Tản mạn chuyện Hai Bà Trưng

congarung1988

Gió lạnh đầu buồi
Truyện Hai Bà Trưng


Lâu lâu không động vào viết lách tự nhiên nay có hứng. Chém một chút về chuyện bà Trưng với tụi mày
  1. Hai Bà Trưng trong sử sách
Hai Bà Trưng là người Việt đầu tiên được chép trong sử sách (Hậu Hán Thư - Phạm Việp). Tao sẽ nói về sử Việt Nam trước để dễ đối chiếu
Đại Việt Sử ký toàn thư chép
“Ở ngôi 3 năm.
Vua rất hùng dũng, đuổi Tô Định, dựng nước xưng vương, nhưng vì là vua đàn bà, không thể làm nên công tái tạo.

Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh , Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên … (Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau. Sách Cương mục tập lãm lấy Lạc làm họ là lầm). Đóng đô ở Mê Linh.

Canh Tý, năm thứ 1 , (Hán Kiến Vũ năm thứ 16). Mùa xuân, tháng 2, vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu. Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua, mới xưng là họ Trưng.

Tân Sửu, năm thứ 2 , (Hán Kiến Vũ năm thứ 17). Mùa xuân, tháng 2, ngày 30, nhật thực. Nhà Hán thấy họ Trưng xưng vương, dấy quân đánh lấy các thành ấp, các quận biên thùy bị khổ, mới hạ lệnh cho Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu ta sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó sang xâm lược.

Nhâm Dần, năm thứ 3 [42], (Hán Kiến Vũ năm thứ 18). Mùa xuân, tháng giêng, Mã Viện theo ven biển mà tiến, san núi làm đường hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc (ở phía tây Tây Nhai của La Thành, gọi là Lãng Bạc)67 đánh nhau với vua. Vua thấy thế giặc mạnh lắm, tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ không chống nổi, lui quân về giữ Cấm Khê (Cấm Khê, sử chép là Kim Khê). Quân cũng cho vua là đàn bà, sợ không đánh nổi địch, bèn tan chạy. Quốc thống lại mất.”

Hậu Hán Thư của Phạm Việp (hay Diệp) chép

1. Hậu Hán Thư Quyển 1 - Hán Quang Vũ đế kỷ
Năm Kiến Vũ thứ 16 (tức năm 40 Canh Tý) tháng 2, mùa xuân người con gái giao chỉ tên là Trưng Trắc làm phản chiếm được thành ấp

Năm thứ 18 (tức năm 42 Nhâm Dần) tháng tư sai Phục Ba tướng Quân Mã Viện dẫn Lâu Thuyền tướng quân Đoàn Chí đi đánh bọn giặc Trưng Trắc ở Giao Chỉ

Năm thứ 19 (tức năm 43 Quý Mão) tháng tư mùa hè, Phục Ba tướng quân Mã Viện phá được Giao Chỉ, chém bọn Trưng Trắc. Nhân đó phá được bọn giặc Đô Dương ở Cửu Chân, hàng phục được.
  1. Hậu Hán Thư Quyển 22 - Lưu Long truyện
Năm sau (năm Kiến Vũ thứ 16 - tức năm 40 SCN) lại được phong làm Phù Lạc hương hầu, hàm trung năng tướng. Long làm phó tướng cho Phục Ba tướng quân Mã Viện đi đánh bọn man di Trưng Trắc ở Giao Chỉ. Riêng Long đã phá được Quân Trưng Trắc ở cửa sông Cấm Khê (Cẩm Khê khẩu) bắt được người cầm đầu là Trưng Nhị (hoạch kỳ súy Trưng Nhị) chém đầu được hơn nghìn người, có hơn 2 vạn người đầu hàng.
  1. Hậu Hán Thư quyển 24 - Mã Viện truyện
Năm Kiến Vũ thứ 17 (tức năm 41- Tân Sửu) lại có người con gái tên Trưng Trắc và em là Trưng nhị ở Giao Chỉ làm phản, đánh chiếm được quận đó. Man di ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Họ đánh chiếm được hơn 60 Thành ở vùng Lĩnh Ngoại. Trắc tự lập làm vua, (do vậy) Quang Vũ đế ban tỷ thư, phong Viện làm Phục Ba tướng quân, lấy phù lạc hầu Lưu Long làm phó, đốc xuất Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí... Đi đánh Giao Chỉ ở phía nam (nam kích Giao Chỉ quận) nhà Hán. Tới Hợp Phố thì Đoàn Chí mắc bệnh rồi chết. Vua ban chiếu cho Mã Viện thống xuất đội quân. Mã Viện bèn đi theo đường biển sau núi mở đường hơn 1.000 dặm

