Live Samsung rút khỏi Tàu mảng gia dụng, VN thiệt hại nặng !?

Thuở lập quốc bọn Tàu hơn Tây hồi nào thế hả. Mày ngu ít thôi tìm hiểu thêm đi. Cách đây hơn 2300 năm trước người Hy Lạp chế tạo được cỗ máy vi tính cơ khí analog Antikythera đầu tiên trên thế giới và còn biết lập trình tạo ra phần mềm trên cái cỗ máy đó đầu tiên luôn thì cùng thời đó TQ còn đéo biết bánh răng là gì nhé
card thời đó tụi Tây đi ỉa còn ko có wc thì Tần vương đã biết làm nỏ bắn liên tiếp rồi
 
Đầu tư vào nó cho cố vô..rồi chuyển giao công nghệ hoặc nó cài gián điệp vô ăn cắp giờ thì nó đánh bật cho cút luôn.
Là một trong những tập đoàn lớn trên thế giới mà samsung chỉ có tầm nhìn chỉ có 10 năm..quá ngây thơ.
Đồ gia dụng của ss cũng lỏ bỏ mẹ, tao đéo bao giờ dùng.
Thôi cút cũng phải
 
dân mình là dân lai tạp của bọn Tàu dạt và bọn mường mán cổ , do đó tố chất kém hơn rất nhiều so với bọn hàng xịn .
Về cơ bản thì dân ta lười làm , lười suy nghĩ sâu , sáng tạo , học hỏi và copy .
Mày cứ nhìn suốt chiều dài lịch sử cho đến bây giờ thì sẽ thấy rất rõ .
Mặc dù ở gần Tàu nhưng chả học được cái lol gì ngoài dăm ba cái Nho giáo vớ vẩn .
Nó thì làm Binh Mã Dõng , Vạn Lý trường thành , từ cách đây 2000 năm .
Ta thì nhìn cái chùa một cột thôi là đủ hiểu được tầm vóc nó tủn mủn như thế nào
1. Người Việt cổ, đặc biệt cho đến thời kỳ Văn hóa Đông Sơn, đã kết tập các bộ Sử thi Thần thoại cơ bản thành hình, và đưa ra lý giải về sự hình thành thế giới và con người theo nhãn quan thần thoại của người Việt cổ. Những cư dân của Văn hóa Đông Sơn, còn được gọi là người Nak, đã xây dựng một quốc gia cổ đại từ cách đây hơn 2,700 năm trước.
2. Sử thi của người Việt cổ là có thật, nó đã kể về sự khai thiên lập địa bởi Thần tối cao và tổ chức hệ thống các vị thần. Sử thi Việt cổ đã gần như hoàn thiện “Vạn thần điện” – tức phả hệ các vị thần linh trong huyền thoại cổ đại. Các vị thần đã khai sinh trời đất, tạo ra con người và dựng lên các mường các bản.
3. Theo thần thoại Việt cổ, thuyết tiến hóa được thừa nhận là có tồn tại. Nhưng khác với Darwin cho rằng con người tiến hóa từ loài vượn tối cổ, thần thoại Việt cổ tin rằng con người đầu tiên được tiến hóa từ loài chim cách đây hơn 3 vạn năm trước, nhờ sự thăng hoa và quyền pháp của chư Thần đã ban cho. Những người tiến hóa từ loài chim đã quần tụ ở mảnh đất của phương Nam và kiến lập các thị tộc đầu tiên mà sau này được phiên âm hóa là “Hồng Bàng thị.” Lại nữa, cách đây hơn 1,5 vạn năm trước, Thiên Đế theo thần thoại đã biến những con cá của mình thành rồng, những con rồng ấy sau 1000 năm bèn mọc tay chân đi lên bờ và biến thành con người. Những người được tiến hóa từ loài rồng đã quần tụ ở mảnh đất của phương Bắc thuộc phía nam sông Trường Giang, về sau, bộ phận những người rồng đã tiến xuống phương Nam phối hôn với những người tiến hóa từ loài chim nên đã hình thành một chủng người mới – người K’Wat, tức người Việt cổ.
4. Kể từ khi người chim xuất hiện 3 vạn năm trước, loài người đã sinh sôi nhiều và tản đi khắp mặt đất, sinh ra các mường khác nhau. Đến quãng 1,5 vạn năm trước, hai hệ rồng–chim đã kết hợp thành giống người mới, họ sống ở phía nam Ngũ Lĩnh và xây dựng các bộ tộc lớn. Có hai vợ chồng sống hàng trăm tuổi, và đã trở thành minh chủ của tất cả các bộ tộc phía Nam này, người chồng đó về sau được xưng hiệu là Thạp Nùng – tức Thần Nông theo cách gọi của người phương Bắc. Con cháu của Thạp Nùng về sau có một chi hệ đã đi về Nam, chi hệ đó được hình tượng hóa thành Kinh Dương Vương theo truyền thuyết của người Kinh.
5. Kinh Dương Vương là sự thần thoại hóa của chi hệ đi về phương Nam cách đây hơn 4,5 nghìn năm về trước. Tuy nhiên, nhân vật lãnh tụ của chi hệ này hoàn toàn không phải như truyền thuyết người Kinh sau này hư cấu. Vị ấy không hề xưng hiệu là Kinh Dương Vương, cũng không hề có quốc hiệu nào gọi là Xích Quỷ. Tất cả đều là sự thêu dệt lầm lẫn. Đây chính là căn cứ quan trọng để tôi có thể quyền phủ nhận và bài bác mọi luận điệu của bác Lâm. Trong tập 1, tôi đã kể cho các bạn cuộc đối thoại giữa tôi và nhân vật bác Lâm ở Gò Vấp. Các kiến thức của bác Lâm, mặc dù là một người uyên bác và lão thành khả kính, nhưng chúng đều là ngụy biện và sai lầm. Sự thật không hề đúng như vậy!
6. Những nhân vật huyền thoại được gán cho danh hiệu Kinh Dương Vương kia cũng không phải là cha của Lạc Long Quân. Chúng ta nên nhớ, người Việt cổ hàng ngàn năm trước chưa có sự ảnh hưởng của văn hóa người Hán, do đó họ không thể có những danh hiệu cho lãnh tụ theo phong cách Hán–Việt như “Kinh Dương Vương” hay “Lạc Long Quân” được. Đó rõ ràng là những danh hiệu ngụy tạo của người Việt thời trung cổ, mãi đến thế kỷ 13-15 mới xuất hiện. “Lạc Long Quân” trong nguyên bản của thần thoại Việt cổ chính là một nhân vật được gọi là CUN THUỒNG LUỒNG. Tuy nhiên, Cun Thuồng Luồng không phải là con của Kinh Dương Vương, vì thời đại mà nhân vật này sống cách thời kỳ của chi hệ “Kinh Dương Vương” những 500 năm. Truyền thuyết người Kinh đã lầm!
7. Cun Thuồng Luồng đã kết hôn với người phụ nữ là dòng dõi của loài tiên chim. Theo thần thoại, tổ tiên của người phụ nữ này là một cặp vợ chồng chim: chồng là chim Ây, vợ là chim Ú, họ giao phối và đẻ ra trăm (hay nghìn) trứng, trứng ấy nở ra người. Những người này kết hợp tên của cha mẹ mình, Ây + Ú = Âu (hay Ôu). Về sau, những người Âu này khi gặp người rồng phương Bắc, họ đã có hai thái độ khác nhau: những người không chịu giao phối với người rồng đã đi lên vùng cao phía bắc tương đương với biên giới Việt Nam–Trung Quốc hiện nay, khoảng các huyện ở tỉnh Quảng Tây, và Cao Bằng, Lạng Sơn để cư trú, họ là tổ tiên của người Tày, người Nùng, người Bố Y, người Choang v.v... Thời xưa, người phương Bắc gọi họ là người Dương Việt, người Âu Việt, người U Việt, người Dạ Lang...; còn những người chim chịu giao phối với người rồng thì ở vùng trung du Bắc Bộ Việt Nam, trong đó người phụ nữ đã kết hôn với Cun Thuồng Luồng. Nàng được người Việt sau này gọi là “Âu Cơ,” tuy nhiên, “Âu Cơ” không phải là tên thật, chỉ là một biệt danh, nó chỉ mang nghĩa là “người con gái của tộc chim Ây Ú.”
8. Vợ chồng Cun Thuồng Luồng và nàng Âu Cơ sau này đã tách riêng ra. Cun Thuồng Luồng đã dẫn theo các con của mình đi về vùng đồng bằng sông Hồng, sau đó ông tiếp tục đi xuống đến khu vực Nghệ An hiện nay và đã qua đời ở đó. Chính vì vậy, mộ phần của nhân vật Lạc Long Quân nhất định phải nằm ở Nghệ An chứ không phải nằm ở Bắc Ninh hay Hà Nam như nhiều người sau này đã ngụy tạo.
