Oán Khí Sông Hậu: Đứa Trẻ Xô Ngã Nhịp Cầu

Chương 1: Đêm Gọi Hồn Đất Võ và Đứa Trẻ Không Tên

Năm 2012. Đó là cái năm mà tôi vừa bước chân vào lớp 10, cái độ tuổi dở dở ương ương, nằm ở lằn ranh của sự tò mò vô tận và nỗi sợ hãi nguyên thủy trước những điều chưa thể lý giải. Quê tôi ở Bình Định, mảnh đất võ nổi tiếng với những con người can trường, nơi gió biển mặn mòi thổi qua những rặng dừa tạo nên thứ âm thanh xào xạc, nghe như lời thì thầm của một cõi khác trôi về từ quá khứ xa xăm.


Đêm hôm đó, sương xuống lạnh buốt. Ngôi nhà ngói ba gian của bà ngoại tôi bình thường êm đềm là thế, nay lại chìm trong một bầu không khí nghẹt thở, đặc quánh mùi nhang trầm. Ở giữa nhà, một chiếc chiếu hoa được trải rộng. Đèn tuýp bị tắt hết, nhường chỗ cho ánh sáng leo lét, dặt dẹo từ hai ngọn nến đỏ rực đặt trên bàn thờ dã chiến.


Bà Sáu là chị gái ruột của bà ngoại tôi, bà ngồi co ro ở một góc chiếu. Bà năm nay đã ngoài bảy mươi, vóc người gầy gò, đôi mắt mờ đục chứa đầy những vết cắt của thời gian và những nỗi ân hận không thể gọi thành tên. Cả đời bà sống hiền lành, chịu thương chịu khó, nhưng mang trong lòng một vết thương rỉ máu suốt mấy chục năm trời: một lần sảy thai thuở thanh xuân. Thời đó, đất nước còn khó khăn, cái nghèo bám riết lấy từng mái tranh vách đất. Cái thai chưa kịp thành hình trọn vẹn đã vội lìa đời sau một cú trượt chân oan nghiệt bên bờ giếng phong rêu. Người ta gói ghém sinh linh bé nhỏ ấy trong một lớp vải xô thô ráp, đem chôn vội vã ở mảnh đất hoang ngoài rìa nghĩa trang. Không cúng điếu, không bia mộ, và đau đớn nhất là... không có lấy một cái tên.


Mãi cho đến dạo gần đây, bà Sáu liên tục gặp ác mộng. Bà khóc ròng, kể với con cháu rằng cứ nhắm mắt lại là thấy một cái bóng đen nhỏ thó, không rõ mặt mũi, cứ đứng gầm gừ ở chân giường. Cả dòng họ xót xa, quyết định mời một thầy đồng khét tiếng ở mạn Tuy Phước về làm lễ cầu hồn, mong tìm lại chút liên kết với đứa con xấu số để siêu độ cho nó siêu sinh tịnh độ.


Tôi, mang bản tính tò mò của một thằng nhóc ranh, lén chui vào nấp sau cánh cửa buồng, nín thở theo dõi từng cử động của ông thầy.


Ông thầy đồng trạc ngũ tuần, mặc một bộ áo dài the đen, đầu chít khăn đỏ. Ông ngồi xếp bằng, miệng lầm rầm tụng những câu chú nghe không rõ tiếng, tay liên tục gõ boong boong vào chiếc mõ gỗ, nhịp độ lúc khoan lúc nhặt. Xung quanh ông, khói nhang tỏa ra mù mịt, cuộn lại thành từng luồng lờ lững bay lên nóc nhà.


Tiếng chuông gõ mỗi lúc một dồn dập. Gió từ đâu bên ngoài bỗng thổi thốc vào khiến cánh cửa sổ gỗ va đập cạch... cạch... từng hồi. Ngọn nến leo lét trên bàn thờ phụt tắt rồi lại bùng lên. Không khí lạnh ngắt như có người vội vã đổ những tảng đá ướp xác vào giữa gian nhà.


Đột nhiên, tiếng mõ dừng bặt.


Thầy đồng rùng mình một cái thật mạnh, toàn thân giật nảy lên bần bật như bị điện giật. Ông gục đầu xuống ngực, đôi vai gầy rung lên. Cả gia đình tôi nín thở. Bà Sáu chắp tay trước ngực, nước mắt đã ràn rụa trên đôi gò má nhăn nheo. Những tiếng nấc kìm nén vang lên trong sự tĩnh lặng đáng sợ. Tất cả đều chờ đợi một tiếng khóc é lên của trẻ thơ, chờ đợi những lời oán hờn non nớt, hay những tiếng gọi "Mẹ ơi" xé lòng như người ta thường đồn đại về các vong linh nhi đồng.