Mùa xuân năm Kiến Vũ thứ 18, quân đi tới Lãng Bạc đánh nhau với giặc, phá được chém đầu vài nghìn người, có hơn một vạn người đầu hàng. Mã Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc tới Cấm Khê, nhiều lần đánh bại quân Trưng Trắc quân giặc bèn tẩu tán

Tháng giêng năm sau (tức năm Kiến Vũ thứ 19) chém Trưng Trắc, Trưng Nhị đưa đầu về Lạc Dương (truyền thủ Lạc Dương). Mã Viện được phong Tân Tức hầu, hưởng thực gấp 3.000 hộ. Mã Viện dẫn hơn 2.000 chiến thuyền lớn nhỏ, hơn hai vạn chiến sĩ tiến vào Cửu Chân đánh bọn giặc Đô Dương là dư đảng của Trưng Trắc. Quân Mã Viện từ Vô Công tới Cư Phong chém và bắt được hơn 5.000 người. Bình định được miền núi phía Nam (kiện nam tất bình). Viện tâu với vua Hán rằng huyện Tây Vu có 3 vạn 2 nghìn hộ từ địa giới phía xa tới triều đình (nhà Hán) cách nhau hơn nghìn dặm. Xin tách hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua chuẩn y, những nơi Mã Viện đi qua đều đặt quận huyện, xây Thành quách, đào mương, tưới tiêu làm việc lợi cho dân. Viện lại tâu rằng Luật Việt và Luật nhà Hán có tới hơn 10 điều khác nhau, Viện nêu rõ luật chế cũ của nhà Hán cho người Việt biết để ràng buộc họ. Từ đó người Lạc Việt làm theo những điều mà tướng quân đặt ra
  1. Hậu Hán Thư - Nam Man Tây Nam Di truyện
Tới Nam Kiến Vũ thứ 16 (tức năm 40 Canh Tý) người con gái ở Giao Chỉ tên Trưng Trắc và em gái là Trưng Nhị làm phản, tấn công châu quận. Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, gả cho người Chu Diên tên là Thi Sách làm vợ (Giá vi Chu Diên nhân Thi Sách thê) Trưng Trắc rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ Tô Định lấy luật pháp để ràng buộc. Trưng Trắc phân uất nên đã làm phản. Nhân đó những người Man Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Họ chiếm được 65 thành, tự lập làm vua. Thứ sử và các thái thú khác ở Giao Chỉ giữ thân mình mà thôi.

Quang Vũ đế đèn ban chiếu cho các quận Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chỉ chuẩn bị xe thuyền, sửa chữa đường đá, cầu cống, thông các núi khe, dự trữ lương thực và thóc gạo. Năm thứ 18 (tức năm 42) Nhâm Dần, sai Phục Ba tướng quân Mã Viện, Lâu Thuyền tướng quân Đoàn Chí phát binh Trường Sa Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô gồm hơn một vạn người đi chinh thảo.

Tháng tư, mùa hè năm sau (tức năm 43 Quý Mão) Viện phá được Giao Chỉ, chém bọn Trưng Trắc và Trưng Nhị, số còn lại đầu hàng (hay tẩu tán) Viện lại tiến đánh bọn giặc Đô Dương ở Cửu chân, cả phá và hàng phục được. Mã Viện đã rời hơn 300 người cừ suy tới Linh Lăng. Từ đó miền Lĩnh Biểu bèn yên.

  1. Thủy kinh Chú Quyển 37 - Sông Diệp Du
Đến sau, con trai của Lạc tướng huyện Chu Diên tên là Thi, lấy con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ. Trắc là người có can đảm, Dũng lực, cùng Thi làm giặc, đánh phá châu quận. Các lạc tướng đều theo phục. Trưng Trắc làm vua đóng đô ở Mê Linh, tha cho hai dân quận Giao Chỉ và Cửu Chân thuế hộ và thuế điền 2 năm. Sau nhà Hán sai Phục Ba tướng quân là Mã Viện đem quân sang đánh, Trắc và Thi chạy vào Kim Khê cứu, 3 năm mới bình phục được. Khi ấy Tây Thục cũng sai binh sang cùng đánh bọn Trắc, định các quận huyện, đặt chức lệnh trưởng


