nguoitutethatsu
Hạt giống tầm thần
Đám cưới hay là trò lố?

Nguyễn Bảo Trung3 tháng 7 2018
Bài viết này nhằm đả kích sự vô lý, thói quen xa xỉ, chuộng hình thức, Tây không ra Tây mà Tàu cũng chẳng ra Tàu trong hôn nhân tại Việt Nam hiện nay. Tác giả không hề có ý phỉ báng truyền thống, mà nhấn mạnh vào những cái trái khoáy, những thiên kiến xác nhận nhảm nhí dẫn đến sự tan vỡ của rất nhiều cặp đôi trẻ.
Những số liệu thống kê trong bài viết đã được nghiên cứu, tổng hợp kỹ càng, khoa học, hàn lâm, triết lý với phương pháp... ước lượng bằng mắt thường, qua 1001 cái đám cưới mà tác giả, hoặc muốn, hoặc không muốn, đã tham dự.
Nhân một hôm, trên Facebook của anh bạn trong Nam của mình vốn 3 năm nay vẫn tràn đầy từng khoảnh khắc của đôi bạn trẻ với bao mong ước cho tương lai, chỉ còn vỏn vẹn một dòng chữ: ABC is now single. Sau khi tức tốc gọi điện cho anh bạn này, thì mới vỡ lẽ ra rằng: họ chia tay vì không cưới được. Nghe có vẻ lạ mà không lạ, suy đi nghĩ lại chỉ thấy đắng chát trong họng.
Trai gái lấy nhau là thiên kinh, địa nghĩa. Đốt thiên kinh, diệt địa nghĩa, rốt cuộc là kẻ nào?!
Lễ nạp tài: sau khi hai nhà bàn chuyện cưới của đôi vợ chồng trẻ, nhà trai sẽ "đặt cọc" một cặp "nhạn" ở nhà gái để biểu thị cho việc "đã seen".
Lễ vấn danh: ông bà mai đến nhà gái để hỏi về tên tuổi, ngày tháng năm và giờ sinh của cô dâu.
Lễ nạp cát: lễ này để báo cho nhà gái biết rằng nhà trai đã google xong tử vi và biết được tuổi tác không xung khắc, có thể tiến tới hôn nhân.
Lễ nạp tệ/nạp trưng: lễ này là khi nhà trai nộp lễ vật cho nhà gái để đảm bảo cho sự cử hành của hôn lễ.
Lễ thỉnh kỳ: lễ này để định ngày giờ cử hành hôn lễ. Trong nghi lễ này, nhà gái sẽ đưa ra check-list lễ vật gọi thầu.
Lễ nghinh thân: lễ rước dâu, chung với lễ cưới, nhà trai mang lễ vật đến rước dâu về nhà trai. Tại nhà trai, cặp phu thê sẽ thực hiện bái lạy gia tiên, bái lạy nhị vị song thân, rồi cuối cùng là giao bái. Một bữa tiệc nho nhỏ giữa gia đình, người thân, hàng xóm và bạn bè sẽ được tổ chức trong không khí ấm cúng, gọn nhẹ. Sau đó 2 ngày, tân lang và tân nương sẽ cùng nhau về nhà vợ để bái kiến nhạc phụ, nhạc mẫu.
Lễ rước dâu truyền thống, Sài Gòn năm 1866.
Về căn bản, việc "thách cưới" của nhà gái chỉ là một hình thức, với quan niệm tài vật đó sẽ khiến cho cuộc sống của tân nương bên nhà trai sẽ luôn giàu sang, phú quý. Số lượng lễ vật tùy vào thái độ của nhà gái với nhà trai. Nếu ưng thì sẽ vừa vừa phai phải, còn không ưng thì hét lên tận trời để khỏi cưới. Tuy nhiên, để tránh cho việc này phát sinh, vua ban hành các luật lệ để các đôi trai gái có thể cưới nhau vẹn toàn, cụ thể như sau:
Các nghi lễ cần phải được tổ chức một cách thật tiết kiệm, không xa hoa lãng phí và phải nhanh chóng, trừ phi là nghi lễ của hoàng gia.
6 nghi lễ truyền thống
Không bàn của cải
Không xa xỉ dông dài
Lễ dạm ngõ: nhà trai mang lễ vật đến nhà gái để đặt vấn đề cưới xin cho cặp trai gái. Các vấn đề như tuổi tác, sính lễ, ngày giờ,... cũng sẽ được bàn bạc trong buổi lễ này.
