dieugio
Thanh niên hoi
I – Ôn lại chuyện Hùng Vương
Theo truyền thuyết, cháu ba đời vua Thần Nông (Trung Hoa) là Đế Minh, đi xuống phương nam tuần tra, đến vùng Ngũ Lĩnh, kết hôn cùng tiên nữ, sinh ra Lộc Tục. Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và con thứ là Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương năm 2879 trước Công nguyên (TCN), đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Cũng theo truyền thuyết, nước Xích Quỷ chạy từ hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung Hoa) xuống tới miền Trung Việt Nam ngày nay theo hướng bắc nam, và từ Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Hoa) ra tới bờ Thái Bình Dương theo hướng tây đông.
Kinh Dương Vương lập gia đình với con gái của Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi vua cha, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ, sinh ra được 100 người con trai. Lạc Long Quân bàn với Âu Cơ: “Ta là dòng dõi rồng, ngươi là dòng dõi tiên, ăn ở với nhau lâu không được. Nay chúng ta được một trăm con, vậy ngươi đem năm mươi con lên núi, còn ta đem năm mươi con xuống biển lập nghiệp.”
Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Hùng Vương chia nước thành 15 bộ, đóng đô ở Phong Châu, và truyền được 18 đời vua. Nguyên vua nước Thục (Ba Thục, Trung Hoa) cầu hôn với con gái của Hùng Vương, nhưng Hùng Vương không gả. Thục Vương tức giận căn dặn con cháu phải trả thù nước Văn Lang.
Nhân cơ hội Hùng Vương thứ 18 ham rượu chè, bê trễ việc quân, cháu của Thục Vương tên là Phán, đem quân tấn công Hùng Vương năm 258 TCN (quý mão), chiếm được Văn Lang, chấm dứt triều đại Hùng Vương. Vua Hùng Vương thứ 18 nhảy xuống giếng tự tử. Nếu tính từ năm 2879 TCN đến năm 258 TCN, tức từ Kinh Dương Vương đến Hùng Vương thứ 18, có tất cả hai mươi đời vua và truyền trong 2621 năm, tính trung bình mỗi đời vua trên 130 năm.
II – Hoài nghi về chuyện Hùng Vương
Từ thế kỷ 18, nhiều sử gia đã tỏ ý nghi ngờ họ Hồng Bàng (Hùng Vương) không có thật, và cho rằng vào thế kỷ 15, sử gia Ngô Sĩ Liên đã đưa chuyện thần thoại hoang đường vào bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư dưới triều đại vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497).
Một trong những người đầu tiên lên tiếng nghi ngờ về tính xác thực của chuyện Hùng Vương là Ngô Thời Sỹ (1726-1780). Trong sách Việt sử tiêu án [Nêu lên những phán đoán về lịch sử nước Việt] là sách khảo sát phê bình các sử phẩm cũ viết đến 1418, đã nhận xét rằng: “Lại lấy con toán mà kể xem từ khoảng đời Kinh [Dương Vương], đời Hùng [Vương], 20 đời vua 2.622 năm, nhiều ít trừ đi bù lại, mỗi vua được 120 tuổi. Người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như thế.” (1)