9. Âu Cơ sống trên khu vực núi thuộc tỉnh Thái Nguyên và Quảng Ninh. Khác với truyền thuyết người Kinh, vợ chồng Cun Thuồng Luồng không phải là cha mẹ của Hùng Vương. Nhân vật Hùng Vương chỉ xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, cách thời đại của Cun Thuồng Luồng hơn 1,000 năm, do đó thật sai lầm khi nói các vua Hùng đã cai trị “nước Văn Lang” từ sau Lạc Long Quân suốt 2,000 năm. Nhà sử học Trần Trọng Kim đặt nghi vấn hoàn toàn đúng, không thể có một triều đại Hùng Vương kéo dài 2,000 năm với mỗi ông vua cai trị lên đến 150 năm được. Âu Cơ không truyền ngôi cho con trai nào là Hùng Vương cả. Trái lại, bản thân Âu Cơ vừa là một nữ chúa, vừa là một phù thủy. Sau khi chết, người kế thừa Âu Cơ là con gái. Suốt từ thế kỷ 20 cho đến thế kỷ 8 trước Công nguyên, trên lãnh thổ Bắc Bộ Việt Nam không hề có một quốc gia thống nhất nào cả. Mỗi khu vực có những bộ tộc khác nhau cư trú, đứng đầu các bộ tộc này không phải là đàn ông mà là đàn bà. Tín ngưỡng Việt cổ đi theo hình thức mẫu hệ, cho nên những lãnh tụ bộ tộc chính là các bà cốt, hay các “thần nữ.” Các thần nữ này cũng chính là những truyền nhân của tín ngưỡng tôn giáo Việt cổ, là nền tảng để hình thành các pho sử thi thần thoại của Việt Nam thời Đông Sơn sau này.
10. Thời đại Hùng Vương chính là thời đại văn hóa Đông Sơn, chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ 8 tCN, và đúng như huyền thoại đã nói, thời đại này kéo dài với 18 đời lãnh tụ mà người Việt Nam sau này gọi là “Mười tám đời vua Hùng.” Tuy nhiên, điều quan trọng là, 18 đời vua này không thực sự là... “vua” theo ý nghĩa quân chủ phong kiến. 18 vị vua này cũng không phải hoàn toàn là nam giới, trong số đó có 7 vị vua là nữ giới. Đáng chú ý hơn hết, mối quan hệ của mỗi đời vua này đều không phải là cha con. Chế độ Hùng Vương không phải là chế độ quân chủ thế tập “cha truyền con nối,” họ không có bất cứ quan hệ huyết thống nào cả, mà được lên ngôi bằng phương thức... “bầu cử.” Cũng xin tiết lộ thêm, thời kỳ Hùng Vương này cũng không hề có quốc hiệu nào tên là “Văn Lang” cả, đó là một cái tên bịa đặt của thế kỷ 15 tại Việt Nam.
11. Kho tàng tri thức cổ đại và quyền pháp siêu nhiên tâm linh của người Việt cổ đã hun đúc qua các đời, đạt đến thịnh vượng vào thời đại của vị Hùng Vương thứ Sáu – tức là Lang Liêu theo truyền thuyết của người Kinh. Ông vua này không những nổi tiếng với câu chuyện Bánh Chưng Bánh Giầy, mà còn rất nổi tiếng là một vị minh quân, hơn nữa cũng là một phù thủy có quyền lực tối cao, có thể ví von ông giống như vua Solomon của người Do-thái vậy. Ông đã để lại một danh tác mà đến nay bị thất truyền, TLẦY-DHAI-NĂK (Trời Đất Nước), được xem là một cuốn “Bách khoa thư” cổ đại của người Việt cổ, là nòng cốt của hệ kinh điển Hồng Bàng.
12. Thời đại của Hùng Vương thứ Sáu cũng là thời điểm xã hội Việt cổ bước vào một thế kỷ mới – Bình minh của Triết học bừng sáng khắp thế giới, và ánh sáng của nó cũng lan tỏa đến Bắc Bộ Việt Nam. Một phong trào thời đại đã khai sinh tại Việt Nam cổ đại, PHONG TRÀO NGƯỜI SÁNG, xuất hiện những bậc thầy luyện pháp và minh triết với 12 trường phái cổ đại.
13. Chế độ Hùng Vương đến thế kỷ thứ 3 tCN thì suy thoái, xảy ra nội chiến. Vị Hùng Vương thứ 18 đã kết thúc cuộc đời mà Hội đồng các Trưởng lão đã không kịp tiến hành tôn phong cho người kế vị tiếp theo. Lãnh thổ của 15 bộ lạc người Nak bị phân hóa thành các thế lực đánh nhau mà không biết rằng, tai họa từ phương Bắc sắp ập đến. Cuối cùng, 15 bộ lạc của người Nak đã bị quy phục dưới sự chinh chiến của thủ lĩnh người Âu – Sùa Pắn, hay An Dương Vương.
14. An Dương Vương đã thống nhất 9 Nậm của người Âu và 15 Nak của Hùng Vương, cai trị 24 bộ lạc, xây tòa thành Con Ốc (Cổ Loa thành), đáng lý sẽ có công trạng gần giống như Tần Thủy Hoàng của Trung Hoa, nhưng vì chính sách quản trị tồi tệ, xem thường những tập tục và nguyện vọng của các bộ lạc, không biết đoàn kết lòng người, xúc phạm các biểu tượng thần linh của người Nak, làm chia rẽ dân tộc, từ đó dẫn đến sự phản bội của những thành phần bất mãn, cuối cùng đại bại trong tay của người nước Nam Việt.
15. Chúa của người Nam Việt vốn dĩ là người nước Triệu, khác với suy nghĩ của nhiều người Việt Nam hiện nay, Triệu Đà không thừa nhận mình là người Hán (vì ông ta chưa bao giờ xem mình là thần tử của nhà Hán), ông ta chỉ chấp nhận huyết thống của mình là người nước Triệu và có quan hệ bà con xa với Triệu vương thời Xuân Thu–Chiến Quốc. Hơn nữa, ông ta xưng quốc hiệu là Nam Việt, chính chữ “Việt” này đã làm lung lạc người Nak, và họ cho rằng người Nam Việt có lẽ còn tử tế hơn người Âu. Điều này dẫn đến sự thất bại thảm hại của An Dương Vương, và cuối cùng người Nak chịu quy phục Đế quốc Nam Việt.
16. Sự xâm lược của nước Đại Hán đã khiến các dân tộc Âu và Nak nổi dậy chống cự mạnh mẽ. Nhưng người Hán đã khôn khéo học theo cách cai trị của người Nam Việt, chỉ quản lý người Nak trên mặt danh nghĩa, cho phép chế độ tự trị kéo dài hơn một trăm năm. Mâu thuẫn nội bộ của người Nak ngày càng gia tăng, khiến cho văn hóa của họ ngày càng thụt lùi và có nguy cơ bị tiêu ma dưới sức lấn ép của văn hóa phương Bắc.
17. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng không phải là “đền nợ nước, trả thù chồng” như các pho sử diễm tình sau này thêu dệt. Chồng của bà Trưng không hề bị giết trước khởi nghĩa, ông ta sau khởi nghĩa mới bị trúng độc chết. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là nỗ lực phản kháng cuối cùng của văn hóa Việt cổ đối với văn hóa Hán, sự thất bại của nó rốt cuộc đã dẫn đến ba lần đại thảm sát của Mã Viện giết sạch 2/3 người Nak và đem 1/3 số còn lại đồng hóa vào người Hán. Dưới bàn tay sắt máu và tàn ác của người Hán, nền văn hóa Việt cổ với đầy đủ tính văn minh và nhân bản đã bị xóa sạch hoàn toàn, khiến người Việt Nam hiện đại không còn một chút nhận thức gì về sự tồn tại của nó nữa.
18. Các thành phần chủng tộc của người Nak bị phân hóa nghiêm trọng. Trong số 1/3 người Nak còn sống sót, phần lớn họ đã bị dồn vào đồng bằng sống chung với người Hán, trải qua gần 500 năm tủi nhục, họ đã hình thành người Kinh như hiện nay.
 