Mấy vấn đề về câu chuyện bà Trưng

Sử tịch


Có rất nhiều sử tịch chép chuyện bà Trưng khởi nghĩa. Tuy nhiên, các sử liệu Trung Hoa đời sau đều viết khá muộn (Tư Trị thông giám chép vào đời Tống - sau khởi nghĩa bà Trưng khoảng 1000 năm), và cũng không có gì mới mẻ ngoài dẫn Hậu Hán Thư ra cả. Riêng có Thủy kinh chú do Lịch Đạo Nguyên viết cuối đời Bắc Ngụy (đầu thế kỷ 6) dẫn từ cuốn Thủy kinh do Tang Khâm viết cuối đời Hán, có lẽ khá gần với thời điểm xảy ra cuộc khởi nghĩa đó, có thể dẫn tư liệu cùng.

Ở Việt Nam cuốn Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) là cuốn sớm nhất chép về cuộc khởi nghĩa này, có dẫn phần Lê Văn Hưu bình luận nên có thể ĐVSK của Lê Văn Hưu đã chép rồi. Các cuốn sau đều dẫn lại nên k có gì đặc sắc cả. Nên phân tích chỉ phân tích dựa vào 3 cuốn này.

Vì sao có cuộc khởi nghĩa này?

- Bối cảnh:

Sử xưa nay vẫn chép nước ta bị đô hộ từ 179, thời điểm được cho là Âu Lạc bị Nam Việt của Triệu Đà diệt. Tuy nhiên câu chuyện về Âu Lạc đều không có căn cứ. Rất nhiều tồn nghi. Tao đã có bài phân tích trên xàm này rồi. Sau đó thì không có sử liệu nào ghi về giai đoạn sau đó dưới thời Triệu Đà cả. (Các sử liệu sau này chép đều không đáng tin cậy)

Thời Tây Hán có Thạch Đại làm thái thú 9 quận Giao Chỉ (đất Nam Việt cũ), trị sở đóng ở Long Uyên (nhà Đường kiêng Lý Uyên nên đổi Uyên thành Biên). Câu này rất mơ hồ, tao đồ rằng đất Giao - Quảng về sau trị sở có lẽ vẫn đặt ở Phiên Ngung (TP. Quảng châu hiện nay) thì hợp lý hơn nhiều.

Thời Đông Hán có chép chuyện Nhâm Diên và Tích Quang. Toàn thư có chép (tao đồ rằng là dẫn lại của Hậu Hán thư): “Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở Giao Chỉ, lấy lễ nghĩa dạy dân. Lại lấy Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân. Diên là người Uyển [huyện]. Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cày trồng, trăm họ no đủ. Dân nghèo không có sính lễ cưới vợ, Diên bảo các trưởng lại trở xuống bớt bổng lộc ra để giúp đỡ, cùng một lúc lấy vợ có đến 2.000 người. Diên coi việc được 4 năm thì bị gọi về. Người Cửu Chân làm đền thờ. Những người đẻ con đều đặt tên là Nhâm. Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy.”

-> Câu này hàm ý Quang và Diên là người bắt đầu dạy dân Giao Chỉ, Cửu Chân lễ nghĩa văn minh. Nhưng đồng thời cũng mang nghĩa là trước đó, sự cai trị có hệ thống của nhà Hán vào Giao Châu (tao chỉ tính phạm vi Giao Chỉ, Cửu Chân và Hợp Phố - đất Hợp Phố (miền Khâm Liêm ngày nay) xưa thuộc Việt Nam, mãi tới thời Đông Ngô bị cắt về Quảng Châu). Như vậy cũng có nghĩa trước đó, nhà Hán không thực sự động chạm tới Giao Châu. Hán cai trị Việt Nam theo kiểu sử dụng hệ thống quan lại bản địa cai trị và nộp cống phẩm, phải tới Diên, Quang tức sang thời đông Hán mới thực sự cai trị, nhưng việc này có lẽ mới tới cấp quận (Giao Chỉ, Cửu Chân, Hợp Phố), chưa tới cấp huyện và dưới nữa. Mức độ tự trị của người Việt vẫn là rất lớn.

Năm 39, Tô Định được cử làm thái thú Giao Chỉ. Hậu Hán thư nói “ Định dùng pháp luật ràng buộc”, Toàn thư nói:”vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình”. Nghĩa là cả toàn thư và Hậu Hán thư đều nói việc pháp luật ràng buộc - tức lấy luật pháp nhà Hán áp đặt cai trị lên xứ Việt, chứ không nói việc Định tàn bạo, tham lam như các cuốn sử sau này.