Cùng thời với Ngô Thời Sỹ là Lê Quý Đôn (1726-1784). Khi tra cứu về những địa danh dưới thời đại Hùng Vương, học giả nầy viết trong sách Vân đài loại ngữ như sau: “…Tôi xét đời Hùng Vương, trên nối đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa gì truyền lại; về 15 bộ đặt ra thời đó, cùng với các quận huyện do nhà Hán, nhà Ngô [Trung Hoa] mới đặt ra, tên gọi lẫn lộn; tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được…”(2)
Người công khai lên tiếng đả kích truyền thuyết Hùng Vương chỉ là chuyện “ma trâu thần rắn” là vua Tự Đức (trị vì 1847-1883). Trong dụ ngày 12-7 năm bính thìn (12-8-1856), Tự Đức viết: “…Việc Kinh Dương và Lạc Long mà Sử cũ đã chép, hoặc có hoặc không, dầu có nhưng không nên thảo luận đến là hơn cả, thế mà Sử cũ nhất luật chép bằng chữ lớn, và trong chỗ chép ấy lại phần nhiều mò mẫm những chuyện “ma trâu thần rắn”, những thuyết hoang đường quái dị, không hợp lẽ thường…”(3)
Vào đầu thế kỷ thứ 20, sử gia Trần Trọng Kim nhận xét về chuyện Hùng Vương “không chắc là chuyện xác thực”.(4) Khi phiên dịch bộ Đại Việt sử ký toàn thư, tác giả Nhượng Tống đưa ra lời bàn: “Nói cách khác, trong các sử cũ của ta không hề có chép chuyện họ Hồng Bàng cùng vua Thục. Hai chuyện đó là tự Ngô Sĩ Liên chắp nối “đầu cua, tai ếch” mà chế tạo nên.”(5)
Trình bày những ý kiến trên đây để cho thấy rằng không phải ngày nay, với tinh thần khoa học, các bạn trẻ mới nghi ngờ tính xác thực của chuyện Hùng Vương mà từ thế kỷ 18 đã có nhiều nhà nghiên cứu ở trong nước phản bác chuyện Hùng Vương.
Với cách nhìn thực tế, khoa học, chắc chắn không ai có thể tin chuyện Hùng Vương là chuyện có thật. Tuy nhiên, để hiểu giá trị của truyền thuyết Hùng Vương, chúng ta nên quay về thời điểm xuất hiện truyền thuyết nầy.
III – Thời điểm xuất hiện chuyện Hùng Vương
1. Thời điểm sử học
Bộ quốc sử đầu tiên của nước ta là sách Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu. Sách nầy được viết xong năm 1272, không có chuyện Hùng Vương. Sau sách của Lê Văn Hưu là hai bộ An Nam chí lược của Lê Tắc (có thể soạn xong năm 1333), và Việt sử lược (xuất hiện khoảng 1377, không biết tên tác giả,), bắt đầu đề cập sơ lược chuyện Hùng Vương. Tuy nhiên, nhưng hai bộ sử nầy một thời bị mất tích và chỉ được phát hiện về sau nầy mà thôi.
Dòng chính sử từ Lê Văn Hưu được tiếp nối bằng bộ Đại Việt sử ký tục biên, do Phan Phù Tiên soạn theo lệnh của vua Lê Nhân Tông (trị vì 1443-1459). Bộ sách nầy nay thất truyền, nên không ai biết Phan Phù Tiên có chép truyền thuyết Hùng Vương không?
Người ta chỉ biết chắc chắn truyền thuyết Hùng Vương đã được Ngô Sĩ Liên đưa vào chính sử trong Đại Việt sử ký toàn thư, gọi tắt là Toàn thư, soạn xong năm 1479 dưới triều đại vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497), em của vua Lê Nhân Tông.