Nhiều tml cứ nghĩ bọn Tây bị Tàu nó lừa vì đầu tư vào nó để rồi bị copy công nghệ mới hazz :haha: :haha:

Tây nó có ngu và thiểu năng éo đâu .
Nó biết rõ là sẽ bị copy và vấn đề chỉ là sớm hay muộn và bọn nó sẽ được gì sẽ mất gì , tất cả đều có sẵn đáp án hết rồi .
Còn Tàu thì nó bá từ thuở lập quốc rồi , Tây có gì nó có đó .
Nó chỉ thua Tây giai đoạn cách mạng kỹ thuật thế kỷ 18 thôi .
Thực ra là học hỏi lẫn nhau thôi mày, thời kỳ nơi này giàu nơi này nghèo cứ biến đổi qua lại thôi. Chỉ có dân Vẹm từ ngàn đời là đéo có thành tựu gì chỉ biết hưởng sái rồi ngoạc mồm chửi.
 
1. Người Việt cổ, đặc biệt cho đến thời kỳ Văn hóa Đông Sơn, đã kết tập các bộ Sử thi Thần thoại cơ bản thành hình, và đưa ra lý giải về sự hình thành thế giới và con người theo nhãn quan thần thoại của người Việt cổ. Những cư dân của Văn hóa Đông Sơn, còn được gọi là người Nak, đã xây dựng một quốc gia cổ đại từ cách đây hơn 2,700 năm trước.
2. Sử thi của người Việt cổ là có thật, nó đã kể về sự khai thiên lập địa bởi Thần tối cao và tổ chức hệ thống các vị thần. Sử thi Việt cổ đã gần như hoàn thiện “Vạn thần điện” – tức phả hệ các vị thần linh trong huyền thoại cổ đại. Các vị thần đã khai sinh trời đất, tạo ra con người và dựng lên các mường các bản.
3. Theo thần thoại Việt cổ, thuyết tiến hóa được thừa nhận là có tồn tại. Nhưng khác với Darwin cho rằng con người tiến hóa từ loài vượn tối cổ, thần thoại Việt cổ tin rằng con người đầu tiên được tiến hóa từ loài chim cách đây hơn 3 vạn năm trước, nhờ sự thăng hoa và quyền pháp của chư Thần đã ban cho. Những người tiến hóa từ loài chim đã quần tụ ở mảnh đất của phương Nam và kiến lập các thị tộc đầu tiên mà sau này được phiên âm hóa là “Hồng Bàng thị.” Lại nữa, cách đây hơn 1,5 vạn năm trước, Thiên Đế theo thần thoại đã biến những con cá của mình thành rồng, những con rồng ấy sau 1000 năm bèn mọc tay chân đi lên bờ và biến thành con người. Những người được tiến hóa từ loài rồng đã quần tụ ở mảnh đất của phương Bắc thuộc phía nam sông Trường Giang, về sau, bộ phận những người rồng đã tiến xuống phương Nam phối hôn với những người tiến hóa từ loài chim nên đã hình thành một chủng người mới – người K’Wat, tức người Việt cổ.
4. Kể từ khi người chim xuất hiện 3 vạn năm trước, loài người đã sinh sôi nhiều và tản đi khắp mặt đất, sinh ra các mường khác nhau. Đến quãng 1,5 vạn năm trước, hai hệ rồng–chim đã kết hợp thành giống người mới, họ sống ở phía nam Ngũ Lĩnh và xây dựng các bộ tộc lớn. Có hai vợ chồng sống hàng trăm tuổi, và đã trở thành minh chủ của tất cả các bộ tộc phía Nam này, người chồng đó về sau được xưng hiệu là Thạp Nùng – tức Thần Nông theo cách gọi của người phương Bắc. Con cháu của Thạp Nùng về sau có một chi hệ đã đi về Nam, chi hệ đó được hình tượng hóa thành Kinh Dương Vương theo truyền thuyết của người Kinh.
5. Kinh Dương Vương là sự thần thoại hóa của chi hệ đi về phương Nam cách đây hơn 4,5 nghìn năm về trước. Tuy nhiên, nhân vật lãnh tụ của chi hệ này hoàn toàn không phải như truyền thuyết người Kinh sau này hư cấu. Vị ấy không hề xưng hiệu là Kinh Dương Vương, cũng không hề có quốc hiệu nào gọi là Xích Quỷ. Tất cả đều là sự thêu dệt lầm lẫn. Đây chính là căn cứ quan trọng để tôi có thể quyền phủ nhận và bài bác mọi luận điệu của bác Lâm. Trong tập 1, tôi đã kể cho các bạn cuộc đối thoại giữa tôi và nhân vật bác Lâm ở Gò Vấp. Các kiến thức của bác Lâm, mặc dù là một người uyên bác và lão thành khả kính, nhưng chúng đều là ngụy biện và sai lầm. Sự thật không hề đúng như vậy!
6. Những nhân vật huyền thoại được gán cho danh hiệu Kinh Dương Vương kia cũng không phải là cha của Lạc Long Quân. Chúng ta nên nhớ, người Việt cổ hàng ngàn năm trước chưa có sự ảnh hưởng của văn hóa người Hán, do đó họ không thể có những danh hiệu cho lãnh tụ theo phong cách Hán–Việt như “Kinh Dương Vương” hay “Lạc Long Quân” được. Đó rõ ràng là những danh hiệu ngụy tạo của người Việt thời trung cổ, mãi đến thế kỷ 13-15 mới xuất hiện. “Lạc Long Quân” trong nguyên bản của thần thoại Việt cổ chính là một nhân vật được gọi là CUN THUỒNG LUỒNG. Tuy nhiên, Cun Thuồng Luồng không phải là con của Kinh Dương Vương, vì thời đại mà nhân vật này sống cách thời kỳ của chi hệ “Kinh Dương Vương” những 500 năm. Truyền thuyết người Kinh đã lầm!
7. Cun Thuồng Luồng đã kết hôn với người phụ nữ là dòng dõi của loài tiên chim. Theo thần thoại, tổ tiên của người phụ nữ này là một cặp vợ chồng chim: chồng là chim Ây, vợ là chim Ú, họ giao phối và đẻ ra trăm (hay nghìn) trứng, trứng ấy nở ra người. Những người này kết hợp tên của cha mẹ mình, Ây + Ú = Âu (hay Ôu). Về sau, những người Âu này khi gặp người rồng phương Bắc, họ đã có hai thái độ khác nhau: những người không chịu giao phối với người rồng đã đi lên vùng cao phía bắc tương đương với biên giới Việt Nam–Trung Quốc hiện nay, khoảng các huyện ở tỉnh Quảng Tây, và Cao Bằng, Lạng Sơn để cư trú, họ là tổ tiên của người Tày, người Nùng, người Bố Y, người Choang v.v... Thời xưa, người phương Bắc gọi họ là người Dương Việt, người Âu Việt, người U Việt, người Dạ Lang...; còn những người chim chịu giao phối với người rồng thì ở vùng trung du Bắc Bộ Việt Nam, trong đó người phụ nữ đã kết hôn với Cun Thuồng Luồng. Nàng được người Việt sau này gọi là “Âu Cơ,” tuy nhiên, “Âu Cơ” không phải là tên thật, chỉ là một biệt danh, nó chỉ mang nghĩa là “người con gái của tộc chim Ây Ú.”
8. Vợ chồng Cun Thuồng Luồng và nàng Âu Cơ sau này đã tách riêng ra. Cun Thuồng Luồng đã dẫn theo các con của mình đi về vùng đồng bằng sông Hồng, sau đó ông tiếp tục đi xuống đến khu vực Nghệ An hiện nay và đã qua đời ở đó. Chính vì vậy, mộ phần của nhân vật Lạc Long Quân nhất định phải nằm ở Nghệ An chứ không phải nằm ở Bắc Ninh hay Hà Nam như nhiều người sau này đã ngụy tạo.