Việc này rất quan trọng, vì điều đó làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lực của các lãnh chúa bản địa. Giống mô hình các xứ miền núi Việt Nam sau này tới tận thời Pháp thuộc, họ làm chủ xứ của mình, chỉ cống nạp cho chính quyền Trung ương, không bị bắt lính, không bị quan lại trung ương can thiệp, có thể nói, họ là vua xứ mình. Nhưng khi hệ thống chính quyền Trung ương can thiệp thì điều đó ảnh hưởng rất lớn tới quyền lợi của các lãnh chúa bản địa, và khiến cho họ nổi dậy.

Ngoài ra, khách quan mà nói, khi một triều đại thống trị áp đặt quyền lực lên một vùng đất thuộc địa, tất yếu sẽ thay đổi văn hóa của xứ bản địa, gây ra sự bất mãn trong dân chúng vì phải thay đổi phong tục ngoại lai. Đồng thời chắc chắn chế độ thuộc địa không bao giờ có chuyện thuế má nhẹ nhàng cũng là một yếu tố cần nhắc tới.

Chú 1: Ông chồng bà Trưng Trắc? Và câu chuyện họ người Việt.
Hậu Hán thư chép ông này tên Thi Sách, Thủy Kinh chú lại chép là Thi, người Chu Diên. Cái tên Trưng Trắc thì Toàn thư nói họ Trưng, gốc họ Lạc tao cho là không đúng. Chưa có gì khảo cứu được bà Trưng Trắc họ Trưng cả, thuyết trứng chắc và trứng nhì của nghề làm tơ cũng chỉ là nói dựa, Giao châu khi đó còn là bán khai, mông muội, chưa có nghề làm tơ - thứ lúc đó chỉ có ở Trung Nguyên. Thời đó người Việt chưa có họ, Trưng Trắc, Trưng Nhị chỉ là cách đọc bằng tiếng Hán của tên tiếng Việt cổ mà thôi, ông chồng bà Trưng có lẽ tên Thi, nguồn gốc cũng như vây.


Chú 2: Ông Thi có bị giết không?

Cả Hậu Hán thư và Thủy kinh chú đều không nói việc Thi bị giết, chỉ nói Thi và Trưng Trắc cùng làm phản. Nhưng tại sao Toàn thư nói Thi bị giết?
Có lẽ nguyên nhân là cách nhìn nhận của sử gia nho giáo. Họ cần ông Thi bị giết để làm cái cớ hợp lý hơn cho cuộc khởi nghĩa, đồng thời che mờ yếu tố Mẫu hệ trong cuộc khởi nghĩa. Tao sẽ phân tích ở phần sau.


Địa bàn cuộc khởi nghĩa:
Hậu Hán thư chép 2 con số - 60 thành và 65 thành lĩnh ngoại. Sử đều chép người man, người lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng vua bà, chiếm thành ấp mà tự xưng. Vậy sự thực là như thế nào?

Đầu tiên, xứ Lạc Việt có địa bàn sinh tụ trong phạm vi 3 quận - Giao Chỉ, Cửu Chân, Hợp Phố. Đất Nhật Nam mà sau này Khu Liên nổi dậy, lập nước Lâm Ấp hậu thân chính là nước Chăm pa thì có lẽ không phải là người Lạc Việt mà là tộc Chăm. Các xứ Chu Nhai - Đạm Nhĩ thuộc về đảo Hải Nam, là tộc Lê, không phải Lạc Việt, Miền các quận thuộc Quảng Đông, và Quảng tây khác thuộc về người Âu Việt và các tộc Nam Bách Việt khác, cũng không phải người Lạc Việt. Tao cho rằng phạm vi khởi nghĩa chỉ trong đất của người Lạc Việt thôi, nghĩa là gói gọn trong 3 quận Cửu Chân - Giao Chỉ và Hợp Phố
Chữ Hưởng ứng kia rất mập mờ. 65 thành Lĩnh Ngoại ở đâu. Dãy Ngũ Lĩnh nằm giữa ranh giới các tỉnh Hồ Nam, GIang Tây với Lưỡng Quảng. Phía Nam NGũ Lĩnh gọi chung là Lĩnh Nam, Lĩnh Ngoại. Hưởng ứng là họ cùng nổi dậy, nhưng không có nghĩa là họ thuộc quyền của bà Trưng Trắc. Thậm chí Các hoạt động của bà Trưng trắc đều gói gọn trong phạm vi Giao Chỉ, việc đánh Đô Dương ở Cửu Chân mà sử chép cũng là tàn dư của Trưng Trắc chứ không có nghĩa Đô Dương tham chiến ở Giao Chỉ. Câu chuyện về chữ vương (王) của bà Trưng Trắc tao sẽ viết ở phần sau.