Trong giai đoạn từ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu đến Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, xuất hiện hai bộ sách quan trọng:
Thứ nhất là Việt điện u linh tập (Tập chuyện u linh ở Việt điện) là sách gồm những câu chuyện u linh, hoang đường ở cổ Việt, được cho là do Lý Tế Xuyên soạn xong năm 1329 dưới đời vua Trần Hiến Tông (trị vì 1329-1341). Sách gồm các chuyện: Sĩ Nhiếp, Phùng Hưng, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Hai Bà Trưng, Mỵ Ê, Lý Quảng, Lý Ông Trọng, Lý Thường Kiệt, Phạm Cự Lượng, Lê Phụng Hiểu, Lý Phục Man, Thần núi Đồng Cổ, Thần Bạch Mã, Thần núi Tản Viên…
Thứ hai là bộ Lĩnh nam chích quái (Trích những chuyện quái đản ở vùng phía Nam núi Ngũ Lĩnh), có thể do Trần Thế Pháp soạn, khoảng vào đầu thế kỷ 15. Sách nầy “góp nhặt những chuyện thần tiên cổ tích về đời Hồng Bàng, những chuyện Bạch trĩ (trĩ trắng), Kim quy (rùa vàng), Tân lang (trầu cau), Tây qua (dưa hấu), Bánh chưng, Phù Đổng thiên vương , Lý Ông Trọng, Chử Đồng Tử, Hai Bà Trưng, Thần Tản Viên…Cứ xem những đề mục ấy thì biết quyển ấy có liên lạc với tập Việt điện u linh kể trên. Cứ theo hai bài tựa nói trên thì nguyên quyển ấy có 22 truyện, nhưng người đời sau cứ tục thêm mãi vào, càng ngày càng nhiều.”(6)
Một số chuyện trong hai sách nầy về sau được ghi lại thành những câu chuyện của đời Hùng Vương. Phải dài dòng như trên để thấy rằng trước khi chính thức vào quốc sử, chuyện Hùng Vương đã bàng bạc trong các truyền thuyết thần thoại (quái dị, u linh) của nước ta.
2. Thời điểm tâm linh
Truyền thuyết Hùng Vương xuất hiện từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 15. Về phương diện tinh thần, người Việt tin rằng đời sống con người kéo dài sau khi chết, nghĩa là khi chết đi, chỉ có thể xác bị tiêu hủy, còn linh hồn vẫn sống quanh quẩn với người sống, nên người Việt luôn luôn thờ cúng tổ tiên.
Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, vì khoa học chưa được tiến bộ, người Việt còn thờ cúng những sức mạnh thiên nhiên như thần sấm, thần sét, thần núi, thần sông, thần cây… Khi hạn hán, vua, quan, dân chúng lập đàng cầu đảo cho trời mưa. Khi lụt lội, nước sông tràn ngập, người ta cúng tế và nhiều khi hy sinh một mạng người, quăng xuống sông cho thần sông bớt giận. Khi bệnh tật, thay vì uống thuốc, người ta xin bùa phép để chữa bệnh.
Như thế, thời điểm xuất hiện truyền thuyết Hùng Vương (thế kỷ 15) là thời điểm mà người Việt còn rất tin tưởng vào thần linh và những mãnh lực siêu nhiên, nên chuyện thần thoại huyền nhiệm dễ làm cho người ta tin tưởng và cảm phục hơn cả sự thực.
Nói chung, ngày nay chúng ta gọi những hiện tượng nầy là mê tín dị đoan. Đặc biệt, cho đến ngày nay (2009), nhiều người vẫn còn tin vào những chuyện bị xếp vào loại mê tín dị đoan, như bói toán, “ngoại cảm” (hiện rất phổ thông ở trong nước), và vẫn thích nghe cũng như cả tin vào những chuyện truyền khẩu thần kỳ bên lề hơn là sự thật. Như thế, trong các thế kỷ trước, những chuyện thần thoại, truyền thuyết, chắc chắn tác động rất lớn đến tâm lý quần chúng, và có khi còn tác động mạnh hơn cả sự thật lịch sử.
Đồng thời, dù theo khoa học thực nghiệm, có một thực tế không thể phủ nhận rằng, nhờ vào niềm tin tâm linh, dù là mê tín dị đoan (như cầu khẩn, uống nước phép…), con người nhiều khi vượt thoát được bệnh tật hay những hoàn cảnh khó khăn tưởng chừng như không vượt qua được.
Vì vậy, truyền thuyết Hùng Vương, dầu có tính cách thần thoại, từ khi chính thức mở đầu quốc thống trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, xuất hiện vào thế kỷ 15, chắc chắn đã tác động mạnh trên tâm lý quần chúng, trở thành niềm tin và niềm tự hào dân tộc về quốc thống thiêng liêng của tổ quốc kính yêu.