9. Âu Cơ sống trên khu vực núi thuộc tỉnh Thái Nguyên và Quảng Ninh. Khác với truyền thuyết người Kinh, vợ chồng Cun Thuồng Luồng không phải là cha mẹ của Hùng Vương. Nhân vật Hùng Vương chỉ xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, cách thời đại của Cun Thuồng Luồng hơn 1,000 năm, do đó thật sai lầm khi nói các vua Hùng đã cai trị “nước Văn Lang” từ sau Lạc Long Quân suốt 2,000 năm. Nhà sử học Trần Trọng Kim đặt nghi vấn hoàn toàn đúng, không thể có một triều đại Hùng Vương kéo dài 2,000 năm với mỗi ông vua cai trị lên đến 150 năm được. Âu Cơ không truyền ngôi cho con trai nào là Hùng Vương cả. Trái lại, bản thân Âu Cơ vừa là một nữ chúa, vừa là một phù thủy. Sau khi chết, người kế thừa Âu Cơ là con gái. Suốt từ thế kỷ 20 cho đến thế kỷ 8 trước Công nguyên, trên lãnh thổ Bắc Bộ Việt Nam không hề có một quốc gia thống nhất nào cả. Mỗi khu vực có những bộ tộc khác nhau cư trú, đứng đầu các bộ tộc này không phải là đàn ông mà là đàn bà. Tín ngưỡng Việt cổ đi theo hình thức mẫu hệ, cho nên những lãnh tụ bộ tộc chính là các bà cốt, hay các “thần nữ.” Các thần nữ này cũng chính là những truyền nhân của tín ngưỡng tôn giáo Việt cổ, là nền tảng để hình thành các pho sử thi thần thoại của Việt Nam thời Đông Sơn sau này.
10. Thời đại Hùng Vương chính là thời đại văn hóa Đông Sơn, chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ 8 tCN, và đúng như huyền thoại đã nói, thời đại này kéo dài với 18 đời lãnh tụ mà người Việt Nam sau này gọi là “Mười tám đời vua Hùng.” Tuy nhiên, điều quan trọng là, 18 đời vua này không thực sự là... “vua” theo ý nghĩa quân chủ phong kiến. 18 vị vua này cũng không phải hoàn toàn là nam giới, trong số đó có 7 vị vua là nữ giới. Đáng chú ý hơn hết, mối quan hệ của mỗi đời vua này đều không phải là cha con. Chế độ Hùng Vương không phải là chế độ quân chủ thế tập “cha truyền con nối,” họ không có bất cứ quan hệ huyết thống nào cả, mà được lên ngôi bằng phương thức... “bầu cử.” Cũng xin tiết lộ thêm, thời kỳ Hùng Vương này cũng không hề có quốc hiệu nào tên là “Văn Lang” cả, đó là một cái tên bịa đặt của thế kỷ 15 tại Việt Nam.
11. Kho tàng tri thức cổ đại và quyền pháp siêu nhiên tâm linh của người Việt cổ đã hun đúc qua các đời, đạt đến thịnh vượng vào thời đại của vị Hùng Vương thứ Sáu – tức là Lang Liêu theo truyền thuyết của người Kinh. Ông vua này không những nổi tiếng với câu chuyện Bánh Chưng Bánh Giầy, mà còn rất nổi tiếng là một vị minh quân, hơn nữa cũng là một phù thủy có quyền lực tối cao, có thể ví von ông giống như vua Solomon của người Do-thái vậy. Ông đã để lại một danh tác mà đến nay bị thất truyền, TLẦY-DHAI-NĂK (Trời Đất Nước), được xem là một cuốn “Bách khoa thư” cổ đại của người Việt cổ, là nòng cốt của hệ kinh điển Hồng Bàng.
12. Thời đại của Hùng Vương thứ Sáu cũng là thời điểm xã hội Việt cổ bước vào một thế kỷ mới – Bình minh của Triết học bừng sáng khắp thế giới, và ánh sáng của nó cũng lan tỏa đến Bắc Bộ Việt Nam. Một phong trào thời đại đã khai sinh tại Việt Nam cổ đại, PHONG TRÀO NGƯỜI SÁNG, xuất hiện những bậc thầy luyện pháp và minh triết với 12 trường phái cổ đại.
13. Chế độ Hùng Vương đến thế kỷ thứ 3 tCN thì suy thoái, xảy ra nội chiến. Vị Hùng Vương thứ 18 đã kết thúc cuộc đời mà Hội đồng các Trưởng lão đã không kịp tiến hành tôn phong cho người kế vị tiếp theo. Lãnh thổ của 15 bộ lạc người Nak bị phân hóa thành các thế lực đánh nhau mà không biết rằng, tai họa từ phương Bắc sắp ập đến. Cuối cùng, 15 bộ lạc của người Nak đã bị quy phục dưới sự chinh chiến của thủ lĩnh người Âu – Sùa Pắn, hay An Dương Vương.
14. An Dương Vương đã thống nhất 9 Nậm của người Âu và 15 Nak của Hùng Vương, cai trị 24 bộ lạc, xây tòa thành Con Ốc (Cổ Loa thành), đáng lý sẽ có công trạng gần giống như Tần Thủy Hoàng của Trung Hoa, nhưng vì chính sách quản trị tồi tệ, xem thường những tập tục và nguyện vọng của các bộ lạc, không biết đoàn kết lòng người, xúc phạm các biểu tượng thần linh của người Nak, làm chia rẽ dân tộc, từ đó dẫn đến sự phản bội của những thành phần bất mãn, cuối cùng đại bại trong tay của người nước Nam Việt.
15. Chúa của người Nam Việt vốn dĩ là người nước Triệu, khác với suy nghĩ của nhiều người Việt Nam hiện nay, Triệu Đà không thừa nhận mình là người Hán (vì ông ta chưa bao giờ xem mình là thần tử của nhà Hán), ông ta chỉ chấp nhận huyết thống của mình là người nước Triệu và có quan hệ bà con xa với Triệu vương thời Xuân Thu–Chiến Quốc. Hơn nữa, ông ta xưng quốc hiệu là Nam Việt, chính chữ “Việt” này đã làm lung lạc người Nak, và họ cho rằng người Nam Việt có lẽ còn tử tế hơn người Âu. Điều này dẫn đến sự thất bại thảm hại của An Dương Vương, và cuối cùng người Nak chịu quy phục Đế quốc Nam Việt.
16. Sự xâm lược của nước Đại Hán đã khiến các dân tộc Âu và Nak nổi dậy chống cự mạnh mẽ. Nhưng người Hán đã khôn khéo học theo cách cai trị của người Nam Việt, chỉ quản lý người Nak trên mặt danh nghĩa, cho phép chế độ tự trị kéo dài hơn một trăm năm. Mâu thuẫn nội bộ của người Nak ngày càng gia tăng, khiến cho văn hóa của họ ngày càng thụt lùi và có nguy cơ bị tiêu ma dưới sức lấn ép của văn hóa phương Bắc.
17. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng không phải là “đền nợ nước, trả thù chồng” như các pho sử diễm tình sau này thêu dệt. Chồng của bà Trưng không hề bị giết trước khởi nghĩa, ông ta sau khởi nghĩa mới bị trúng độc chết. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là nỗ lực phản kháng cuối cùng của văn hóa Việt cổ đối với văn hóa Hán, sự thất bại của nó rốt cuộc đã dẫn đến ba lần đại thảm sát của Mã Viện giết sạch 2/3 người Nak và đem 1/3 số còn lại đồng hóa vào người Hán. Dưới bàn tay sắt máu và tàn ác của người Hán, nền văn hóa Việt cổ với đầy đủ tính văn minh và nhân bản đã bị xóa sạch hoàn toàn, khiến người Việt Nam hiện đại không còn một chút nhận thức gì về sự tồn tại của nó nữa.
18. Các thành phần chủng tộc của người Nak bị phân hóa nghiêm trọng. Trong số 1/3 người Nak còn sống sót, phần lớn họ đã bị dồn vào đồng bằng sống chung với người Hán, trải qua gần 500 năm tủi nhục, họ đã hình thành người Kinh như hiện nay.
@C1890
 
Thực ra là học hỏi lẫn nhau thôi mày, thời kỳ nơi này giàu nơi này nghèo cứ biến đổi qua lại thôi. Chỉ có dân Vẹm từ ngàn đời là đéo có thành tựu gì chỉ biết hưởng sái rồi ngoạc mồm chửi.
Thì bản chất của thế giới này là luôn luôn học hỏi và copy lẫn nhau thôi , chả có giề giấu mãi được .
Đặt ra vấn đề copy thì ngày xưa khi bọn Tây nó có cách mạng khoa học kỹ thuật và lúc đó thì bọn Tây lông nó trên trình toàn bộ thế giới , từ vũ khí cho đến khoa học .
Nếu nó có thể giấu kín bí mật thì nó cũng đã giấu chứ ngu gì mà phổ biến đi khắp nơi ?
Vấn đề là éo thể nào giấu được thôi , chỉ là sớm hay muộn sẽ bị copy .
 