 
Có 1 cái ngoài lề là Hai Bà Trưng hay được vẽ mặc áo ài, lính thì là lính nhà Nguyễn tao thấy sai trái vãi Lồn, thảo nào bọn học sinh bây giờ dốt sử là phải, hình minh họa toàn sai vcl :vozvn (21):
eab955b3-4d93-4419-adab-1551091a17b9.jpg
grab25b13120209_hanthienhai44.jpg


Tranh Đông Hồ vẽ cũng sai nốt:
Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng_%28tranh_%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%93%29.jpeg


Theo tao trang phục Hai Bà Trưng và quân đội nó phải dạng như này:

doi-song-thoi-au-lac-1.jpg
nguoi-lac-viet-va-tay-au-4.jpg
 
Có 1 cái ngoài lề là Hai Bà Trưng hay được vẽ mặc áo ài, lính thì là lính nhà Nguyễn tao thấy sai trái vãi lồn, thảo nào bọn học sinh bây giờ dốt sử là phải, hình minh họa toàn sai vcl :vozvn (21):
eab955b3-4d93-4419-adab-1551091a17b9.jpg
grab25b13120209_hanthienhai44.jpg


Tranh Đông Hồ vẽ cũng sai nốt:
Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng_%28tranh_%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%93%29.jpeg


Theo tao trang phục Hai Bà Trưng và quân đội nó phải dạng như này:

doi-song-thoi-au-lac-1.jpg
nguoi-lac-viet-va-tay-au-4.jpg

Quả voi chiến nhìn như voi persian thế.
 
Có 1 cái ngoài lề là Hai Bà Trưng hay được vẽ mặc áo ài, lính thì là lính nhà Nguyễn tao thấy sai trái vãi lồn, thảo nào bọn học sinh bây giờ dốt sử là phải, hình minh họa toàn sai vcl :vozvn (21):
eab955b3-4d93-4419-adab-1551091a17b9.jpg
grab25b13120209_hanthienhai44.jpg


Tranh Đông Hồ vẽ cũng sai nốt:
Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng_%28tranh_%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%93%29.jpeg


Theo tao trang phục Hai Bà Trưng và quân đội nó phải dạng như này:

doi-song-thoi-au-lac-1.jpg
nguoi-lac-viet-va-tay-au-4.jpg
Vẽ là vẽ vời, phóng tác cho đẹp chứ đến thời đánh pháp giày còn không có mà đi nói gì thời xưa.
May thời xưa chưa biết sản xuất ra chai thủy tinh với đinh sắt, chứ chân trần mà đạp lên 3 thứ này thì chỉ có oẳng, ra trận mà đi cà nhắc thì chạy thế lol nào được với bọn hán cưỡi ngựa
 
Có 1 cái ngoài lề là Hai Bà Trưng hay được vẽ mặc áo ài, lính thì là lính nhà Nguyễn tao thấy sai trái vãi lồn, thảo nào bọn học sinh bây giờ dốt sử là phải, hình minh họa toàn sai vcl :vozvn (21):
eab955b3-4d93-4419-adab-1551091a17b9.jpg
grab25b13120209_hanthienhai44.jpg


Tranh Đông Hồ vẽ cũng sai nốt:
Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng_%28tranh_%C4%90%C3%B4ng_H%E1%BB%93%29.jpeg


Theo tao trang phục Hai Bà Trưng và quân đội nó phải dạng như này:

doi-song-thoi-au-lac-1.jpg
nguoi-lac-viet-va-tay-au-4.jpg
Mày sai rồi, thời 2 bà trưng là đã bị nhà hán đô hộ 200 năm, thời đấy người hán mặc sao thì vịt mặc vậy, mày tra lại thời đó người hán mặc gì là biết ngay mà
Sử xưa nay vẫn chép nước ta bị đô hộ từ 179, thời điểm được cho là Âu Lạc bị Nam Việt của Triệu Đà diệt. Tuy nhiên câu chuyện về Âu Lạc đều không có căn cứ. Rất nhiều tồn nghi. Tao đã có bài phân tích trên xàm này rồi. Sau đó thì không có sử liệu nào ghi về giai đoạn sau đó dưới thời Triệu Đà cả. (Các sử liệu sau này chép đều không đáng tin cậy)
Mày nói ko có căn cứ là ko đúng. Đo đồng vị carbon ở thành cổ loa, đo luôn cả kho tiễn và liên châu tiễn thì đúng là ra thời âu lạc. Chỉ có vua hùng là truyền thuyết tiền sử (ko dc sử ghi chép) còn âu lạc thì có ghi rõ ràng trong cả sử tàu và dân gian vịt

