng chiến của nhân dân ta.
Ngày 16/3/1950, Pháp cho thêm một tiểu đoàn về đóng ở Quỳnh Lang. Nhân dịp đó Anvarê Cao xin thêm súng đạn của giặc, vũ trang cho thanh niên Thiên Chúa Giáo ở Tân Mỹ và Đông Châu để làm tiền đồn án ngữ cho vị trí Quỳnh Lang. Lực lượng được tăng cường, chúng chiếm đóng khu tứ xã, càng ra sức hà hiếp các thôn xung quanh hòng bình định cả khu vực này. Chúng lập trại giam, tổ chức phòng mật thám, cho vệ sĩ hàng ngày đi lùng bắt cán bộ và nhân dân.
“Quân lính Việt Nam (lính Bảo Đại) trong cuộc thử lửa đầu tiên (ở Liên Khu V) hoặc là đã có những thành tích tồi tệ hoặc là cướp đoạt của cải. Theo sau là các viên chức hành chánh đổ tới vùng mới chiếm được lại còn tệ hơn cả đám quân lính (Liên Hiệp Pháp)”. (1)
Các xóm đạo đã được đoàn ngũ hóa từ trước, giờ đây lại được võ trang và trở thành những đạo quân thập tự địa phương vừa đóng vai trò giống như một ổ gián điệp để thâu thập tin tức tình báo tại địa phương, vừa rình chờ cơ hội chắc ăn thì kéo nhau tới tấn công các làng bên để đánh phá, giết người, đốt nhà, đọat của, cưỡng hiếp đàn bà con gái, giống như những hành động dã man của quân lính trong các đoàn quân Thập Ác trong thời Trung Cổ khi tiến vào vùng Tiểu Á và miền Nam nước Pháp. Nói phải có sách mách phải có chứng. Phần chứng minh dưới đây sẽ gồm có (1) một phần là những tài liệu trích ra từ các sách sử, (2) một phần là do những chứng nhân của thời cuộc kể lại những câu chuyên có thật trong đó cả nạn nhân và thủ phạm hiện nay đều là người Việt hải ngọai đang sinh sống ở Hoa Kỳ mà độc giả có thể kiểm chứng được, (3) một phần là do chính bản thân người viết chứng kiến, và (4) một phần là những bản văn trích ra từ các tập hồi kỳ có giá trị lịch sử và có liên hệ đến cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Thập Ác Vatican.
I.- Những Chuyện Theo Tài Liệu Lịch Sử
Trong một chương sách trước đây, độc giả đã thấy bọn lính đạo Ca-tô người Việt và người Âu (quân Thập Ác) trong thời 1858-1945 tham tàn và dã man đến độ chính quan thày người Pháp của chúng cũng phải ghê tởm và khinh bỉ ra mặt. Trong phần này, quý vị sẽ thấy bọn lính đạo Ca-tô người Việt còn tham tàn và dã man gấp ngàn lần nếu so với mức độ tham tàn và dã man của những tên lính đánh thuê người Âu Phi trong các cuộc hành quân tấn công hay tiến vào các làng thôn mục tiêu trong những năm 1945-1954. Nếu ai đã từng sống ở những làng bên cạnh các làng đạo đều biết rõ sự thật này và thảm cảnh của những người dân Lương trong vùng chung quanh các làng hay xóm đạo trên đây. Trong thời kỳ này, giáo dân Ca-tô trong các xóm đạo hay làng đạo nào tiếp cận được liên quân giặc Pháp - Vatican thì làng đạo đó được giặc vũ trang và trở thành một đơn vị tiền phong canh chừng cho đồn giặc và tiếp tay cho giặc trong những chiến dịch càn quét và đánh phá các làng lương bên cạnh. Vì thế mà bọn lính đạo ở trong các làng đạo này mới có cơ hội làm những việc làm ghê tởm hơn cà các quân lính Da-tô trong các đạo quân thập tự trong thời Trung Cổ khi chúng tiến vào các vùng mục tiêu ở Trung Đông và miền Nam nước Pháp.
Phải nói rằng trong lịch sử nhân lọai, chưa có quân linh nào lại tàn ác và dã man bằng bọn lính đạo Ca-tô người Việt Nam trong thời Kháng Chiến 1945-1954. Không một hành động tội ác nào mà chúng không làm: Đốt làng, phá chùa, phá miếu, thiêu hủy mùa màng, tàn sát đàn ông, đánh đập trẻ em, hãm hiếp đàn bà con gái, cướp đọat của cải và tóm thâu vơ vét tất cả những gì chúng muốn chiếm đọat rồi bắt chính nạn nhân phải khuân vác đem về xóm đạo cho chúng. Tình trạng này đã được các nhà biên khảo, các chứng nhân và nạn nhân kể lại. Những bản văn dưới đây cho chúng ta thấy rõ tệ trạng này.