Theo truyền thuyết, cháu ba đời vua Thần Nông (Trung Hoa) là Đế Minh, đi xuống phương nam tuần tra, đến vùng Ngũ Lĩnh, kết hôn cùng tiên nữ, sinh ra Lộc Tục. Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và con thứ là Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương năm 2879 trước Công nguyên (TCN), đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Cũng theo truyền thuyết, nước Xích Quỷ chạy từ hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung Hoa) xuống tới miền Trung Việt Nam ngày nay theo hướng bắc nam, và từ Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Hoa) ra tới bờ Thái Bình Dương theo hướng tây đông.
Kinh Dương Vương lập gia đình với con gái của Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi vua cha, tức Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ, sinh ra được 100 người con trai. Lạc Long Quân bàn với Âu Cơ: “Ta là dòng dõi rồng, ngươi là dòng dõi tiên, ăn ở với nhau lâu không được. Nay chúng ta được một trăm con, vậy ngươi đem năm mươi con lên núi, còn ta đem năm mươi con xuống biển lập nghiệp.”
Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Hùng Vương chia nước thành 15 bộ, đóng đô ở Phong Châu, và truyền được 18 đời vua. Nguyên vua nước Thục (Ba Thục, Trung Hoa) cầu hôn với con gái của Hùng Vương, nhưng Hùng Vương không gả. Thục Vương tức giận căn dặn con cháu phải trả thù nước Văn Lang.
Nhân cơ hội Hùng Vương thứ 18 ham rượu chè, bê trễ việc quân, cháu của Thục Vương tên là Phán, đem quân tấn công Hùng Vương năm 258 TCN (quý mão), chiếm được Văn Lang, chấm dứt triều đại Hùng Vương. Vua Hùng Vương thứ 18 nhảy xuống giếng tự tử. Nếu tính từ năm 2879 TCN đến năm 258 TCN, tức từ Kinh Dương Vương đến Hùng Vương thứ 18, có tất cả hai mươi đời vua và truyền trong 2621 năm, tính trung bình mỗi đời vua trên 130 năm.
II – Hoài nghi về chuyện Hùng Vương
Từ thế kỷ 18, nhiều sử gia đã tỏ ý nghi ngờ họ Hồng Bàng (Hùng Vương) không có thật, và cho rằng vào thế kỷ 15, sử gia Ngô Sĩ Liên đã đưa chuyện thần thoại hoang đường vào bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư dưới triều đại vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497).
Một trong những người đầu tiên lên tiếng nghi ngờ về tính xác thực của chuyện Hùng Vương là Ngô Thời Sỹ (1726-1780). Trong sách Việt sử tiêu án [Nêu lên những phán đoán về lịch sử nước Việt] là sách khảo sát phê bình các sử phẩm cũ viết đến 1418, đã nhận xét rằng: “Lại lấy con toán mà kể xem từ khoảng đời Kinh [Dương Vương], đời Hùng [Vương], 20 đời vua 2.622 năm, nhiều ít trừ đi bù lại, mỗi vua được 120 tuổi. Người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như thế.” (1)