Về chi tiết thì đúng là chẳng biết đường nào mà lần vì vn đến thời lý mới bắt đầu chép sử, nhưng tao khẳng định âu lạc là có thật, mày khỏi phân tích
 
Tiếp

Về địa bàn quê hương Bà Trưng.


Cụ Đào Duy Anh có dựa theo Thủy Kinh Chú phân tích về địa bàn quận huyện thời Bắc Thuộc có nói chép như thế này

“Chúng ta lại biết rằng thành Mê Linh, quê hương của Trưng Trắc, còn dấu vết ở làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc. Nếu chỗ sông Hồng chia ra các nhánh là ở phía bắc huyện Mê Linh như kinh văn chép thì đất huyện Mê Linh có thể là ở trên sông Hồng, từ tả ngạn sang hữu ngạn, vào khoảng huyện Vĩnh Tường, huyện Tiên Phong, huyện Tùng Thiện, huyện Bất Bạt tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Sơn Tây ngày nay. Chúng ta hãy theo thứ tự năm nhánh sông của sông Hồng tự phía bắc huyện Mê Linh chia ra.
Trước hết là nhánh bên tả trong hai nhánh sông phía bắc. Sông ấy chảy về phía đông bắc, qua phía nam huyện Vọng Hải; Lệ Đạo Nguyên chú rằng huyện này là do Mã Viện đặt năm Kiến Vũ thứ 19. Hậu Hán thư (q.54) chép rằng Mã Viện thấy huyện Tây Vu quá rộng nên đã chia ra mà đặt làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Sách Độc sử phương dư kỷ yếu nói rằng “ở phía đông thành cũ Phong Khê có huyện Vọng Hải”.
“Người ta đều biết rằng thành cũ Phong Khê tức Loa thành, kinh đô của An Dương vương (An Dương vương đóng đô ở Phong Khê), tức là Cổ Loa ngày nay. Nhánh sông tự sông Hồng chảy về phía đông nam rồi qua phía nam đó phải là sông Cà Lồ chảy từ khoảng Trung hà về phía bắc tỉnh Phúc Yên cũ.
Xét vị trí của thành cũ của huyện Vọng Hải ở về phía đông của thành Phong Khê và ở về phía bắc sông Cà Lồ thì có thể đặt huyện Vọng Hải ở khoảng các huyện Bình Xuyên, Kim Anh, Đa Phúc của tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Phong Khê vào khoảng huyện Đông Anh, tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Mã Viện thấy địa thế huyện Tây Vu rộng quá phải chia ra làm hai huyện, Phong Khê ở phía tây nam và Vọng Hải ở phía đông bắc. Có lẽ huyện Tây Vu gồm cả miền lưu vực sông Lô ở phía trên, cho nên Mã Viện mới cho là biên giới của huyện ở cách xa huyện trị đến hơn nghìn dặm. Chúng tôi đoán rằng những phần của các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình mà chúng tôi đặt vào huyện Phong Khê và huyện Vọng Hải, tức huyện Tây Vu trước, vốn là bộ lạc Mê Linh của Hùng vương trước kia. Sau khi Thục Phán chiếm nước Văn Lang thì đã lấy phần đất ở phía đông và phía nam địa phận Mê Linh mà gồm vào địa phận căn bản của mình là địa phận Tây Vu, do đó mà huyện Tây Vu đời Hán bọc lấy huyện Mê Linh ở phía đông và phía nam. Sau khi địa phận Mê Linh bị cắt xén đi như thế thì địa bàn căn bản của con cháu Hùng vương - tức huyện Mê Linh đời Hán - còn lại được phần tây bắc tỉnh Vĩnh Phúc, phần tây bắc tỉnh Sơn Tây và miền Phú Thọ cùng Yên Bái (cho đến địa phương Đào Thịnh).”