Nhưng không.


Cái đầu của thầy đồng từ từ ngẩng lên. Đôi mắt ông ta giờ đây đã trợn ngược, chỉ còn tròng trắng dã, vằn vện những tia máu đỏ lòm. Khuôn mặt nhăn nheo bỗng chốc căng ra, nét mặt thay đổi hoàn toàn, méo mó thành một nụ cười nhếch mép man rợ.


Ông ta, hay đúng hơn là cái thứ đang ngự trong thân xác ông ta, từ từ vươn người dậy. Nó không quỳ khóc, không run rẩy. Nó kéo một chân lên gác qua đầu gối, tạo thành thế ngồi vắt chân chữ ngũ cực kỳ ngang tàng, hai tay vỗ vỗ vào đùi cái đét, rồi buông một tiếng chép miệng đầy bất cần.


"Chậc... Khói hương khét mù. Kêu tao lên đây làm cái chó gì?"


Chất giọng phát ra từ miệng thầy đồng không phải là tiếng trẻ con, cũng không phải là giọng trầm đục thường ngày của ông. Đó là một thứ âm thanh the thé, lạnh lẽo, rè rè như tiếng kim loại cạo vào nhau, mang nặng một sự hỗn xược, gai góc và sặc mùi dao búa.


Bà Sáu sững sờ, toàn thân run rẩy lết lại gần. Bà đưa đôi bàn tay khô gầy ra phía trước như muốn ôm lấy thân xác kia, nghẹn ngào cất tiếng:


"Con ơi... có phải con của mẹ không? Mẹ là mẹ của con đây..."


Thầy đồng liếc nhìn bà Sáu bằng nửa con mắt, khóe môi nhếch lên tạo thành một nụ cười nửa miệng đầy khinh miệt. Nó khạc một bãi nước bọt tưởng tượng xuống nền nhà, gằn giọng:


"Mẹ? Mẹ nào ở đây? Mấy chục năm nay tao trôi dạt lay lắt, bị đám quỷ già cấu xé, có thấy mặt mũi bà mẹ nào vứt cho một nắm xôi, một nén nhang đâu mà bây giờ nhận mẹ nhận con?"


Cả gian nhà chết lặng. Mấy người lớn trong họ tái mặt, có người sợ quá lùi hẳn ra sát vách tường. Ở góc buồng, da gà tôi nổi lên rần rần chạy dọc sống lưng, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm lòng bàn tay. Vong hồn này không giống bất kỳ điều gì tôi từng nghe kể. Nó mang dáng dấp của một kẻ du đãng bạt mạng, một gã giang hồ gai góc từ dưới đáy sâu của cõi âm.


Bà Sáu òa khóc nức nở, đập tay xuống ngực mình bình bịch, tiếng khóc uất nghẹn, đứt quãng:


"Mẹ có tội... Mẹ có lỗi với con! Ngày đó khổ quá, mẹ không lo được cho con mồ yên mả đẹp. Con ơi, những năm qua... con sống sao hả con? Con có đói khát, có lạnh lẽo không?"


Nghe đến đó, đôi mắt trắng dã của thầy đồng hơi cụp xuống, sự ngang tàng dường như chùng lại một giây trước khi bị lấp liếm bằng một điệu cười cay độc, chua chát.


"Sống sao à?" Nó lặp lại, giọng nói đanh lại, chứa đầy những uất hận dồn nén của mấy mươi năm. "Bà nghĩ coi, một cái thai rơi rớt, không mồ mả, không ai cúng kiếng, tên cũng đéo có, tuổi cũng không, thì lấy cái gì để mà 'sống' dưới đó? Dưới cái cõi âm này, không có tiền giấy, không có nhang đèn thì chỉ là rác rưởi! Bà tưởng tôi được làm thần làm tiên à?"


