thandieuhieplu11@
Chú bộ đội
CẦN MỘT MINH QUÂN ĐỂ NGƯỜI TÀI KHÔNG CÒN U UẤT NHƯ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
Nguyễn Trường Tộ từng mơ về một nước Việt Nam canh tân, nhưng ông chết trong uất nghẹn vì không được lắng nghe. Trong khi Nhật Bản có Fukuzawa Yukichi và Minh Trị, Việt Nam lại thiếu một Lê Thánh Tông thời hiện đại, người có thể chắp cánh cho người tài bay xa. Nhưng điều đó có thể đang thay đổi…
Người thực tài thường có hai “điểm yếu chí tử”: không giỏi lấy lòng cấp trên và thường quá tự tin đến mức bị cho là kiêu căng. Chính vì vậy, không ít nhân tài trong lịch sử đã sống một đời lặng lẽ, thậm chí bi kịch. Câu chuyện về Nguyễn Trường Tộ, nhà canh tân lớn của Việt Nam thế kỷ XIX, là một trong những minh chứng xót xa như thế.
Ở tuổi 41, ông thổ huyết mà chết vì khát vọng cải cách đất nước không được lắng nghe. Trong suốt đời mình, ông gửi lên triều đình 58 bản điều trần, đề xuất những cải cách táo bạo, gần như song hành với tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, người khai sinh nên nước Nhật hiện đại.
Điều đáng nói là, cùng thời điểm ấy, năm 1868, Nhật Bản bước vào cuộc Duy tân Minh Trị với một loạt cải cách về giáo dục, kinh tế, quân sự, thể chế. Fukuzawa Yukichi được xem là “cha đẻ tinh thần” của công cuộc này.
Còn ở Việt Nam, Nguyễn Trường Tộ thì bị xem nhẹ, thậm chí bị gán ghép đủ điều: thân Pháp, có vấn đề về lý lịch, đe doạ trật tự Nho học… Kết cục, Nhật Bản vươn lên thành cường quốc châu Á, còn Việt Nam thì mãi quanh quẩn trong vòng kim cô “Tứ thư, Ngũ kinh”, để rồi dần dần mất nước.
Lịch sử thật trớ trêu. Nguyễn Trường Tộ không thua kém gì Fukuzawa về tư tưởng hay tầm nhìn, nhưng ông sinh không đúng thời,?hay đúng hơn, là sinh trong một triều đại thiếu người biết lắng nghe người tài.
Vua Tự Đức dù yêu nước nhưng lại quá phân vân và bị bao vây bởi một tầng lớp quan lại Nho học giáo điều, coi cải cách là mối đe doạ đến địa vị và quyền lực của mình. Họ tìm cách dìm Nguyễn Trường Tộ xuống bằng những luận điệu cổ hủ, thay vì tranh luận bằng lý lẽ và khoa học.
Lịch sử không thể quay lại, nhưng có thể để lại những bài học sâu sắc. Đó là: nhân tài không bao giờ thiếu, điều thiếu là một người đứng đầu đủ dũng cảm và tầm nhìn để lắng nghe, bảo vệ và trao quyền cho họ.
Câu nói nổi tiếng của Nguyễn Trãi rằng: “Nước ta từ xưa đã có nhiều người tài giỏi, hào kiệt đời nào cũng có”, vẫn đúng cho đến tận ngày nay. Nhìn quanh đất nước hôm nay, trong và ngoài biên giới, đâu đâu cũng thấy người giỏi.
Các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu, công ty công nghệ lớn trên thế giới có rất nhiều người mang dòng máu Việt. Nhưng làm sao để họ trở về, hay chí ít là đóng góp cho đất nước, điều đó không chỉ cần lời mời, mà cần một hệ sinh thái tôn trọng tri thức và một lãnh đạo đủ minh triết để thu hút và giữ chân họ.