1. Người Việt cổ, đặc biệt cho đến thời kỳ Văn hóa Đông Sơn, đã kết tập các bộ Sử thi Thần thoại cơ bản thành hình, và đưa ra lý giải về sự hình thành thế giới và con người theo nhãn quan thần thoại của người Việt cổ. Những cư dân của Văn hóa Đông Sơn, còn được gọi là người Nak, đã xây dựng một quốc gia cổ đại từ cách đây hơn 2,700 năm trước.
2. Sử thi của người Việt cổ là có thật, nó đã kể về sự khai thiên lập địa bởi Thần tối cao và tổ chức hệ thống các vị thần. Sử thi Việt cổ đã gần như hoàn thiện “Vạn thần điện” – tức phả hệ các vị thần linh trong huyền thoại cổ đại. Các vị thần đã khai sinh trời đất, tạo ra con người và dựng lên các mường các bản.
3. Theo thần thoại Việt cổ, thuyết tiến hóa được thừa nhận là có tồn tại. Nhưng khác với Darwin cho rằng con người tiến hóa từ loài vượn tối cổ, thần thoại Việt cổ tin rằng con người đầu tiên được tiến hóa từ loài chim cách đây hơn 3 vạn năm trước, nhờ sự thăng hoa và quyền pháp của chư Thần đã ban cho. Những người tiến hóa từ loài chim đã quần tụ ở mảnh đất của phương Nam và kiến lập các thị tộc đầu tiên mà sau này được phiên âm hóa là “Hồng Bàng thị.” Lại nữa, cách đây hơn 1,5 vạn năm trước, Thiên Đế theo thần thoại đã biến những con cá của mình thành rồng, những con rồng ấy sau 1000 năm bèn mọc tay chân đi lên bờ và biến thành con người. Những người được tiến hóa từ loài rồng đã quần tụ ở mảnh đất của phương Bắc thuộc phía nam sông Trường Giang, về sau, bộ phận những người rồng đã tiến xuống phương Nam phối hôn với những người tiến hóa từ loài chim nên đã hình thành một chủng người mới – người K’Wat, tức người Việt cổ.
4. Kể từ khi người chim xuất hiện 3 vạn năm trước, loài người đã sinh sôi nhiều và tản đi khắp mặt đất, sinh ra các mường khác nhau. Đến quãng 1,5 vạn năm trước, hai hệ rồng–chim đã kết hợp thành giống người mới, họ sống ở phía nam Ngũ Lĩnh và xây dựng các bộ tộc lớn. Có hai vợ chồng sống hàng trăm tuổi, và đã trở thành minh chủ của tất cả các bộ tộc phía Nam này, người chồng đó về sau được xưng hiệu là Thạp Nùng – tức Thần Nông theo cách gọi của người phương Bắc. Con cháu của Thạp Nùng về sau có một chi hệ đã đi về Nam, chi hệ đó được hình tượng hóa thành Kinh Dương Vương theo truyền thuyết của người Kinh.
5. Kinh Dương Vương là sự thần thoại hóa của chi hệ đi về phương Nam cách đây hơn 4,5 nghìn năm về trước. Tuy nhiên, nhân vật lãnh tụ của chi hệ này hoàn toàn không phải như truyền thuyết người Kinh sau này hư cấu. Vị ấy không hề xưng hiệu là Kinh Dương Vương, cũng không hề có quốc hiệu nào gọi là Xích Quỷ. Tất cả đều là sự thêu dệt lầm lẫn. Đây chính là căn cứ quan trọng để tôi có thể quyền phủ nhận và bài bác mọi luận điệu của bác Lâm. Trong tập 1, tôi đã kể cho các bạn cuộc đối thoại giữa tôi và nhân vật bác Lâm ở Gò Vấp. Các kiến thức của bác Lâm, mặc dù là một người uyên bác và lão thành khả kính, nhưng chúng đều là ngụy biện và sai lầm. Sự thật không hề đúng như vậy!
6. Những nhân vật huyền thoại được gán cho danh hiệu Kinh Dương Vương kia cũng không phải là cha của Lạc Long Quân. Chúng ta nên nhớ, người Việt cổ hàng ngàn năm trước chưa có sự ảnh hưởng của văn hóa người Hán, do đó họ không thể có những danh hiệu cho lãnh tụ theo phong cách Hán–Việt như “Kinh Dương Vương” hay “Lạc Long Quân” được. Đó rõ ràng là những danh hiệu ngụy tạo của người Việt thời trung cổ, mãi đến thế kỷ 13-15 mới xuất hiện. “Lạc Long Quân” trong nguyên bản của thần thoại Việt cổ chính là một nhân vật được gọi là CUN THUỒNG LUỒNG. Tuy nhiên, Cun Thuồng Luồng không phải là con của Kinh Dương Vương, vì thời đại mà nhân vật này sống cách thời kỳ của chi hệ “Kinh Dương Vương” những 500 năm. Truyền thuyết người Kinh đã lầm!
7. Cun Thuồng Luồng đã kết hôn với người phụ nữ là dòng dõi của loài tiên chim. Theo thần thoại, tổ tiên của người phụ nữ này là một cặp vợ chồng chim: chồng là chim Ây, vợ là chim Ú, họ giao phối và đẻ ra trăm (hay nghìn) trứng, trứng ấy nở ra người. Những người này kết hợp tên của cha mẹ mình, Ây + Ú = Âu (hay Ôu). Về sau, những người Âu này khi gặp người rồng phương Bắc, họ đã có hai thái độ khác nhau: những người không chịu giao phối với người rồng đã đi lên vùng cao phía bắc tương đương với biên giới Việt Nam–Trung Quốc hiện nay, khoảng các huyện ở tỉnh Quảng Tây, và Cao Bằng, Lạng Sơn để cư trú, họ là tổ tiên của người Tày, người Nùng, người Bố Y, người Choang v.v... Thời xưa, người phương Bắc gọi họ là người Dương Việt, người Âu Việt, người U Việt, người Dạ Lang...; còn những người chim chịu giao phối với người rồng thì ở vùng trung du Bắc Bộ Việt Nam, trong đó người phụ nữ đã kết hôn với Cun Thuồng Luồng. Nàng được người Việt sau này gọi là “Âu Cơ,” tuy nhiên, “Âu Cơ” không phải là tên thật, chỉ là một biệt danh, nó chỉ mang nghĩa là “người con gái của tộc chim Ây Ú.”
8. Vợ chồng Cun Thuồng Luồng và nàng Âu Cơ sau này đã tách riêng ra. Cun Thuồng Luồng đã dẫn theo các con của mình đi về vùng đồng bằng sông Hồng, sau đó ông tiếp tục đi xuống đến khu vực Nghệ An hiện nay và đã qua đời ở đó. Chính vì vậy, mộ phần của nhân vật Lạc Long Quân nhất định phải nằm ở Nghệ An chứ không phải nằm ở Bắc Ninh hay Hà Nam như nhiều người sau này đã ngụy tạo.
9. Âu Cơ sống trên khu vực núi thuộc tỉnh Thái Nguyên và Quảng Ninh. Khác với truyền thuyết người Kinh, vợ chồng Cun Thuồng Luồng không phải là cha mẹ của Hùng Vương. Nhân vật Hùng Vương chỉ xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, cách thời đại của Cun Thuồng Luồng hơn 1,000 năm, do đó thật sai lầm khi nói các vua Hùng đã cai trị “nước Văn Lang” từ sau Lạc Long Quân suốt 2,000 năm. Nhà sử học Trần Trọng Kim đặt nghi vấn hoàn toàn đúng, không thể có một triều đại Hùng Vương kéo dài 2,000 năm với mỗi ông vua cai trị lên đến 150 năm được. Âu Cơ không truyền ngôi cho con trai nào là Hùng Vương cả. Trái lại, bản thân Âu Cơ vừa là một nữ chúa, vừa là một phù thủy. Sau khi chết, người kế thừa Âu Cơ là con gái. Suốt từ thế kỷ 20 cho đến thế kỷ 8 trước Công nguyên, trên lãnh thổ Bắc Bộ Việt Nam không hề có một quốc gia thống nhất nào cả. Mỗi khu vực có những bộ tộc khác nhau cư trú, đứng đầu các bộ tộc này không phải là đàn ông mà là đàn bà. Tín ngưỡng Việt cổ đi theo hình thức mẫu hệ, cho nên những lãnh tụ bộ tộc chính là các bà cốt, hay các “thần nữ.” Các thần nữ này cũng chính là những truyền nhân của tín ngưỡng tôn giáo Việt cổ, là nền tảng để hình thành các pho sử thi thần thoại của Việt Nam thời Đông Sơn sau này.
10. Thời đại Hùng Vương chính là thời đại văn hóa Đông Sơn, chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ 8 tCN, và đúng như huyền thoại đã nói, thời đại này kéo dài với 18 đời lãnh tụ mà người Việt Nam sau này gọi là “Mười tám đời vua Hùng.” Tuy nhiên, điều quan trọng là, 18 đời vua này không thực sự là... “vua” theo ý nghĩa quân chủ phong kiến. 18 vị vua này cũng không phải hoàn toàn là nam giới, trong số đó có 7 vị vua là nữ giới. Đáng chú ý hơn hết, mối quan hệ của mỗi đời vua này đều không phải là cha con. Chế độ Hùng Vương không phải là chế độ quân chủ thế tập “cha truyền con nối,” họ không có bất cứ quan hệ huyết thống nào cả, mà được lên ngôi bằng phương thức... “bầu cử.” Cũng xin tiết lộ thêm, thời kỳ Hùng Vương này cũng không hề có quốc hiệu nào tên là “Văn Lang” cả, đó là một cái tên bịa đặt của thế kỷ 15 tại Việt Nam.
11. Kho tàng tri thức cổ đại và quyền pháp siêu nhiên tâm linh của người Việt cổ đã hun đúc qua các đời, đạt đến thịnh vượng vào thời đại của vị Hùng Vương thứ Sáu – tức là Lang Liêu theo truyền thuyết của người Kinh. Ông vua này không những nổi tiếng với câu chuyện Bánh Chưng Bánh Giầy, mà còn rất nổi tiếng là một vị minh quân, hơn nữa cũng là một phù thủy có quyền lực tối cao, có thể ví von ông giống như vua Solomon của người Do-thái vậy. Ông đã để lại một danh tác mà đến nay bị thất truyền, TLẦY-DHAI-NĂK (Trời Đất Nước), được xem là một cuốn “Bách khoa thư” cổ đại của người Việt cổ, là nòng cốt của hệ kinh điển Hồng Bàng.
12. Thời đại của Hùng Vương thứ Sáu cũng là thời điểm xã hội Việt cổ bước vào một thế kỷ mới – Bình minh của Triết học bừng sáng khắp thế giới, và ánh sáng của nó cũng lan tỏa đến Bắc Bộ Việt Nam. Một phong trào thời đại đã khai sinh tại Việt Nam cổ đại, PHONG TRÀO NGƯỜI SÁNG, xuất hiện những bậc thầy luyện pháp và minh triết với 12 trường phái cổ đại.
13. Chế độ Hùng Vương đến thế kỷ thứ 3 tCN thì suy thoái, xảy ra nội chiến. Vị Hùng Vương thứ 18 đã kết thúc cuộc đời mà Hội đồng các Trưởng lão đã không kịp tiến hành tôn phong cho người kế vị tiếp theo. Lãnh thổ của 15 bộ lạc người Nak bị phân hóa thành các thế lực đánh nhau mà không biết rằng, tai họa từ phương Bắc sắp ập đến. Cuối cùng, 15 bộ lạc của người Nak đã bị quy phục dưới sự chinh chiến của thủ lĩnh người Âu – Sùa Pắn, hay An Dương Vương.
14. An Dương Vương đã thống nhất 9 Nậm của người Âu và 15 Nak của Hùng Vương, cai trị 24 bộ lạc, xây tòa thành Con Ốc (Cổ Loa thành), đáng lý sẽ có công trạng gần giống như Tần Thủy Hoàng của Trung Hoa, nhưng vì chính sách quản trị tồi tệ, xem thường những tập tục và nguyện vọng của các bộ lạc, không biết đoàn kết lòng người, xúc phạm các biểu tượng thần linh của người Nak, làm chia rẽ dân tộc, từ đó dẫn đến sự phản bội của những thành phần bất mãn, cuối cùng đại bại trong tay của người nước Nam Việt.
15. Chúa của người Nam Việt vốn dĩ là người nước Triệu, khác với suy nghĩ của nhiều người Việt Nam hiện nay, Triệu Đà không thừa nhận mình là người Hán (vì ông ta chưa bao giờ xem mình là thần tử của nhà Hán), ông ta chỉ chấp nhận huyết thống của mình là người nước Triệu và có quan hệ bà con xa với Triệu vương thời Xuân Thu–Chiến Quốc. Hơn nữa, ông ta xưng quốc hiệu là Nam Việt, chính chữ “Việt” này đã làm lung lạc người Nak, và họ cho rằng người Nam Việt có lẽ còn tử tế hơn người Âu. Điều này dẫn đến sự thất bại thảm hại của An Dương Vương, và cuối cùng người Nak chịu quy phục Đế quốc Nam Việt.
16. Sự xâm lược của nước Đại Hán đã khiến các dân tộc Âu và Nak nổi dậy chống cự mạnh mẽ. Nhưng người Hán đã khôn khéo học theo cách cai trị của người Nam Việt, chỉ quản lý người Nak trên mặt danh nghĩa, cho phép chế độ tự trị kéo dài hơn một trăm năm. Mâu thuẫn nội bộ của người Nak ngày càng gia tăng, khiến cho văn hóa của họ ngày càng thụt lùi và có nguy cơ bị tiêu ma dưới sức lấn ép của văn hóa phương Bắc.
17. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng không phải là “đền nợ nước, trả thù chồng” như các pho sử diễm tình sau này thêu dệt. Chồng của bà Trưng không hề bị giết trước khởi nghĩa, ông ta sau khởi nghĩa mới bị trúng độc chết. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là nỗ lực phản kháng cuối cùng của văn hóa Việt cổ đối với văn hóa Hán, sự thất bại của nó rốt cuộc đã dẫn đến ba lần đại thảm sát của Mã Viện giết sạch 2/3 người Nak và đem 1/3 số còn lại đồng hóa vào người Hán. Dưới bàn tay sắt máu và tàn ác của người Hán, nền văn hóa Việt cổ với đầy đủ tính văn minh và nhân bản đã bị xóa sạch hoàn toàn, khiến người Việt Nam hiện đại không còn một chút nhận thức gì về sự tồn tại của nó nữa.
18. Các thành phần chủng tộc của người Nak bị phân hóa nghiêm trọng. Trong số 1/3 người Nak còn sống sót, phần lớn họ đã bị dồn vào đồng bằng sống chung với người Hán, trải qua gần 500 năm tủi nhục, họ đã hình thành người Kinh như hiện nay.
@NESTA2810
 
