PacToLam
Thanh niên hoi
Mô tả người An Nam xưa
---------------------------------------------------------------
Ghi chép về Việt Nam trong Thanh Triều Văn Hiến Thông Khảo (mình lược những đoạn liệt kê, chỉ giữ phong tục)
"Trị sở của nước ở Giao Châu, cách kinh sư 11.165 dặm, tức trị sở Đô hộ thời Đường. Quận huyện chia làm 13 đạo, đạo chia ra 13 Thừa chính ty là An Bang, Hải Dương, Sơn Nam, Kinh Bắc, Sơn Tây, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Minh Quang, Hưng Hóa, Thanh Hoa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam.
……
Hình thế nước ấy một dải phía đông nam đều là biển, có thành Vọng Hải. Phục Ba tướng quân Mã Viện nhà Hán xác lập ranh giới, tây giáp Nam Chưởng, bắc giáp Quảng Tây, đông bắc giáp Quảng Đông, dọc biên giới đều có núi cao khe sâu, rừng rú kéo dài tới Đại Lạc Kháo lĩnh, Tiểu Lạc Kháo lĩnh. Quỉ Môn quan, La Bà, La Ông Lệ lĩnh càng là nơi hiểm yếu trong nước.
Giao Châu chỉ dựa vào sông Phú Lương làm nơi hiểm trở trời cho. Sông rộng hai ba dặm, nước đục ngầu, một nhánh từ Diến Điện theo Hưng Hóa qua phủ Gia Hưng chảy tới, một nhánh từ Vân Nam nên to dần, từ tây qua đông, qua phía bắc Giao Châu chuyển qua hướng đông nam chảy ra biển.
Trong nước có tất cả hơn hai trăm châu huyện, từ đông sang tây 1.760 dặm, từ nam lên bắc 2.800 dặm. Đó là toàn cõi An Nam.
Vua họ Lê, quê tổ ở Thanh Hoa, làm vua An Nam, đóng đô ở Thanh Hoa. Kế nhân Giao Châu là nơi nhiều đời đóng để giữ chỗ hiểm yếu, lại có mối lợi thông thương ra biển mới bắt đầu dời ra đóng đô ở đó (giai đoạn này nhà Lê thắng nhà Mạc chiếm lại Thăng Long).
Trong nước không có thành trì, người ở đông đúc, địa thế bằng phẳng, đưa mắt nhìn ra là thấy ruộng vườn thôn xóm đan nhau như răng lược, người đông đất ít. Châu huyện trong toàn cõi chẳng qua chỉ là đủ số mà thôi. Thời Đường đầu niên hiệu Điều Lộ (679 - 680) đặt An Nam Đô hộ phủ, bắt đầu có tên An Nam. Đầu niên hiệu Chí Đức (756 - 758) đổi là Trấn Nam, trong niên hiệu Đại Lịch (766 - 779) lại lấy lại tên An Nam. Phàm quốc vương nối ngôi đều sai bồi thần qua xin mệnh triều đình, sai chánh phó sứ mang sắc qua phong, ban cho ấn bạc mạ vàng khắc chữ An Nam quốc vương.
Trong nước ấy quan chế văn vũ hơi giống Trung Quốc, có đặt các nha môn các, bộ, khanh, tự, Hàn lâm, Khoa đạo. Đô sát viện gọi là Ngự sử đài, chức chưởng quan trọng nhất. Ở ngoài đặt Thừa chính ty, Hiến sát sứ ty, có các quan Thừa chính sứ, Hiến sát sứ, Tham chính, Tham nghị. Phủ châu huyện đều có chánh phó đứng đầu, cũng có khi do bộ tuyển, cũng có khi là thế tập giữ đất. Trong triều đặt Ngũ quân Đô đốc phủ, không thống thuộc nhau, ngoài đặt Đề đốc lãnh việc quân một phương, Lưu thủ lãnh việc quân một đạo kiêm quản việc thu thuế muối, cho văn chức tiết chế. Văn chức theo xuất thân mà thăng bổ, vũ chức không có khoa giáp, phần nhiều lấy những người được thế tập năm tước (tức công, hầu, bá, tử, nam, cùng với vương) sung vào. Nếu xứng chức có công thì thăng Lưu thủ, Đề đốc, Đô đốc, đi nhận chức vẫn lấy một người con em hay cháu sung giữ chức cũ. Nếu kém cỏi có tội thì giáng tước cách chức, không được thế tập giữ đất nữa.