Lịch sử Việt Nam không thiếu những tấm gương vua hiền tôi giỏi. Nhưng nổi bật trong đó, người để lại ấn tượng sâu đậm nhất về trọng dụng nhân tài, có lẽ là Lê Thánh Tông, vị vua trị vì suốt 38 năm, xây dựng nên một giai đoạn cực thịnh của Đại Việt. Lê Thánh Tông biết đào tạo người tài, chọn người tài, và quan trọng nhất: không ghen với người tài.
Dưới triều Lê, người học giỏi, người có tầm nhìn được trọng dụng vào những vị trí then chốt. Một thế hệ nhân tài “như lá mùa thu” xuất hiện trong chính quyền: Thân Nhân Trung, Lương Thế Vinh, Đỗ Nhuận, Vũ Quỳnh… Câu nói bất hủ của Thân Nhân Trung, "Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, không chỉ là khẩu hiệu, mà được thực thi bằng cả một chính sách ưu đãi và tin dùng.
Ngược lại, triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Tự Đức,?lại là điển hình của một bộ máy khước từ thay đổi, bất an trước tri thức mới và ghen tỵ với người có tư tưởng cấp tiến. Nếu Lê Thánh Tông sống cùng thời Nguyễn Trường Tộ, rất có thể lịch sử đã khác.
Cái chết u uất của Nguyễn Trường Tộ không nên chỉ được nhìn như một bi kịch cá nhân, mà phải được xem như một lời cảnh tỉnh. Bi kịch sẽ còn lặp lại nếu chúng ta vẫn để tư tưởng cục bộ, sự đố kỵ, sự sợ hãi trước thay đổi lấn át tinh thần cải cách. Người tài sẽ không về, hoặc sẽ lại ra đi trong lặng lẽ, nếu họ không được đối xử công bằng và trân trọng.
Thời đại ngày nay không chỉ cần những Fukuzawa hay Nguyễn Trường Tộ mới, mà cần lắm những Lê Thánh Tông mới, những nhà lãnh đạo hiểu rằng tài năng là tài sản quốc gia, và biết rằng, đôi khi, phải dẹp bỏ cả nề nếp cũ kỹ và thói quen cá nhân để cho người tài được cất cánh.
Nguyễn Trường Tộ đã sống và chết cho một giấc mơ canh tân. Dù ông ra đi, nhưng 58 bản điều trần vẫn còn đó, như những lời sấm khải thị cho hậu thế. Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể viết tiếp giấc mơ còn dang dở ấy – bằng cách nuôi dưỡng một môi trường lành mạnh, trọng hiền tài, và quan trọng hơn hết: dám đi trước thời đại như ông từng mơ ước.
Và có lẽ, thời khắc ấy đang đến. Trong thời đại Hồ Chí Minh hôm nay, Tổng Bí thư Tô Lâm đang cho thấy hình ảnh của một Lê Thánh Tông mới – người không chỉ kêu gọi, mà còn quyết tâm hành động để xây dựng một hệ sinh thái trọng dụng nhân tài.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thời kỳ mới, với những yêu cầu phát triển cấp bách. Việt Nam cần bứt phá trong khoa học – công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo, để bắt kịp với thế giới. Nghị quyết 57-NQ/TW mới đây đã nhấn mạnh vai trò then chốt của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhưng muốn hiện thực hoá, vẫn cần một điều kiện tiên quyết: phải có chính sách và người đứng đầu đủ bản lĩnh để thu hút, tin tưởng và trao quyền cho người tài.
Và có lẽ, thời khắc ấy đang đến. Trong thời đại Hồ Chí Minh hôm nay, Tổng Bí thư Tô Lâm đang cho thấy hình ảnh của một Lê Thánh Tông mới, người không chỉ kêu gọi, mà còn quyết tâm hành động để xây dựng một hệ sinh thái trọng dụng nhân tài.
Lời hiệu triệu 100 trí thức Việt kiều trở về nước không chỉ là một tín hiệu chính trị, mà là một cam kết lịch sử. Nếu môi trường thực sự được tạo ra như lời hứa, thì biết đâu, người tài sẽ không còn phải chết u uất như Nguyễn Trường Tộ, mà sẽ lũ lượt trở về dựng xây giấc mơ Việt Nam hùng cường.