Thứ nhất: Linh-muc Trần Tam Tỉnh ghi lại trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm như sau:
"Từ năm 1950, nhiều làng Công Giáo vùng đồng bằng được vũ trang, nhận súng ống của Pháp, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của các linh mục. Đội quân vũ trang của Phát Diệm gồm 10 ngàn người, ở dưới quyền chỉ huy của Giám-mục Lê Hữu Từ, còn quân Bùi Chu thì do Giám-mục Phạm Ngọc Chi điều khiển.. Vai trò của đội quân tự vệ vượt qua tư cách gọi là chỉ để tự vệ khi bị ******** tấn công, bởi vì nó được tung ra các hoạt động chủ yếu là hành quân càn quét, có khi bao trùm cả vùng, có lúc chỉ ở địa phương nhỏ. Chẳng hạn trong trận Ký Con ở Nam Định, một bộ tham mưu liên quân gồm có Trung Tá Candou ở Nam Định, Trung Đoàn Trưởng Mollat đồn Phát Diệm và Linh-mục Hoàng Quỳnh, tổng tư lệnh đội quân Công Giáo, đã thành công loại khỏi vòng chiến cả tiểu đoàn Việt Minh ở đây. Lính Công Giáo có lúc tham dự các cuộc hành quân gồm nhiều tiểu đoàn của Pháp.
Nhưng ở cấp địa phương, quân lính Công Giáo mới là đội quân hung hăng nhất. Nhằm lo cho các xứ được bảo vệ hữu hiệu hơn, bọn chúng tổ chức ruồng bố liên tiếp các làng lương chung quanh, bắt giam hoặc giết chết, khỏi cần tòa án, tất cả các chiến sĩ du kích và những ai bị tình nghi là Việt Minh. Theo gương lính Pháp, chúng cướp bóc các làng, lấy trộm, tàn sát, thiêu rụi tất cả những gì bị coi là ổ kháng chiến. Nực cười hết cỡ, có những linh mục - đại úy nghĩ rằng giờ đem cả nước theo đạo Kitô đã tới: Họ ra lệnh cho lính đi cướp phá các chùa Phật Giáo, mang hết các tượng Phật về làm củi chụm, rồi cắm thánh giá lên chùa hay là đặt Đức Mẹ vào trong đó. Thật phải rùng mình, khi nhắc lại tên tuổi của một số linh mục như Khâm, Tôn, Luật...
Các bản tin về những vụ ******** tàn sát Công Giáo do báo chí Pháp hoặc hãng thồng tấn Fides (của Tòa Thánh Vatican) đưa ra phải được đặt trong bối cảnh lịch sử nói trên. Chẳng hạn Beena Phan, trích dẫn tờ báo tiếng Pháp Viễn Đông xuất bản tại Sàgòn, đã viết; "Người ta kể lại rằng tại Cao Mại, 180 người Công Giáo, gồm nam nữ và trẻ con bị thiêu sống trong nhà thờ làng theo sau vụ một đồn lính Pháp cạn đó không chịu đầu hàng."
Tác giả Nguyễn Mạnh Quang thăm nhà thờ giáo xứ Cao Mại năm 2017
Sự thật lịch sử hoàn toàn khác thế. Cao Mại là một làng thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, ở 5 km cách sông Hồng, nơi chia đôi Thái Bình với Nam Định, và cũng là ranh giới giữa hai địa phận Thái Bình và Bùi Chu. Cao Mại có hai thôn, một Công Giáo và một Phật Giáo. Đang là mùa xuân 1950, giáo dân Bùi Chu lúc đó đã được võ trang, còn Thái Bình thì quân Pháp chỉ đóng ở thành phố và những vùng lân cận. Một hôm Cha Luật, chính xứ Cao Mại, tiếp một bạn người Bùi Chu sang thăm, có mấy tiểu đội mang vũ khí tháp tùng. Bọn lính này đi lùng sục các làng chung quanh, bắt các du kích quân và cán bộ Việt Minh bất ngờ gặp được và giết chết mấy người.