Khảo thí cũng ba năm một lần đại tỷ, có bốn trường, Nhất trường thi Kinh nghĩa, Nhị trường thi văn Biền thể, Tam trường thi Thơ, Tứ trường thi Văn sách. Người trúng Tam trường là Sinh đồ, tức Sinh viên, người trúng Tứ trường là Cống sinh, tức Cử nhân. Không có định ngạch, đại khái mười người lấy một. Thi Hội người trúng Tứ trường là Tiến sỹ, cũng không có định ngạch. Thi Đình cũng lấy đối sách định thứ bậc. Chỗ thi không có phòng ốc, mỗi người lấy cái lồng tre úp lên rồi nằm phục xuống đất mà viết.
Trong nước quân binh đều được miễn thuế đinh và dao dịch, theo tháng cấp cho lương hướng. Quân chia ra quân thủy quân bộ, không chia ra quân chiến quân thủ. Quân lấy voi làm trọng, mỗi con voi có 250 quân, có một Chánh tượng nô, hai Phó tượng nô, số quân binh còn lại chia ra cầm hỏa khí đao thương. Hành quân thì đi theo thứ tự trước sau, giao chiến thì bày ra hai cánh tả hữu. Phàm những nơi biên giới cửa ải và quận huyện xung yếu đều phát voi trấn giữ.
Mũ áo. Văn chức đội mũ the, mặc áo cổ tròn, đeo đai lưng, đi giày, lúc bình thời dùng mão cao bằng đoạn đen, mặc áo bào ống tay rộng bằng vải xanh. Vũ chức không đội mão the, mặc áo cổ tròn. Ngày triều hạ dùng mão Đà la ni màu hồng, áo bào ống tay rộng bằng đoạn các màu, vải choàng vai Đà la ni màu hồng hoặc bổ phục thêu hình hổ, báo, voi. Bình thời dùng mão xanh áo xanh, giày và quần đều không phải là vật ưa thích, lúc nhàn cư thường cởi ra. Đi lại hoặc cưỡi ngựa hoặc cưỡi voi, đi võng thì nằm ngửa, hoặc đi kiệu, hình thù như cái xe không có bánh, trên có chiếu mây sơn đen, cúi người chui vào, hoặc nằm hoặc ngồi xếp bằng. Những người hộ vệ và phu khiêng kiệu của quốc vương áo mão hơi giống với vũ chức.
Bổng lộc ấn theo phẩm trật mà cấp. Có định ngạch cấp ruộng, người không được cấp ruộng thì cấp gạo, nhà thế tập có đất thì không cấp nữa.
Binh chế không có các loại pháo lớn nhỏ, đội khăn Đà la ni thêm mão, gọi là khôi giáp. Có súng cách sơn, súng chim, đao cán dài, đao cán ngắn, thương dài, lao, giáp mây, tên lửa.
Việc hình danh lúc đầu không có phép tắc nhất định, thời Minh đặt chức Bố chánh Án sát mới ban hành điều luật, chỉ biết đại khái, nên ra vào phần nhiều không đúng.
Tiền lúa có thuế đất, thuế đinh, thuế muối, thuế buôn. Ruộng chia làm ba hạng thượng trung hạ, thượng đẳng thì mười phần thóc thu ba phần, trung đẳng thu hai phần, hạ đẳng thu một phần. Thuế đinh mỗi người nộp 1 quan tiền, đều theo lúc được mùa mất mùa mà thành nặng nhẹ.
Cưới gả cũng dùng mai mối, đem tiền bạc, trầu cau, heo, dê, rượu đưa tới nhà gái, rồi nhà trai tùy ý lãnh cô gái về là xong. Người nghèo không thể sắm sửa lễ vật thì trai gái thích nhau là thành vợ chồng. Không tỵ hiềm chuyện cùng họ, vì có ít họ nên như thế.