Nguyễn Trường Tộ từng mơ về một nước Việt Nam canh tân, nhưng ông chết trong uất nghẹn vì không được lắng nghe. Trong khi Nhật Bản có Fukuzawa Yukichi và Minh Trị, Việt Nam lại thiếu một Lê Thánh Tông thời hiện đại, người có thể chắp cánh cho người tài bay xa. Nhưng điều đó có thể đang thay đổi…
Người thực tài thường có hai “điểm yếu chí tử”: không giỏi lấy lòng cấp trên và thường quá tự tin đến mức bị cho là kiêu căng. Chính vì vậy, không ít nhân tài trong lịch sử đã sống một đời lặng lẽ, thậm chí bi kịch. Câu chuyện về Nguyễn Trường Tộ, nhà canh tân lớn của Việt Nam thế kỷ XIX, là một trong những minh chứng xót xa như thế.
Ở tuổi 41, ông thổ huyết mà chết vì khát vọng cải cách đất nước không được lắng nghe. Trong suốt đời mình, ông gửi lên triều đình 58 bản điều trần, đề xuất những cải cách táo bạo, gần như song hành với tư tưởng của Fukuzawa Yukichi, người khai sinh nên nước Nhật hiện đại.
Điều đáng nói là, cùng thời điểm ấy, năm 1868, Nhật Bản bước vào cuộc Duy tân Minh Trị với một loạt cải cách về giáo dục, kinh tế, quân sự, thể chế. Fukuzawa Yukichi được xem là “cha đẻ tinh thần” của công cuộc này.
Còn ở Việt Nam, Nguyễn Trường Tộ thì bị xem nhẹ, thậm chí bị gán ghép đủ điều: thân Pháp, có vấn đề về lý lịch, đe doạ trật tự Nho học… Kết cục, Nhật Bản vươn lên thành cường quốc châu Á, còn Việt Nam thì mãi quanh quẩn trong vòng kim cô “Tứ thư, Ngũ kinh”, để rồi dần dần mất nước.
Lịch sử thật trớ trêu. Nguyễn Trường Tộ không thua kém gì Fukuzawa về tư tưởng hay tầm nhìn, nhưng ông sinh không đúng thời,?hay đúng hơn, là sinh trong một triều đại thiếu người biết lắng nghe người tài.
Vua Tự Đức dù yêu nước nhưng lại quá phân vân và bị bao vây bởi một tầng lớp quan lại Nho học giáo điều, coi cải cách là mối đe doạ đến địa vị và quyền lực của mình. Họ tìm cách dìm Nguyễn Trường Tộ xuống bằng những luận điệu cổ hủ, thay vì tranh luận bằng lý lẽ và khoa học.
Lịch sử không thể quay lại, nhưng có thể để lại những bài học sâu sắc. Đó là: nhân tài không bao giờ thiếu, điều thiếu là một người đứng đầu đủ dũng cảm và tầm nhìn để lắng nghe, bảo vệ và trao quyền cho họ.
Câu nói nổi tiếng của Nguyễn Trãi rằng: “Nước ta từ xưa đã có nhiều người tài giỏi, hào kiệt đời nào cũng có”, vẫn đúng cho đến tận ngày nay. Nhìn quanh đất nước hôm nay, trong và ngoài biên giới, đâu đâu cũng thấy người giỏi.
Các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu, công ty công nghệ lớn trên thế giới có rất nhiều người mang dòng máu Việt. Nhưng làm sao để họ trở về, hay chí ít là đóng góp cho đất nước, điều đó không chỉ cần lời mời, mà cần một hệ sinh thái tôn trọng tri thức và một lãnh đạo đủ minh triết để thu hút và giữ chân họ.
Lịch sử Việt Nam không thiếu những tấm gương vua hiền tôi giỏi. Nhưng nổi bật trong đó, người để lại ấn tượng sâu đậm nhất về trọng dụng nhân tài, có lẽ là Lê Thánh Tông, vị vua trị vì suốt 38 năm, xây dựng nên một giai đoạn cực thịnh của Đại Việt. Lê Thánh Tông biết đào tạo người tài, chọn người tài, và quan trọng nhất: không ghen với người tài.