Cùng thời với Ngô Thời Sỹ là Lê Quý Đôn (1726-1784). Khi tra cứu về những địa danh dưới thời đại Hùng Vương, học giả nầy viết trong sách Vân đài loại ngữ như sau: “…Tôi xét đời Hùng Vương, trên nối đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa gì truyền lại; về 15 bộ đặt ra thời đó, cùng với các quận huyện do nhà Hán, nhà Ngô [Trung Hoa] mới đặt ra, tên gọi lẫn lộn; tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được…”(2)
Người công khai lên tiếng đả kích truyền thuyết Hùng Vương chỉ là chuyện “ma trâu thần rắn” là vua Tự Đức (trị vì 1847-1883). Trong dụ ngày 12-7 năm bính thìn (12-8-1856), Tự Đức viết: “…Việc Kinh Dương và Lạc Long mà Sử cũ đã chép, hoặc có hoặc không, dầu có nhưng không nên thảo luận đến là hơn cả, thế mà Sử cũ nhất luật chép bằng chữ lớn, và trong chỗ chép ấy lại phần nhiều mò mẫm những chuyện “ma trâu thần rắn”, những thuyết hoang đường quái dị, không hợp lẽ thường…”(3)
Vào đầu thế kỷ thứ 20, sử gia Trần Trọng Kim nhận xét về chuyện Hùng Vương “không chắc là chuyện xác thực”.(4) Khi phiên dịch bộ Đại Việt sử ký toàn thư, tác giả Nhượng Tống đưa ra lời bàn: “Nói cách khác, trong các sử cũ của ta không hề có chép chuyện họ Hồng Bàng cùng vua Thục. Hai chuyện đó là tự Ngô Sĩ Liên chắp nối “đầu cua, tai ếch” mà chế tạo nên.”(5)
Trình bày những ý kiến trên đây để cho thấy rằng không phải ngày nay, với tinh thần khoa học, các bạn trẻ mới nghi ngờ tính xác thực của chuyện Hùng Vương mà từ thế kỷ 18 đã có nhiều nhà nghiên cứu ở trong nước phản bác chuyện Hùng Vương.
Với cách nhìn thực tế, khoa học, chắc chắn không ai có thể tin chuyện Hùng Vương là chuyện có thật. Tuy nhiên, để hiểu giá trị của truyền thuyết Hùng Vương, chúng ta nên quay về thời điểm xuất hiện truyền thuyết nầy.
III – Thời điểm xuất hiện chuyện Hùng Vương
1. Thời điểm sử học
Bộ quốc sử đầu tiên của nước ta là sách Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu. Sách nầy được viết xong năm 1272, không có chuyện Hùng Vương. Sau sách của Lê Văn Hưu là hai bộ An Nam chí lược của Lê Tắc (có thể soạn xong năm 1333), và Việt sử lược (xuất hiện khoảng 1377, không biết tên tác giả,), bắt đầu đề cập sơ lược chuyện Hùng Vương. Tuy nhiên, nhưng hai bộ sử nầy một thời bị mất tích và chỉ được phát hiện về sau nầy mà thôi.
Dòng chính sử từ Lê Văn Hưu được tiếp nối bằng bộ Đại Việt sử ký tục biên, do Phan Phù Tiên soạn theo lệnh của vua Lê Nhân Tông (trị vì 1443-1459). Bộ sách nầy nay thất truyền, nên không ai biết Phan Phù Tiên có chép truyền thuyết Hùng Vương không?
Người ta chỉ biết chắc chắn truyền thuyết Hùng Vương đã được Ngô Sĩ Liên đưa vào chính sử trong Đại Việt sử ký toàn thư, gọi tắt là Toàn thư, soạn xong năm 1479 dưới triều đại vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497), em của vua Lê Nhân Tông.