Việc táng tế phần nhiều theo lễ Văn công (tức Chu Hy). Tin sùng phong thủy, cấm không cho quan dân chọn đất và chôn cất trên núi, nên đều chôn ở ruộng. Nhà phú hào che nhà lợp tranh lên trên, lâu ngày trở thành bằng phẳng. Duy quốc vương và Phụ chính họ Trịnh chôn cất ắt tìm đất, tới như kẻ có quyền có khi cũng lén tìm đất, bị lộ cũng san cho bằng phẳng.
Sùng thượng Nho giáo, Giao Châu có trường quốc học và Văn miếu, các quận huyện đều xây nhà văn chỉ (nguyên bản là "Học tế"), tế tự phối hưởng cũng đầy đủ như Trung Quốc. Cũng có người theo đạo Phật, đạo Lão nhưng không quá tôn sùng.
Gặp ngày tiết thì lấy tiếng đón rước Thần Phật, trai gái hội họp cả chục ngày chưa thôi. Trai gái đều xõa tóc đi chân không, mặc áo hoặc bằng vải hoặc bằng the, phần nhiều dùng màu trắng. Nam giới dùng vải buộc lưng, từ xương cùng xỏ qua phía trước người buộc lại, phụ nữ dùng the vải trắng bó ngực. Đứng thường khoanh tay, vào mâm thường ngồi xếp bằng. Từ nhỏ đã ăn trầu, tiếp khách cũng dùng, nên răng đều đen. Bình thời không đội mũ, nhưng ra ngoài bất kể trời râm hay tạnh cũng đều đội nón tre. Yết kiến kẻ tôn quí thì quì gối vái ba vái, tình cờ gặp nhau ắt bỏ nón xõa tóc, nếu không sẽ bị coi là bất kính. Nhưng ở xen lẫn với người Lão (dân tộc ít người nói chung), nên tính hời hợt hung hãn, coi giàu có là anh hùng, lấn hiếp kẻ nghèo, bắt người cướp của không hề úy kỵ. Duy người Giao Châu và Ái Châu phong lưu túc trí, người Hoan Châu và Diễn Châu tuấn tú hiếu học. Giao Châu là quốc đô, đất thuộc Thừa chính ty An Bang, Ái Châu thuộc Thừa chính ty Thanh Hoa, Hoan Châu và Diễn Châu thuộc Thừa chính ty Nghệ An.
Về nhà cửa, duy vương phủ, nhà của Phụ chính và miếu mạo dùng ngói màu tía vàng lợp lên như vảy cá, còn lại đều là nhà tranh.
Trong nước việc cày ruộng trồng dâu rất thịnh, lúa có ba loại, nuôi tằm thì ai cũng làm không chia sang hèn. Trước kia không biết trồng lúa mạch, nay đã có rồi. Đậu gai đầy đồng, có nhiều mối lợi cá muối. Vật quí thì có vàng, ngọc trai, san hô, đồi mồi, khánh đá, hỏa tề, đan sa. Hương thì có trầm hương, tốc hương, an hương, tức hương, kê thiệt, đô lương. Chim thú thì có chim trả, trĩ trắng, gà nước, tê giác, voi, hươu, tê giác cái, đười ươi, phất phất, quả nhiên, hợp, liêu, quyết, trâu, đường ngưu, quả hạ ngưu, cư phong vô, rết lớn, chuột bay đỏ, linh dương Mông Quí. Cây trái thì có cau, dừa, chuối, xoài, mít, mía, lựu, tiểu đào, cam, quít, hồng, thị, can tuế tử, cửu tằng bì, thạch lật, như hà ô mộc, tô mộc, tha luân mộc, từ la lặc nhưng mộc, cổ độ, cây gạo. Còn lại thì cây tạp thành rừng nhưng ít gỗ tốt, cây đa là nhiều nhất. Ngoài ra như đậu ván, bầu, cà tuy mùa đông cũng không tàn úa.