Lễ ăn hỏi: nhà trai mang lễ vật đến nhà gái để hỏi cưới. Tại nghi lễ này, cô gái được xác nhận là vợ chưa cưới của chàng trai.
Lễ cưới: phần này là phần quan trọng nhất trong toàn bộ 4 nghi lễ, khi tân lang tân nương báo cáo hôn sự lên gia tiên, kính rượu phụ mẫu và thân bằng quyến thuộc. Sau đó, gia đình sẽ lựa chọn tổ chức bữa tiệc thân mật tại nhà, hoặc kéo nhau vào một cái hộp kín với mấy trăm khách, mà đa số trong đó cô dâu chú rể chỉ gặp được 1-2 lần trong suốt quãng đời.
Bái lạy gia tiên
Lễ lại mặt: sau lễ cưới, tân lang tân nương quay về nhà gái để bái kiến phụ mẫu, kèm theo một số lễ vật đơn giản, rót rượu hoặc trà.
Kết thúc phần 1, tôi xin nhấn mạnh một điểm rằng, nghi lễ cưới truyền thống của Việt Nam không hề bao gồm cái bữa tiệc 2-300 khách xa xỉ lãng phí, mà mọi người thường gọi là "cơm bụi giá cao".
Nguyễn Bảo Trung3 tháng 7 2018
Bài viết này nhằm đả kích sự vô lý, thói quen xa xỉ, chuộng hình thức, Tây không ra Tây mà Tàu cũng chẳng ra Tàu trong hôn nhân tại Việt Nam hiện nay. Tác giả không hề có ý phỉ báng truyền thống, mà nhấn mạnh vào những cái trái khoáy, những thiên kiến xác nhận nhảm nhí dẫn đến sự tan vỡ của rất nhiều cặp đôi trẻ.
Những số liệu thống kê trong bài viết đã được nghiên cứu, tổng hợp kỹ càng, khoa học, hàn lâm, triết lý với phương pháp... ước lượng bằng mắt thường, qua 1001 cái đám cưới mà tác giả, hoặc muốn, hoặc không muốn, đã tham dự.
Nhân một hôm, trên Facebook của anh bạn trong Nam của mình vốn 3 năm nay vẫn tràn đầy từng khoảnh khắc của đôi bạn trẻ với bao mong ước cho tương lai, chỉ còn vỏn vẹn một dòng chữ: ABC is now single. Sau khi tức tốc gọi điện cho anh bạn này, thì mới vỡ lẽ ra rằng: họ chia tay vì không cưới được. Nghe có vẻ lạ mà không lạ, suy đi nghĩ lại chỉ thấy đắng chát trong họng.
Trai gái lấy nhau là thiên kinh, địa nghĩa. Đốt thiên kinh, diệt địa nghĩa, rốt cuộc là kẻ nào?!
1. Đám cưới là gì?
1.1 Thời xưa
Theo nghi thức thời xưa, đám cưới bao gồm các 6 nghi lễ sau:Trai gái lấy nhau, gọi là đám cưới, nói gọn là cưới, từ Hán-Việt là "giá thú". Đám cưới là một trong tứ đại nghi lễ của văn hóa người Việt. Đám cưới thời phong kiến hoàn toàn phụ thuộc vào cha mẹ sắp đặt, mà không phụ thuộc vào đôi trai gái.
-Theo wikipedia-
Lễ nạp tài: sau khi hai nhà bàn chuyện cưới của đôi vợ chồng trẻ, nhà trai sẽ "đặt cọc" một cặp "nhạn" ở nhà gái để biểu thị cho việc "đã seen".
Lễ vấn danh: ông bà mai đến nhà gái để hỏi về tên tuổi, ngày tháng năm và giờ sinh của cô dâu.
Lễ nạp cát: lễ này để báo cho nhà gái biết rằng nhà trai đã google xong tử vi và biết được tuổi tác không xung khắc, có thể tiến tới hôn nhân.
Lễ nạp tệ/nạp trưng: lễ này là khi nhà trai nộp lễ vật cho nhà gái để đảm bảo cho sự cử hành của hôn lễ.
Lễ thỉnh kỳ: lễ này để định ngày giờ cử hành hôn lễ. Trong nghi lễ này, nhà gái sẽ đưa ra check-list lễ vật gọi thầu.