Được báo động, du kích toàn vùng đó kéo về hướng Cao Mại. Bọn lính Công Giáo vừa đánh vừa rút lui, có chừng 50 thanh niên Cao Mại và các linh mục tham gia. Khi thấy quân du kích kéo tới, giáo dân Cao Mại hoảng sợ, chạy vào nhà thờ đóng cửa lại, chờ cha xứ trở về mang theo tiếp viện. Du kích tổ chức bao vây, đòi phải thả các đồng chí bị bắt ra. Đám người bị bao vây cứ cầm cự. Khi đêm về, nhà thờ bốc cháy và những người bị nhốt trong đó chết thiêu. Người ta loan tin rằng vụ hoả hoạn đó là do nhóm người bao vây gây ra, hay chỉ là một chuyện rủi ro. Sau đó, cha Luật và quân lính của ông trở về, ông chỉ còn biết khóc trước đống tro tàn của nhà thờ và cái tang của dân chúng. Ông quyết định trả thù cho giáo dân. Cuộc báo thù hết sức kinh khủng. Các du kích quân bị lính của cha bắt được đều bị chôn sống trước nhà thờ. Từ đó, Cao Mại trở nên một nơi kinh hoàng cho cả vùng.
"Cao Mại là một trường hợp điển hình trong thảm kịch Việt Nam hồi đó. Máu đổi máu, những cuộc thanh toán tiếp theo những vụ trả thù. Vì không biết nghệ thuật quân sự và chiến lược của Kháng Chiến - do chính phủ Hồ Chí Minh vạch ra từ năm 1940 - quá tự tin vào những thắng lợi lúc đầu, người Công Giáo cứ đi bố ráp tại các làng không Công Giáo, thường đâu có chống cự lại họ." (2)
Thứ hai: Hai nhà biên khảo Quang Toàn và Nguyễn Hoài ghi lại trong cuốn Những Họat Động Của Bọn Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Giáo với nguyên văn như sau:
"Quỳnh Lang Đẫm Máu: Quỳnh Lang là một thôn thuộc xã Quỳnh Lâm (Toàn Thắng), huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Dân số trong thôn có hơn 1.000 người, phần lớn theo đạo Thiên Chúa. Thôn này ở về phía Tây Bắc huyện Quỳnh Côi. Giữa thôn có một nhà xứ (nhà thờ) thường gọi là nhà thờ Quỳnh Lang. Nhà thờ thường có hai cha cố (linh mục) bẩy thày giáo và một số cô mụ.
Ngay từ ngày đầu sau thắng lợi của cuộc Cách Mạng tháng Tám năm 1945, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa Giáo đã ngấm ngầm tổ chức hoạt động chống lại chính quyền dân chủ nhân dân. Đứng đầu bọn này là tên Anvarê Cao, người Tây Ban Nha. Là Linh-mục chánh xứ, Anvarê Cao đã cai quản nhà xứ Quỳnh Lang từ năm 1941-1942. Khi chính quyền về tay nhân dân, chúng đã lợi dụng tòa giảng của các nhà thờ và các lớp giáo lý để tuyên truyền xuyên tạc mọi chủ trương chính sách của chính phủ ta. Khi kháng chiến bùng nổ, chúng ngấm ngầm tổ chức những đội "Thanh Niên Diệt Cộng" trong các họ thuộc xứ, dưới những hình thức "Đội Âm Nhạc", "Đội Chầu"...
Năm 1948, 1949, quân Pháp đánh rộng ra Hải Dương, Hưng Yên thì Anvarê Cao tổ chức "Liên Đoàn Thanh Niên Công Giáo" toàn xã Quỳnh Lang. Ban chấp hành của Liên Đoàn này do Anvarê Cao đứng đầu và mỗi họ (đạo) này được cử một đại biểu vào ban đó. Từ đó, bọn phản động đội lốt Thiên Chúa Giáo hoạt động ngày càng ráo riết hơn, có kế hoạch và tổ chức hơn. Anvarê Cao còn chọn một số tay sai đắc lực đưa vào Quốc Dân Đảng như tên Mậu tức Ái (Quỳnh Lang), Tuyên (Tân Mỹ).... để nắm lấy tổ chức này.
Sau đó, bọn này đi tuyên truyền phát triển đảng viên. Tên nào tổ chức được một đảng viên thì được thưởng 100 đồng Đông Dương. Dần dần chúng thu hút được những tên Ruy, Trị, Rẫn... (Quỳnh Lang)... Những tên này đều trở thành tay sai đắc lực của bọn Thiên Chúa Giáo phản động ở đây.