Trong giai đoạn từ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu đến Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, xuất hiện hai bộ sách quan trọng:
Thứ nhất là Việt điện u linh tập (Tập chuyện u linh ở Việt điện) là sách gồm những câu chuyện u linh, hoang đường ở cổ Việt, được cho là do Lý Tế Xuyên soạn xong năm 1329 dưới đời vua Trần Hiến Tông (trị vì 1329-1341). Sách gồm các chuyện: Sĩ Nhiếp, Phùng Hưng, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Hai Bà Trưng, Mỵ Ê, Lý Quảng, Lý Ông Trọng, Lý Thường Kiệt, Phạm Cự Lượng, Lê Phụng Hiểu, Lý Phục Man, Thần núi Đồng Cổ, Thần Bạch Mã, Thần núi Tản Viên…
Thứ hai là bộ Lĩnh nam chích quái (Trích những chuyện quái đản ở vùng phía Nam núi Ngũ Lĩnh), có thể do Trần Thế Pháp soạn, khoảng vào đầu thế kỷ 15. Sách nầy “góp nhặt những chuyện thần tiên cổ tích về đời Hồng Bàng, những chuyện Bạch trĩ (trĩ trắng), Kim quy (rùa vàng), Tân lang (trầu cau), Tây qua (dưa hấu), Bánh chưng, Phù Đổng thiên vương , Lý Ông Trọng, Chử Đồng Tử, Hai Bà Trưng, Thần Tản Viên…Cứ xem những đề mục ấy thì biết quyển ấy có liên lạc với tập Việt điện u linh kể trên. Cứ theo hai bài tựa nói trên thì nguyên quyển ấy có 22 truyện, nhưng người đời sau cứ tục thêm mãi vào, càng ngày càng nhiều.”(6)
Một số chuyện trong hai sách nầy về sau được ghi lại thành những câu chuyện của đời Hùng Vương. Phải dài dòng như trên để thấy rằng trước khi chính thức vào quốc sử, chuyện Hùng Vương đã bàng bạc trong các truyền thuyết thần thoại (quái dị, u linh) của nước ta.
2. Thời điểm tâm linh
Truyền thuyết Hùng Vương xuất hiện từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 15. Về phương diện tinh thần, người Việt tin rằng đời sống con người kéo dài sau khi chết, nghĩa là khi chết đi, chỉ có thể xác bị tiêu hủy, còn linh hồn vẫn sống quanh quẩn với người sống, nên người Việt luôn luôn thờ cúng tổ tiên.
Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, vì khoa học chưa được tiến bộ, người Việt còn thờ cúng những sức mạnh thiên nhiên như thần sấm, thần sét, thần núi, thần sông, thần cây… Khi hạn hán, vua, quan, dân chúng lập đàng cầu đảo cho trời mưa. Khi lụt lội, nước sông tràn ngập, người ta cúng tế và nhiều khi hy sinh một mạng người, quăng xuống sông cho thần sông bớt giận. Khi bệnh tật, thay vì uống thuốc, người ta xin bùa phép để chữa bệnh.
Như thế, thời điểm xuất hiện truyền thuyết Hùng Vương (thế kỷ 15) là thời điểm mà người Việt còn rất tin tưởng vào thần linh và những mãnh lực siêu nhiên, nên chuyện thần thoại huyền nhiệm dễ làm cho người ta tin tưởng và cảm phục hơn cả sự thực.
Nói chung, ngày nay chúng ta gọi những hiện tượng nầy là mê tín dị đoan. Đặc biệt, cho đến ngày nay (2009), nhiều người vẫn còn tin vào những chuyện bị xếp vào loại mê tín dị đoan, như bói toán, “ngoại cảm” (hiện rất phổ thông ở trong nước), và vẫn thích nghe cũng như cả tin vào những chuyện truyền khẩu thần kỳ bên lề hơn là sự thật. Như thế, trong các thế kỷ trước, những chuyện thần thoại, truyền thuyết, chắc chắn tác động rất lớn đến tâm lý quần chúng, và có khi còn tác động mạnh hơn cả sự thật lịch sử.
Đồng thời, dù theo khoa học thực nghiệm, có một thực tế không thể phủ nhận rằng, nhờ vào niềm tin tâm linh, dù là mê tín dị đoan (như cầu khẩn, uống nước phép…), con người nhiều khi vượt thoát được bệnh tật hay những hoàn cảnh khó khăn tưởng chừng như không vượt qua được.
Vì vậy, truyền thuyết Hùng Vương, dầu có tính cách thần thoại, từ khi chính thức mở đầu quốc thống trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, xuất hiện vào thế kỷ 15, chắc chắn đã tác động mạnh trên tâm lý quần chúng, trở thành niềm tin và niềm tự hào dân tộc về quốc thống thiêng liêng của tổ quốc kính yêu.