Lễ nghinh thân: lễ rước dâu, chung với lễ cưới, nhà trai mang lễ vật đến rước dâu về nhà trai. Tại nhà trai, cặp phu thê sẽ thực hiện bái lạy gia tiên, bái lạy nhị vị song thân, rồi cuối cùng là giao bái. Một bữa tiệc nho nhỏ giữa gia đình, người thân, hàng xóm và bạn bè sẽ được tổ chức trong không khí ấm cúng, gọn nhẹ. Sau đó 2 ngày, tân lang và tân nương sẽ cùng nhau về nhà vợ để bái kiến nhạc phụ, nhạc mẫu.
Về căn bản, việc "thách cưới" của nhà gái chỉ là một hình thức, với quan niệm tài vật đó sẽ khiến cho cuộc sống của tân nương bên nhà trai sẽ luôn giàu sang, phú quý. Số lượng lễ vật tùy vào thái độ của nhà gái với nhà trai. Nếu ưng thì sẽ vừa vừa phai phải, còn không ưng thì hét lên tận trời để khỏi cưới. Tuy nhiên, để tránh cho việc này phát sinh, vua ban hành các luật lệ để các đôi trai gái có thể cưới nhau vẹn toàn, cụ thể như sau:
Trong đó, khái niệm "tiền cheo" là số tiền nhà trai nộp cho hương chức tại làng, để được cấp giấy giá thú (ngày nay tương ứng gọi là giấy đăng ký kết hôn).Điều lệ hương đảng do vua Gia Long ban hành năm 1804, khoản về giá thú đã dẫn câu từ sách cổ: "Hôn lễ là mối đầu của đạo người", "Giá thú mà bàn của cải là thói quen mọi rợ" và quy định: "Đại phàm lấy vợ lấy chồng, chẳng qua cốt được cặp đôi mà thôi, còn lễ cưới thì nên châm chước trong sáu lễ, lượng tuỳ nhà có hay không, chứ không được viết khế cố ruộng. Hương trưởng thu tiền cheo trong lễ cưới thì người giàu 1 quan 2 tiền, người vừa 6 tiền, người nghèo 3 tiền, người làng khác thì gấp đôi..
-Nguồn Wikipedia-
Các nghi lễ cần phải được tổ chức một cách thật tiết kiệm, không xa hoa lãng phí và phải nhanh chóng, trừ phi là nghi lễ của hoàng gia.
Tức là, lễ cưới thời phong kiến gói gọn trong 3 vấn đề sau:Năm 1864, vua Tự Đức cũng sai định rõ lại lễ cưới xin của dân gian: "Từ lúc vấn danh đến khi xin cưới, cho kỳ hạn là 6 tháng, đều theo tiết kiệm, không được quá xa xỉ"
-Nguồn Wikipedia-
6 nghi lễ truyền thống
Không bàn của cải
Không xa xỉ dông dài
1.2 Thời nay
Thời buổi hiện đại, hội nhập văn hóa, nên đám cưới thời nay không còn hủ tục "cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó" nữa, và các lễ nghi cũng được tinh gọn lại để tránh tốn thời gian phiền hà, tuy nhiên các giá trị cốt lõi nhân văn trong văn hóa hôn nhân của nước ta vẫn được lưu giữ lại.Lễ dạm ngõ: nhà trai mang lễ vật đến nhà gái để đặt vấn đề cưới xin cho cặp trai gái. Các vấn đề như tuổi tác, sính lễ, ngày giờ,... cũng sẽ được bàn bạc trong buổi lễ này.
Lễ ăn hỏi: nhà trai mang lễ vật đến nhà gái để hỏi cưới. Tại nghi lễ này, cô gái được xác nhận là vợ chưa cưới của chàng trai.
Lễ cưới: phần này là phần quan trọng nhất trong toàn bộ 4 nghi lễ, khi tân lang tân nương báo cáo hôn sự lên gia tiên, kính rượu phụ mẫu và thân bằng quyến thuộc. Sau đó, gia đình sẽ lựa chọn tổ chức bữa tiệc thân mật tại nhà, hoặc kéo nhau vào một cái hộp kín với mấy trăm khách, mà đa số trong đó cô dâu chú rể chỉ gặp được 1-2 lần trong suốt quãng đời.
Lễ lại mặt: sau lễ cưới, tân lang tân nương quay về nhà gái để bái kiến phụ mẫu, kèm theo một số lễ vật đơn giản, rót rượu hoặc trà.
Kết thúc phần 1, tôi xin nhấn mạnh một điểm rằng, nghi lễ cưới truyền thống của Việt Nam không hề bao gồm cái bữa tiệc 2-300 khách xa xỉ lãng phí, mà mọi người thường gọi là "cơm bụi giá cao".