Dưới triều Lê, người học giỏi, người có tầm nhìn được trọng dụng vào những vị trí then chốt. Một thế hệ nhân tài “như lá mùa thu” xuất hiện trong chính quyền: Thân Nhân Trung, Lương Thế Vinh, Đỗ Nhuận, Vũ Quỳnh… Câu nói bất hủ của Thân Nhân Trung, "Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, không chỉ là khẩu hiệu, mà được thực thi bằng cả một chính sách ưu đãi và tin dùng.
Ngược lại, triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Tự Đức,?lại là điển hình của một bộ máy khước từ thay đổi, bất an trước tri thức mới và ghen tỵ với người có tư tưởng cấp tiến. Nếu Lê Thánh Tông sống cùng thời Nguyễn Trường Tộ, rất có thể lịch sử đã khác.
Cái chết u uất của Nguyễn Trường Tộ không nên chỉ được nhìn như một bi kịch cá nhân, mà phải được xem như một lời cảnh tỉnh. Bi kịch sẽ còn lặp lại nếu chúng ta vẫn để tư tưởng cục bộ, sự đố kỵ, sự sợ hãi trước thay đổi lấn át tinh thần cải cách. Người tài sẽ không về, hoặc sẽ lại ra đi trong lặng lẽ, nếu họ không được đối xử công bằng và trân trọng.
Thời đại ngày nay không chỉ cần những Fukuzawa hay Nguyễn Trường Tộ mới, mà cần lắm những Lê Thánh Tông mới, những nhà lãnh đạo hiểu rằng tài năng là tài sản quốc gia, và biết rằng, đôi khi, phải dẹp bỏ cả nề nếp cũ kỹ và thói quen cá nhân để cho người tài được cất cánh.
Nguyễn Trường Tộ đã sống và chết cho một giấc mơ canh tân. Dù ông ra đi, nhưng 58 bản điều trần vẫn còn đó, như những lời sấm khải thị cho hậu thế. Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể viết tiếp giấc mơ còn dang dở ấy – bằng cách nuôi dưỡng một môi trường lành mạnh, trọng hiền tài, và quan trọng hơn hết: dám đi trước thời đại như ông từng mơ ước.
Và có lẽ, thời khắc ấy đang đến. Trong thời đại Hồ Chí Minh hôm nay, Tổng Bí thư Tô Lâm đang cho thấy hình ảnh của một Lê Thánh Tông mới – người không chỉ kêu gọi, mà còn quyết tâm hành động để xây dựng một hệ sinh thái trọng dụng nhân tài.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thời kỳ mới, với những yêu cầu phát triển cấp bách. Việt Nam cần bứt phá trong khoa học – công nghệ, giáo dục, đổi mới sáng tạo, để bắt kịp với thế giới. Nghị quyết 57-NQ/TW mới đây đã nhấn mạnh vai trò then chốt của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhưng muốn hiện thực hoá, vẫn cần một điều kiện tiên quyết: phải có chính sách và người đứng đầu đủ bản lĩnh để thu hút, tin tưởng và trao quyền cho người tài.
Và có lẽ, thời khắc ấy đang đến. Trong thời đại Hồ Chí Minh hôm nay, Tổng Bí thư Tô Lâm đang cho thấy hình ảnh của một Lê Thánh Tông mới, người không chỉ kêu gọi, mà còn quyết tâm hành động để xây dựng một hệ sinh thái trọng dụng nhân tài.
Lời hiệu triệu 100 trí thức Việt kiều trở về nước không chỉ là một tín hiệu chính trị, mà là một cam kết lịch sử. Nếu môi trường thực sự được tạo ra như lời hứa, thì biết đâu, người tài sẽ không còn phải chết u uất như Nguyễn Trường Tộ, mà sẽ lũ lượt trở về dựng xây giấc mơ Việt Nam hùng cường.