....."
---------------------------------------------------------------
Ghi chép về Việt Nam trong Thanh Triều Văn Hiến Thông Khảo (mình lược những đoạn liệt kê, chỉ giữ phong tục)
"Trị sở của nước ở Giao Châu, cách kinh sư 11.165 dặm, tức trị sở Đô hộ thời Đường. Quận huyện chia làm 13 đạo, đạo chia ra 13 Thừa chính ty là An Bang, Hải Dương, Sơn Nam, Kinh Bắc, Sơn Tây, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Minh Quang, Hưng Hóa, Thanh Hoa, Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam.
……
Hình thế nước ấy một dải phía đông nam đều là biển, có thành Vọng Hải. Phục Ba tướng quân Mã Viện nhà Hán xác lập ranh giới, tây giáp Nam Chưởng, bắc giáp Quảng Tây, đông bắc giáp Quảng Đông, dọc biên giới đều có núi cao khe sâu, rừng rú kéo dài tới Đại Lạc Kháo lĩnh, Tiểu Lạc Kháo lĩnh. Quỉ Môn quan, La Bà, La Ông Lệ lĩnh càng là nơi hiểm yếu trong nước.
Giao Châu chỉ dựa vào sông Phú Lương làm nơi hiểm trở trời cho. Sông rộng hai ba dặm, nước đục ngầu, một nhánh từ Diến Điện theo Hưng Hóa qua phủ Gia Hưng chảy tới, một nhánh từ Vân Nam nên to dần, từ tây qua đông, qua phía bắc Giao Châu chuyển qua hướng đông nam chảy ra biển.
Trong nước có tất cả hơn hai trăm châu huyện, từ đông sang tây 1.760 dặm, từ nam lên bắc 2.800 dặm. Đó là toàn cõi An Nam.
Vua họ Lê, quê tổ ở Thanh Hoa, làm vua An Nam, đóng đô ở Thanh Hoa. Kế nhân Giao Châu là nơi nhiều đời đóng để giữ chỗ hiểm yếu, lại có mối lợi thông thương ra biển mới bắt đầu dời ra đóng đô ở đó (giai đoạn này nhà Lê thắng nhà Mạc chiếm lại Thăng Long).
Trong nước không có thành trì, người ở đông đúc, địa thế bằng phẳng, đưa mắt nhìn ra là thấy ruộng vườn thôn xóm đan nhau như răng lược, người đông đất ít. Châu huyện trong toàn cõi chẳng qua chỉ là đủ số mà thôi. Thời Đường đầu niên hiệu Điều Lộ (679 - 680) đặt An Nam Đô hộ phủ, bắt đầu có tên An Nam. Đầu niên hiệu Chí Đức (756 - 758) đổi là Trấn Nam, trong niên hiệu Đại Lịch (766 - 779) lại lấy lại tên An Nam. Phàm quốc vương nối ngôi đều sai bồi thần qua xin mệnh triều đình, sai chánh phó sứ mang sắc qua phong, ban cho ấn bạc mạ vàng khắc chữ An Nam quốc vương.
Trong nước ấy quan chế văn vũ hơi giống Trung Quốc, có đặt các nha môn các, bộ, khanh, tự, Hàn lâm, Khoa đạo. Đô sát viện gọi là Ngự sử đài, chức chưởng quan trọng nhất. Ở ngoài đặt Thừa chính ty, Hiến sát sứ ty, có các quan Thừa chính sứ, Hiến sát sứ, Tham chính, Tham nghị. Phủ châu huyện đều có chánh phó đứng đầu, cũng có khi do bộ tuyển, cũng có khi là thế tập giữ đất. Trong triều đặt Ngũ quân Đô đốc phủ, không thống thuộc nhau, ngoài đặt Đề đốc lãnh việc quân một phương, Lưu thủ lãnh việc quân một đạo kiêm quản việc thu thuế muối, cho văn chức tiết chế. Văn chức theo xuất thân mà thăng bổ, vũ chức không có khoa giáp, phần nhiều lấy những người được thế tập năm tước (tức công, hầu, bá, tử, nam, cùng với vương) sung vào. Nếu xứng chức có công thì thăng Lưu thủ, Đề đốc, Đô đốc, đi nhận chức vẫn lấy một người con em hay cháu sung giữ chức cũ. Nếu kém cỏi có tội thì giáng tước cách chức, không được thế tập giữ đất nữa.