Nó chống hai tay ra sau chiếu, ngửa mặt lên trần nhà cười gằn, tiếng cười như tiếng cú kêu trong đêm:


"Mấy năm đầu, tao chỉ là một cục máu đỏ hỏn, lăn lóc ở cái bãi tha ma. Bọn cô hồn các đảng lớn hơn, bọn dạ quỷ chết chém chết treo nó chà đạp, nó đánh đập tao. Đến cái ngày rằm tháng Bảy, người ta đổ cháo lá đa ra đường, tao mới bò ra nhặt từng hạt cháo dính đất vương vãi, chưa kịp nuốt thì bị một thằng quỷ già đạp cho một cái văng xa cả trượng, cướp luôn miếng ăn từ trong miệng. Dưới đó... nó còn tàn khốc hơn cái trần gian của bà cả trăm lần!"


Nó rướn người về phía trước, đưa khuôn mặt trắng bệch sát vào mặt bà Sáu. Mùi tanh lợm giọng của bùn đất và khí lạnh từ miệng nó tỏa ra làm bà Sáu phải rùng mình.


"Bị đánh mãi, bị chà đạp mãi thì phải tự biết đường mà ngoi lên thôi. Tao đi theo đám cô hồn dã quỷ, dạt ra các ngã ba ngã tư đường. Bọn tao lập băng, kết đảng. Ở cõi dương có giang hồ, thì dưới cõi âm cũng có luật của giang hồ. Cướp giật từng bát cơm cúng mùng một, đánh nhau sứt đầu mẻ trán với lũ cô hồn xứ khác để giành chỗ hứng nhang. Tao không còn là cái thai đỏ hỏn bị bà quăng bên giếng nữa. Mấy chục năm nay, tao đi làm giang hồ, đi phá làng phá xóm để mua vui. Đứa nào yếu hơn tao, tao đập. Nhà nào cúng kiếng không tử tế, tao vào tận nhà tao phá cho tan cửa nát nhà!"


Những lời thú nhận tuôn ra như những nhát dao đâm thẳng vào tim bà ngoại tôi và bà Sáu. Nỗi đau đớn vì đứa con tội nghiệp bị đọa đày hóa thành loài quỷ dữ vì sự vô tâm của người lớn là một sự trừng phạt tàn nhẫn nhất. Bà Sáu gục hẳn xuống chiếu, hai tay bám chặt lấy sàn nhà lạnh ngắt, tiếng khóc của bà giờ chỉ còn là những tiếng rên rỉ nghẹn ngào nấc lên trong cổ họng.


Gian nhà chìm trong một sự tĩnh lặng đến ngộp thở, chỉ còn nghe tiếng gió rít qua khe cửa và tiếng nấc của bà cụ già. Tôi nép sau cánh cửa, trống ngực đập liên hồi. Cảm giác sợ hãi len lỏi vào từng tế bào. Đứa trẻ vô danh ấy không hiện về để đòi tình thương. Nó hiện về để xát muối vào vết thương, để phơi bày một thế giới ngầm đẫm máu và u ám ở thế giới bên kia, nơi mà những linh hồn bị lãng quên phải cấu xé lẫn nhau để tồn tại.


Nhưng rồi, không khí đột nhiên biến đổi. Vong hồn đứa trẻ dừng lại điệu cười cợt nhả. Nó từ từ ngồi thẳng người dậy, nét mặt bỗng trở nên nghiêm nghị, đôi mắt trắng dã đảo quanh một vòng như đang dò xét, rồi dừng lại nhìn trừng trừng vào một khoảng không vô định trước mặt. Giọng nó trầm hẳn xuống, không còn vẻ xấc xược, mà mang theo một sự rợn ngợp kỳ lạ, lẩm bẩm:


"Bọn bây... ở trần gian này... có hay xem thời sự không?"


Cả nhà ngơ ngác nhìn nhau. Không ai hiểu vì sao một vong hồn lại đi hỏi chuyện thời sự của người dương. Một người cậu của tôi bạo gan lên tiếng: "Dạ... dạ bẩm, vong muốn nói chuyện gì ạ?"


Thầy đồng nhếch mép, buông ra một câu nói nhẹ bẫng nhưng có sức nặng như một tảng đá ngàn cân ném thẳng xuống giữa gian nhà:


"Biết vụ sập cầu dẫn nhịp Cần Thơ không? Năm đó vụ đó nổi quá trời trên thời sự mà... chắc người lớn ở đây đều biết."


Nói đến đây, vong hồn liếm môi, một nụ cười quỷ dị từ từ nở rộ trên khuôn mặt cứng đờ của ông thầy pháp, một nụ cười báo hiệu cho một bí mật động trời sắp sửa được moi lên từ dưới lớp bùn lầy của dòng sông Hậu.
 
Top