“Nhánh sông thứ năm thì Lệ Đạo Nguyên cho nó là chảy đối với huyện Chu Diên. Sông ấy lại chảy về phía đông, qua huyện Phố Dương (điểm này hẳn là lầm vì huyện Phố Dương không thể ở về miền này được), lại chảy về phía đông, qua phía bắc huyện Vô Thiết (sửa là công), lại chảy về phía đông, qua huyện Câu Lậu. Cứ thủy thế các sông ở quận Giao Chỉ thì nhánh sông này phải là tương đương với sông Đáy. Sách Thái Bình hoàn vũ ký gọi sông Đáy, tức sông Hát, là sông Chu Diên. Cứ thế thì huyện Chu Diên có thể là tương đương với một phần tỉnh Sơn Tây, một phần tỉnh Hà Đông và miền Hà Nam ở giữa sông Đáy và sông Hồng. Sông ấy chảy qua phía bắc huyện Vô Thiết (công) là một huyện thuộc quận Cửu Chân. Huyện này là huyện đầu tiên của Cửu Chân kể từ Giao Chỉ đi vào phải ở về phía tây nam tỉnh Ninh Bình, miền Gia Viễn và Nho Quan ngày nay. Huyện Chu Diên và huyện Vô Công là hai huyện lân cận ở về lưu vực sông Đáy. Có lẽ Chu Diên gồm cả miền các huyện Lương Sơn, Lạc Sơn ở giữa sông Đáy và sông Đà mà cư dân hiện nay là người Mường, di duệ của người Lạc Việt, mà huyện Vô Công thì ăn đến tận biên giới huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa ngày nay.”


Theo những gì cụ Đào Duy Anh có phân tích có thể thấy, huyện Mê Linh xưa là miền thuộc tỉnh Sơn Tây (cũ) và tỉnh Hưng Hóa xưa, nghĩa là phần Tây Bắc của đồng bằng sông Hồng tới miền Yên Bái. Ở đây cũng cần nói về việc 2 bà họ Lạc, người Việt không có họ nhưng tại sao lại nói hai bà họ Lạc, có lẽ vì Trưng Trắc là con cháu của Lạc tướng xa xưa.

Về cuộc hôn nhân giữa Trung Trắc và Thi

Sách Thủy kinh chú (水經注) dẫn Giao châu ngoại vực ký (交州外域記) chép “Giao Chỉ ngày xưa chưa có quận huyện, đất đai có ruộng Lạc điền (雒田), ruộng ấy theo nước thủy triều lên xuống, người dân làm ăn ở ruộng ấy, nhân đó gọi là người Lạc dân (雒民), đặt ra Lạc vương (雒王)-Lạc hầu (雒侯) làm chủ các quận huyện. Ở huyện phần nhiều có Lạc tướng (雒將), Lạc tướng đeo ấn đồng dây thao xanh". An Nam Chí nguyên của Cao Hùng Trưng cũng dẫn lại tương tự, không có gì khác biệt

Theo cá nhân tao, các huyện thời Hán, bản chất chính là các bộ lạc thời Lạc Việt cổ. Mỗi tù trưởng là một lạc tướng. Suy ra, Trưng Trắc là dòng dõi trực tiếp của Lạc tướng bộ lạc Mê Linh, còn Thi là con cháu của bộ lạc Chu Diên. Việt Nam xưa, miền đồng bằng sông Hồng còn là sình lầy (câu chuyện Trử Đồng Tử ở miền Khoái Châu - hưng Yên là ví dụ), miền ven biển Hải phòng tới miền Kim sơn vẫn còn nằm dưới biển, vậy thì dân cư Việt Nam vẫn sống ở vùng cao là chính. Điều đó thể hiện qua các di chỉ thời đồ đá tới đồ đồng đều nằm ở Yên Bái, Phú Thọ, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Thái Nguyên. Các di chỉ tập trung dày đặc ở 3 địa phương Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú và Bắc Thái, cho thấy dải đất này xưa là miền sinh tụ chính của người Lạc Việt. Vậy thì Chu Diên và Mê Linh đời Hán chính là vùng đất quan trọng bậc nhất của người Việt.