Khảo thí cũng ba năm một lần đại tỷ, có bốn trường, Nhất trường thi Kinh nghĩa, Nhị trường thi văn Biền thể, Tam trường thi Thơ, Tứ trường thi Văn sách. Người trúng Tam trường là Sinh đồ, tức Sinh viên, người trúng Tứ trường là Cống sinh, tức Cử nhân. Không có định ngạch, đại khái mười người lấy một. Thi Hội người trúng Tứ trường là Tiến sỹ, cũng không có định ngạch. Thi Đình cũng lấy đối sách định thứ bậc. Chỗ thi không có phòng ốc, mỗi người lấy cái lồng tre úp lên rồi nằm phục xuống đất mà viết.
Trong nước quân binh đều được miễn thuế đinh và dao dịch, theo tháng cấp cho lương hướng. Quân chia ra quân thủy quân bộ, không chia ra quân chiến quân thủ. Quân lấy voi làm trọng, mỗi con voi có 250 quân, có một Chánh tượng nô, hai Phó tượng nô, số quân binh còn lại chia ra cầm hỏa khí đao thương. Hành quân thì đi theo thứ tự trước sau, giao chiến thì bày ra hai cánh tả hữu. Phàm những nơi biên giới cửa ải và quận huyện xung yếu đều phát voi trấn giữ.
Mũ áo. Văn chức đội mũ the, mặc áo cổ tròn, đeo đai lưng, đi giày, lúc bình thời dùng mão cao bằng đoạn đen, mặc áo bào ống tay rộng bằng vải xanh. Vũ chức không đội mão the, mặc áo cổ tròn. Ngày triều hạ dùng mão Đà la ni màu hồng, áo bào ống tay rộng bằng đoạn các màu, vải choàng vai Đà la ni màu hồng hoặc bổ phục thêu hình hổ, báo, voi. Bình thời dùng mão xanh áo xanh, giày và quần đều không phải là vật ưa thích, lúc nhàn cư thường cởi ra. Đi lại hoặc cưỡi ngựa hoặc cưỡi voi, đi võng thì nằm ngửa, hoặc đi kiệu, hình thù như cái xe không có bánh, trên có chiếu mây sơn đen, cúi người chui vào, hoặc nằm hoặc ngồi xếp bằng. Những người hộ vệ và phu khiêng kiệu của quốc vương áo mão hơi giống với vũ chức.
Bổng lộc ấn theo phẩm trật mà cấp. Có định ngạch cấp ruộng, người không được cấp ruộng thì cấp gạo, nhà thế tập có đất thì không cấp nữa.
Binh chế không có các loại pháo lớn nhỏ, đội khăn Đà la ni thêm mão, gọi là khôi giáp. Có súng cách sơn, súng chim, đao cán dài, đao cán ngắn, thương dài, lao, giáp mây, tên lửa.
Việc hình danh lúc đầu không có phép tắc nhất định, thời Minh đặt chức Bố chánh Án sát mới ban hành điều luật, chỉ biết đại khái, nên ra vào phần nhiều không đúng.
Tiền lúa có thuế đất, thuế đinh, thuế muối, thuế buôn. Ruộng chia làm ba hạng thượng trung hạ, thượng đẳng thì mười phần thóc thu ba phần, trung đẳng thu hai phần, hạ đẳng thu một phần. Thuế đinh mỗi người nộp 1 quan tiền, đều theo lúc được mùa mất mùa mà thành nặng nhẹ.
Cưới gả cũng dùng mai mối, đem tiền bạc, trầu cau, heo, dê, rượu đưa tới nhà gái, rồi nhà trai tùy ý lãnh cô gái về là xong. Người nghèo không thể sắm sửa lễ vật thì trai gái thích nhau là thành vợ chồng. Không tỵ hiềm chuyện cùng họ, vì có ít họ nên như thế.