Chúng này nói nhỏ thôi, không mấy thằng rồ Nhật, rồ Âu Mỹ nó lại lôi cái văn “công nghệ lõi” vào bây giờ
 
lai gì đâu , dân tàu từ thời nhà tần nó kéo qua đây 50 vạn cũng 2600 năm rồi , tính ra tao gốc tàu luôn ớ , cái gia phả thời vu Lê sắc phong cho ông kị nhà tao làm tri Phủ còn luôn . Ngày xưa quan lại TQ bị lưu đày là toàn về xứ Nam Man chứ đi đâu , trốn nã cũng qua VN suốt mà nói chi xa , bây giờ cũng y vậy. Dân mình thì đấm nhau giỏi cũng có cái máu chiếm đất tằm ăn dâu học từ A 2 Trung Quốc chứ học ai , đến thời chúa Nguyễn thì gia tộc nhà tao vẫn làm quan làm tướng ,mãi tới thời 1930 thì lại làm cách mệnh
Vương bột viết bài Đằng vương các nổi tiếng thời đường qua thăm cha ở nghệ an mà chết đuối đây.
 
Bọn Tây nó cho mày copy công nghệ thoải mái
Nhưng mày muốn dùng công nghệ của nó để kiếm tiền thì phải trả phí patent.

Còn trò của Tàu là spam sản phẩm đời cũ với số lượng lớn.
Ví dụ như trò sản xuất tấm panels với điện thoại, tivi, tủ lạnh, điều hoà.