Tháng 11 năm 1949, giặc Pháp đem quân về đóng ở Bến Trại và La Tiên (bắc sông Luộc), gần Quỳnh Lang. Anvarê Cao bèn tập họp thanh niên Thiên Chúa Giáo ở các thôn Đông Châu, Tân Mỹ, Quỳnh Lang bí mật cho đi kiểm soát khu tứ xã. Y cho một thanh niên sang liên lạc với giặc Pháp ở Bến Trại và La Tiên, cử tên Luân (Tân Mỹ) sang Bến Trại cầu cứu Pháp cho quân về càn đồng bào Thiên Chúa Giáo đi tản cư. Y còn dùng thị Hồng người Việt Yên (gái điếm) liên lạc với giặc Pháp ở Hưng Yên và La Tiến.
Tháng 1 năm 1950, giặc Pháp từ Bến Trại vượt sông Luộc về dẫn đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở khu tứ xã tản cư. Khi giặc đến, Anvarê Cao ra lệnh cho các trùm trưởng các họ ở ba thôn Quỳnh Lang, Đông Châu và Tân Mỹ phải tập họp giáo dân đến Tân Mỹ. Tên Ký Giáp và Trùm Vĩ vâng lệnh Anvarê Cao doạ nạt giáo dân: "Đồng bào tới đây sẽ có quân Pháp đón và theo cha xứ đi tản cư, chứ ở nhà Việt Minh đến đánh nhau, đồng bào không chạy được thì nó cắt tiết (Tài liệu của Ty Văn Hoá Thái Bình).
Dưới mũi súng hỗ trợ của giặc, Anvarê Cao cùng bọn trùm trưởng đã dẫn hơn 1.000 giáo dân sang Bến Trại (Hải Dương). Hơn một tháng ở đó, Anvarê Cao bắt giáo dân đi càn quét cướp phá thóc gạo, lợn gà của nhân dân quanh vùng về tập trung. Hàng ngày y ra lệnh phát từng bơ (lon) gao, miếng thịt cho từng gia đình. Gia đình nào bị chúng tình nghi có liên lạc với kháng chiến thì lập tức mất khẩu phần thịt gạo, cho nên nhiều gia đình rất khốn khổ.
Sau hơn 30 ngày sống bằng của cướp giật của nhân dân quanh vùng Bến Trại, gây tội ác đã nhiều, Anvarê Cao cho giáo dân chuyển sang làng Tranh (Ninh Giang), cũng vẫn luận điệu lừa bịp: "Sang đây sẽ có nhà cửa ruộng vườn cầy cấy". Ở đây, y bắt giáo dân đi càn quét, cướp bóc của cải, trâu, bò lợn, gà của nhân dân quanh vùng. Những người không đi càn quét thì phải đi phu gánh gạch, gánh cát xây bốt cho giặc ở Ninh Giang.
Để chuẩn bị kéo về Quỳnh Lang lập tề, ngụy, Anvarê Cao nài xin giặc Pháp vũ trang và huấn luyện quân sự cho hơn 60 thanh niên Thiên Chúa Giáo. Đồng thời, y tổ chức bầu các ban quản trị, xã uỷ.
Tháng 2 năm 1950, địch đánh rộng ra Thái Bình, Anvarê Cao đưa lực lượng vũ trang về Quỳnh Lang lập bốt (đồn). Bốt Quỳnh Lang chiếm một khu đất rộng ngay trước cửa nhà thờ. Chúng cho xây nhiều lô cốt và hàng rào dây thép gai vây quanh. Trong bốt có trên 100 vệ sĩ do tên đồn trưởng Bùi Hữu Lùn chỉ huy. Y là tay sai đắc lực của Anvarê Cao. Mọi việc của đồn đều do Anvarê Cao quyết định. Hàng ngày, chúng bắt vệ sĩ đi càn quét các vùng lân cận như Bương Hà, Hỷ Hà, Đông Quynh để giết người, cướp của nhằm phá vỡ cơ sở kháng chiến của nhân dân ta.
Ngày 16/3/1950, Pháp cho thêm một tiểu đoàn về đóng ở Quỳnh Lang. Nhân dịp đó Anvarê Cao xin thêm súng đạn của giặc, vũ trang cho thanh niên Thiên Chúa Giáo ở Tân Mỹ và Đông Châu để làm tiền đồn án ngữ cho vị trí Quỳnh Lang. Lực lượng được tăng cường, chúng chiếm đóng khu tứ xã, càng ra sức hà hiếp các thôn xung quanh hòng bình định cả khu vực này. Chúng lập trại giam, tổ chức phòng mật thám, cho vệ sĩ hàng ngày đi lùng bắt cán bộ và nhân dân.