Việc táng tế phần nhiều theo lễ Văn công (tức Chu Hy). Tin sùng phong thủy, cấm không cho quan dân chọn đất và chôn cất trên núi, nên đều chôn ở ruộng. Nhà phú hào che nhà lợp tranh lên trên, lâu ngày trở thành bằng phẳng. Duy quốc vương và Phụ chính họ Trịnh chôn cất ắt tìm đất, tới như kẻ có quyền có khi cũng lén tìm đất, bị lộ cũng san cho bằng phẳng.
Sùng thượng Nho giáo, Giao Châu có trường quốc học và Văn miếu, các quận huyện đều xây nhà văn chỉ (nguyên bản là "Học tế"), tế tự phối hưởng cũng đầy đủ như Trung Quốc. Cũng có người theo đạo Phật, đạo Lão nhưng không quá tôn sùng.
Gặp ngày tiết thì lấy tiếng đón rước Thần Phật, trai gái hội họp cả chục ngày chưa thôi. Trai gái đều xõa tóc đi chân không, mặc áo hoặc bằng vải hoặc bằng the, phần nhiều dùng màu trắng. Nam giới dùng vải buộc lưng, từ xương cùng xỏ qua phía trước người buộc lại, phụ nữ dùng the vải trắng bó ngực. Đứng thường khoanh tay, vào mâm thường ngồi xếp bằng. Từ nhỏ đã ăn trầu, tiếp khách cũng dùng, nên răng đều đen. Bình thời không đội mũ, nhưng ra ngoài bất kể trời râm hay tạnh cũng đều đội nón tre. Yết kiến kẻ tôn quí thì quì gối vái ba vái, tình cờ gặp nhau ắt bỏ nón xõa tóc, nếu không sẽ bị coi là bất kính. Nhưng ở xen lẫn với người Lão (dân tộc ít người nói chung), nên tính hời hợt hung hãn, coi giàu có là anh hùng, lấn hiếp kẻ nghèo, bắt người cướp của không hề úy kỵ. Duy người Giao Châu và Ái Châu phong lưu túc trí, người Hoan Châu và Diễn Châu tuấn tú hiếu học. Giao Châu là quốc đô, đất thuộc Thừa chính ty An Bang, Ái Châu thuộc Thừa chính ty Thanh Hoa, Hoan Châu và Diễn Châu thuộc Thừa chính ty Nghệ An.
Về nhà cửa, duy vương phủ, nhà của Phụ chính và miếu mạo dùng ngói màu tía vàng lợp lên như vảy cá, còn lại đều là nhà tranh.
Trong nước việc cày ruộng trồng dâu rất thịnh, lúa có ba loại, nuôi tằm thì ai cũng làm không chia sang hèn. Trước kia không biết trồng lúa mạch, nay đã có rồi. Đậu gai đầy đồng, có nhiều mối lợi cá muối. Vật quí thì có vàng, ngọc trai, san hô, đồi mồi, khánh đá, hỏa tề, đan sa. Hương thì có trầm hương, tốc hương, an hương, tức hương, kê thiệt, đô lương. Chim thú thì có chim trả, trĩ trắng, gà nước, tê giác, voi, hươu, tê giác cái, đười ươi, phất phất, quả nhiên, hợp, liêu, quyết, trâu, đường ngưu, quả hạ ngưu, cư phong vô, rết lớn, chuột bay đỏ, linh dương Mông Quí. Cây trái thì có cau, dừa, chuối, xoài, mít, mía, lựu, tiểu đào, cam, quít, hồng, thị, can tuế tử, cửu tằng bì, thạch lật, như hà ô mộc, tô mộc, tha luân mộc, từ la lặc nhưng mộc, cổ độ, cây gạo. Còn lại thì cây tạp thành rừng nhưng ít gỗ tốt, cây đa là nhiều nhất. Ngoài ra như đậu ván, bầu, cà tuy mùa đông cũng không tàn úa.
....."