Còn vì sao Việt Nam đéo làm được như Tàu?
Vì Việt Nam ngu si đần độn.
 
dân mình là dân lai tạp của bọn Tàu dạt và bọn mường mán cổ , do đó tố chất kém hơn rất nhiều so với bọn hàng xịn .
Về cơ bản thì dân ta lười làm , lười suy nghĩ sâu , sáng tạo , học hỏi và copy .
Mày cứ nhìn suốt chiều dài lịch sử cho đến bây giờ thì sẽ thấy rất rõ .
Mặc dù ở gần Tàu nhưng chả học được cái lol gì ngoài dăm ba cái Nho giáo vớ vẩn .
Nó thì làm Binh Mã Dõng , Vạn Lý trường thành , từ cách đây 2000 năm .
Ta thì nhìn cái chùa một cột thôi là đủ hiểu được tầm vóc nó tủn mủn như thế nào
Lai bọn Nam Man thôi đ có Hán
 
DÂN AN NAM MÍT NGU VÌ THEO TÀU +

TÀU + Ở SÁT ĐÍT NGU GÌ BUFF VN , BUFF XONG LÀM PHẢN THÌ SAO

MỸ Ở XA BUFF VIỆT + MẠNH THÌ NÓ CÀNG SƯỚNG NHƯNG BẢN CHẤT VIỆT + TUỒN CÔNG NGHỆ CHO TÀU +

CHO NÊN XÓA CHẾ ĐỘ NÀY THÌ MAY RA

NÓ BUFF TẬN RĂNG NHƯ HÀN XẺNG . HẾT
 
1. Người Việt cổ, đặc biệt cho đến thời kỳ Văn hóa Đông Sơn, đã kết tập các bộ Sử thi Thần thoại cơ bản thành hình, và đưa ra lý giải về sự hình thành thế giới và con người theo nhãn quan thần thoại của người Việt cổ. Những cư dân của Văn hóa Đông Sơn, còn được gọi là người Nak, đã xây dựng một quốc gia cổ đại từ cách đây hơn 2,700 năm trước.
2. Sử thi của người Việt cổ là có thật, nó đã kể về sự khai thiên lập địa bởi Thần tối cao và tổ chức hệ thống các vị thần. Sử thi Việt cổ đã gần như hoàn thiện “Vạn thần điện” – tức phả hệ các vị thần linh trong huyền thoại cổ đại. Các vị thần đã khai sinh trời đất, tạo ra con người và dựng lên các mường các bản.
3. Theo thần thoại Việt cổ, thuyết tiến hóa được thừa nhận là có tồn tại. Nhưng khác với Darwin cho rằng con người tiến hóa từ loài vượn tối cổ, thần thoại Việt cổ tin rằng con người đầu tiên được tiến hóa từ loài chim cách đây hơn 3 vạn năm trước, nhờ sự thăng hoa và quyền pháp của chư Thần đã ban cho. Những người tiến hóa từ loài chim đã quần tụ ở mảnh đất của phương Nam và kiến lập các thị tộc đầu tiên mà sau này được phiên âm hóa là “Hồng Bàng thị.” Lại nữa, cách đây hơn 1,5 vạn năm trước, Thiên Đế theo thần thoại đã biến những con cá của mình thành rồng, những con rồng ấy sau 1000 năm bèn mọc tay chân đi lên bờ và biến thành con người. Những người được tiến hóa từ loài rồng đã quần tụ ở mảnh đất của phương Bắc thuộc phía nam sông Trường Giang, về sau, bộ phận những người rồng đã tiến xuống phương Nam phối hôn với những người tiến hóa từ loài chim nên đã hình thành một chủng người mới – người K’Wat, tức người Việt cổ.
4. Kể từ khi người chim xuất hiện 3 vạn năm trước, loài người đã sinh sôi nhiều và tản đi khắp mặt đất, sinh ra các mường khác nhau. Đến quãng 1,5 vạn năm trước, hai hệ rồng–chim đã kết hợp thành giống người mới, họ sống ở phía nam Ngũ Lĩnh và xây dựng các bộ tộc lớn. Có hai vợ chồng sống hàng trăm tuổi, và đã trở thành minh chủ của tất cả các bộ tộc phía Nam này, người chồng đó về sau được xưng hiệu là Thạp Nùng – tức Thần Nông theo cách gọi của người phương Bắc. Con cháu của Thạp Nùng về sau có một chi hệ đã đi về Nam, chi hệ đó được hình tượng hóa thành Kinh Dương Vương theo truyền thuyết của người Kinh.
5. Kinh Dương Vương là sự thần thoại hóa của chi hệ đi về phương Nam cách đây hơn 4,5 nghìn năm về trước. Tuy nhiên, nhân vật lãnh tụ của chi hệ này hoàn toàn không phải như truyền thuyết người Kinh sau này hư cấu. Vị ấy không hề xưng hiệu là Kinh Dương Vương, cũng không hề có quốc hiệu nào gọi là Xích Quỷ. Tất cả đều là sự thêu dệt lầm lẫn. Đây chính là căn cứ quan trọng để tôi có thể quyền phủ nhận và bài bác mọi luận điệu của bác Lâm. Trong tập 1, tôi đã kể cho các bạn cuộc đối thoại giữa tôi và nhân vật bác Lâm ở Gò Vấp. Các kiến thức của bác Lâm, mặc dù là một người uyên bác và lão thành khả kính, nhưng chúng đều là ngụy biện và sai lầm. Sự thật không hề đúng như vậy!
6. Những nhân vật huyền thoại được gán cho danh hiệu Kinh Dương Vương kia cũng không phải là cha của Lạc Long Quân. Chúng ta nên nhớ, người Việt cổ hàng ngàn năm trước chưa có sự ảnh hưởng của văn hóa người Hán, do đó họ không thể có những danh hiệu cho lãnh tụ theo phong cách Hán–Việt như “Kinh Dương Vương” hay “Lạc Long Quân” được. Đó rõ ràng là những danh hiệu ngụy tạo của người Việt thời trung cổ, mãi đến thế kỷ 13-15 mới xuất hiện. “Lạc Long Quân” trong nguyên bản của thần thoại Việt cổ chính là một nhân vật được gọi là CUN THUỒNG LUỒNG. Tuy nhiên, Cun Thuồng Luồng không phải là con của Kinh Dương Vương, vì thời đại mà nhân vật này sống cách thời kỳ của chi hệ “Kinh Dương Vương” những 500 năm. Truyền thuyết người Kinh đã lầm!
7. Cun Thuồng Luồng đã kết hôn với người phụ nữ là dòng dõi của loài tiên chim. Theo thần thoại, tổ tiên của người phụ nữ này là một cặp vợ chồng chim: chồng là chim Ây, vợ là chim Ú, họ giao phối và đẻ ra trăm (hay nghìn) trứng, trứng ấy nở ra người. Những người này kết hợp tên của cha mẹ mình, Ây + Ú = Âu (hay Ôu). Về sau, những người Âu này khi gặp người rồng phương Bắc, họ đã có hai thái độ khác nhau: những người không chịu giao phối với người rồng đã đi lên vùng cao phía bắc tương đương với biên giới Việt Nam–Trung Quốc hiện nay, khoảng các huyện ở tỉnh Quảng Tây, và Cao Bằng, Lạng Sơn để cư trú, họ là tổ tiên của người Tày, người Nùng, người Bố Y, người Choang v.v... Thời xưa, người phương Bắc gọi họ là người Dương Việt, người Âu Việt, người U Việt, người Dạ Lang...; còn những người chim chịu giao phối với người rồng thì ở vùng trung du Bắc Bộ Việt Nam, trong đó người phụ nữ đã kết hôn với Cun Thuồng Luồng. Nàng được người Việt sau này gọi là “Âu Cơ,” tuy nhiên, “Âu Cơ” không phải là tên thật, chỉ là một biệt danh, nó chỉ mang nghĩa là “người con gái của tộc chim Ây Ú.”
8. Vợ chồng Cun Thuồng Luồng và nàng Âu Cơ sau này đã tách riêng ra. Cun Thuồng Luồng đã dẫn theo các con của mình đi về vùng đồng bằng sông Hồng, sau đó ông tiếp tục đi xuống đến khu vực Nghệ An hiện nay và đã qua đời ở đó. Chính vì vậy, mộ phần của nhân vật Lạc Long Quân nhất định phải nằm ở Nghệ An chứ không phải nằm ở Bắc Ninh hay Hà Nam như nhiều người sau này đã ngụy tạo.
9. Âu Cơ sống trên khu vực núi thuộc tỉnh Thái Nguyên và Quảng Ninh. Khác với truyền thuyết người Kinh, vợ chồng Cun Thuồng Luồng không phải là cha mẹ của Hùng Vương. Nhân vật Hùng Vương chỉ xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, cách thời đại của Cun Thuồng Luồng hơn 1,000 năm, do đó thật sai lầm khi nói các vua Hùng đã cai trị “nước Văn Lang” từ sau Lạc Long Quân suốt 2,000 năm. Nhà sử học Trần Trọng Kim đặt nghi vấn hoàn toàn đúng, không thể có một triều đại Hùng Vương kéo dài 2,000 năm với mỗi ông vua cai trị lên đến 150 năm được. Âu Cơ không truyền ngôi cho con trai nào là Hùng Vương cả. Trái lại, bản thân Âu Cơ vừa là một nữ chúa, vừa là một phù thủy. Sau khi chết, người kế thừa Âu Cơ là con gái. Suốt từ thế kỷ 20 cho đến thế kỷ 8 trước Công nguyên, trên lãnh thổ Bắc Bộ Việt Nam không hề có một quốc gia thống nhất nào cả. Mỗi khu vực có những bộ tộc khác nhau cư trú, đứng đầu các bộ tộc này không phải là đàn ông mà là đàn bà. Tín ngưỡng Việt cổ đi theo hình thức mẫu hệ, cho nên những lãnh tụ bộ tộc chính là các bà cốt, hay các “thần nữ.” Các thần nữ này cũng chính là những truyền nhân của tín ngưỡng tôn giáo Việt cổ, là nền tảng để hình thành các pho sử thi thần thoại của Việt Nam thời Đông Sơn sau này.
10. Thời đại Hùng Vương chính là thời đại văn hóa Đông Sơn, chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ 8 tCN, và đúng như huyền thoại đã nói, thời đại này kéo dài với 18 đời lãnh tụ mà người Việt Nam sau này gọi là “Mười tám đời vua Hùng.” Tuy nhiên, điều quan trọng là, 18 đời vua này không thực sự là... “vua” theo ý nghĩa quân chủ phong kiến. 18 vị vua này cũng không phải hoàn toàn là nam giới, trong số đó có 7 vị vua là nữ giới. Đáng chú ý hơn hết, mối quan hệ của mỗi đời vua này đều không phải là cha con. Chế độ Hùng Vương không phải là chế độ quân chủ thế tập “cha truyền con nối,” họ không có bất cứ quan hệ huyết thống nào cả, mà được lên ngôi bằng phương thức... “bầu cử.” Cũng xin tiết lộ thêm, thời kỳ Hùng Vương này cũng không hề có quốc hiệu nào tên là “Văn Lang” cả, đó là một cái tên bịa đặt của thế kỷ 15 tại Việt Nam.
11. Kho tàng tri thức cổ đại và quyền pháp siêu nhiên tâm linh của người Việt cổ đã hun đúc qua các đời, đạt đến thịnh vượng vào thời đại của vị Hùng Vương thứ Sáu – tức là Lang Liêu theo truyền thuyết của người Kinh. Ông vua này không những nổi tiếng với câu chuyện Bánh Chưng Bánh Giầy, mà còn rất nổi tiếng là một vị minh quân, hơn nữa cũng là một phù thủy có quyền lực tối cao, có thể ví von ông giống như vua Solomon của người Do-thái vậy. Ông đã để lại một danh tác mà đến nay bị thất truyền, TLẦY-DHAI-NĂK (Trời Đất Nước), được xem là một cuốn “Bách khoa thư” cổ đại của người Việt cổ, là nòng cốt của hệ kinh điển Hồng Bàng.
12. Thời đại của Hùng Vương thứ Sáu cũng là thời điểm xã hội Việt cổ bước vào một thế kỷ mới – Bình minh của Triết học bừng sáng khắp thế giới, và ánh sáng của nó cũng lan tỏa đến Bắc Bộ Việt Nam. Một phong trào thời đại đã khai sinh tại Việt Nam cổ đại, PHONG TRÀO NGƯỜI SÁNG, xuất hiện những bậc thầy luyện pháp và minh triết với 12 trường phái cổ đại.
13. Chế độ Hùng Vương đến thế kỷ thứ 3 tCN thì suy thoái, xảy ra nội chiến. Vị Hùng Vương thứ 18 đã kết thúc cuộc đời mà Hội đồng các Trưởng lão đã không kịp tiến hành tôn phong cho người kế vị tiếp theo. Lãnh thổ của 15 bộ lạc người Nak bị phân hóa thành các thế lực đánh nhau mà không biết rằng, tai họa từ phương Bắc sắp ập đến. Cuối cùng, 15 bộ lạc của người Nak đã bị quy phục dưới sự chinh chiến của thủ lĩnh người Âu – Sùa Pắn, hay An Dương Vương.
14. An Dương Vương đã thống nhất 9 Nậm của người Âu và 15 Nak của Hùng Vương, cai trị 24 bộ lạc, xây tòa thành Con Ốc (Cổ Loa thành), đáng lý sẽ có công trạng gần giống như Tần Thủy Hoàng của Trung Hoa, nhưng vì chính sách quản trị tồi tệ, xem thường những tập tục và nguyện vọng của các bộ lạc, không biết đoàn kết lòng người, xúc phạm các biểu tượng thần linh của người Nak, làm chia rẽ dân tộc, từ đó dẫn đến sự phản bội của những thành phần bất mãn, cuối cùng đại bại trong tay của người nước Nam Việt.
15. Chúa của người Nam Việt vốn dĩ là người nước Triệu, khác với suy nghĩ của nhiều người Việt Nam hiện nay, Triệu Đà không thừa nhận mình là người Hán (vì ông ta chưa bao giờ xem mình là thần tử của nhà Hán), ông ta chỉ chấp nhận huyết thống của mình là người nước Triệu và có quan hệ bà con xa với Triệu vương thời Xuân Thu–Chiến Quốc. Hơn nữa, ông ta xưng quốc hiệu là Nam Việt, chính chữ “Việt” này đã làm lung lạc người Nak, và họ cho rằng người Nam Việt có lẽ còn tử tế hơn người Âu. Điều này dẫn đến sự thất bại thảm hại của An Dương Vương, và cuối cùng người Nak chịu quy phục Đế quốc Nam Việt.
16. Sự xâm lược của nước Đại Hán đã khiến các dân tộc Âu và Nak nổi dậy chống cự mạnh mẽ. Nhưng người Hán đã khôn khéo học theo cách cai trị của người Nam Việt, chỉ quản lý người Nak trên mặt danh nghĩa, cho phép chế độ tự trị kéo dài hơn một trăm năm. Mâu thuẫn nội bộ của người Nak ngày càng gia tăng, khiến cho văn hóa của họ ngày càng thụt lùi và có nguy cơ bị tiêu ma dưới sức lấn ép của văn hóa phương Bắc.
17. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng không phải là “đền nợ nước, trả thù chồng” như các pho sử diễm tình sau này thêu dệt. Chồng của bà Trưng không hề bị giết trước khởi nghĩa, ông ta sau khởi nghĩa mới bị trúng độc chết. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là nỗ lực phản kháng cuối cùng của văn hóa Việt cổ đối với văn hóa Hán, sự thất bại của nó rốt cuộc đã dẫn đến ba lần đại thảm sát của Mã Viện giết sạch 2/3 người Nak và đem 1/3 số còn lại đồng hóa vào người Hán. Dưới bàn tay sắt máu và tàn ác của người Hán, nền văn hóa Việt cổ với đầy đủ tính văn minh và nhân bản đã bị xóa sạch hoàn toàn, khiến người Việt Nam hiện đại không còn một chút nhận thức gì về sự tồn tại của nó nữa.
18. Các thành phần chủng tộc của người Nak bị phân hóa nghiêm trọng. Trong số 1/3 người Nak còn sống sót, phần lớn họ đã bị dồn vào đồng bằng sống chung với người Hán, trải qua gần 500 năm tủi nhục, họ đã hình thành người Kinh như hiện nay.
Trc tao coi phóng sự về người Tày thì dân Tày xưa có 9 động chúa, 1 thũ lĩnh mạnh mẽ đã thống nhất đc 9 động chúa đó
 

Có thể bạn quan tâm

Top