Mối quan hệ thông gia này diễn ra trước hay sau cuộc cai trị của Tô Định thì không có cách nào khảo cứu được nhưng chắc chắn sau khi Nhâm Diên và Tích Quang thực hiện "giáo hóa" cho dân Giao Chỉ, Cửu Chân. Nghĩa là các tù trưởng bộ lạc thực sự cảm thấy quyền lực của mình bị đe dọa. Việc kết hôn giữa hai người này bản chất là cuộc hôn nhân chính trị của 2 bộ lạc miền Tây sông Hồng, có thể mục đích nhằm liên kết những bộ lạc mạnh của Lạc việt xưa chống lại triều đại cai trị
 
Mày sai rồi, thời 2 bà trưng là đã bị nhà hán đô hộ 200 năm, thời đấy người hán mặc sao thì vịt mặc vậy, mày tra lại thời đó người hán mặc gì là biết ngay mà

Mày nói ko có căn cứ là ko đúng. Đo đồng vị carbon ở thành cổ loa, đo luôn cả kho tiễn và liên châu tiễn thì đúng là ra thời âu lạc. Chỉ có vua hùng là truyền thuyết tiền sử (ko dc sử ghi chép) còn âu lạc thì có ghi rõ ràng trong cả sử tàu và dân gian vịt

Về chi tiết thì đúng là chẳng biết đường nào mà lần vì vn đến thời lý mới bắt đầu chép sử, nhưng tao khẳng định âu lạc là có thật, mày khỏi phân tích
chuyện Âu Lạc tao từng nói từ lâu trên xàm rồi, nếu tìm ông này phải tìm ở miền Ung Liễu (Quảng Tây) vì ông ta là người Âu Việt, hậu duệ là người Choang (Tráng) Quảng Tây. Còn việc ở Việt Nam không thiếu gì các di chỉ đồ đồng (giáo đồng, kiếm đồng, mũi tên đồng) thời đó nhưng điều đó không chứng minh đã từng tồn tại một quốc gia theo ý hiểu hiện nay. Những mũi tên đồng không chứng minh một quốc gia chiếm hữu nô lê hay quốc gia nông nghiệp từng tồn tại . Một nền văn minh không nhất thiết phải có một quốc gia đúng nghĩa như cách hiểu hiện đại.
Hơn nữa nếu như Âu Lạc từng là một quốc gia, vậy Hán Thư, Hậu Hán thư hay Tống thư, Tề Thư, Lương Thư, Trần thư, Tấn thư không chép, phải mãi thời Đường, Tống mới chép?
Còn mày nói tao khỏi phân tích thì ok, tao k reply comment của mày nữa. Ok, vừa lòng nhé
 
2 bà này cùng thời với Tôn Quyền nhà Ngô thời Tam quốc phải không chủ thớt?
2 bà khởi nghĩa năm 40 - thời Đông Hán (Hán Quang Vũ đế Lưu Tú), khởi nghĩa Bà Triệu 248 - mới là thời Tôn Quyền
 
ai còn nhớ vụ tướng bên kia cho lính cởi truồng ra đánh, lính của 2 bà tưng toàn nữ, xấu hổ nên đánh ko đc thua trận ko :D
 
chuyện Âu Lạc tao từng nói từ lâu trên xàm rồi, nếu tìm ông này phải tìm ở miền Ung Liễu (Quảng Tây) vì ông ta là người Âu Việt, hậu duệ là người Choang (Tráng) Quảng Tây. Còn việc ở Việt Nam không thiếu gì các di chỉ đồ đồng (giáo đồng, kiếm đồng, mũi tên đồng) thời đó nhưng điều đó không chứng minh đã từng tồn tại một quốc gia theo ý hiểu hiện nay. Những mũi tên đồng không chứng minh một quốc gia chiếm hữu nô lê hay quốc gia nông nghiệp từng tồn tại . Một nền văn minh không nhất thiết phải có một quốc gia đúng nghĩa như cách hiểu hiện đại.
Hơn nữa nếu như Âu Lạc từng là một quốc gia, vậy Hán Thư, Hậu Hán thư hay Tống thư, Tề Thư, Lương Thư, Trần thư, Tấn thư không chép, phải mãi thời Đường, Tống mới chép?
Còn mày nói tao khỏi phân tích thì ok, tao k reply comment của mày nữa. Ok, vừa lòng nhé
Định nghĩa quốc gia của mày thế nào? Theo tao thời vua hùng thì ko khác gì thời nhà hạ của TQ, thực chất vẫn là bộ lạc cai trị, còn thời âu lạc thì như thời nhà thương, nhà chu bên TQ, đã có đủ di chỉ khảo cổ để khẳng định nó vượt ra khỏi tầm bộ lạc để lên dc quốc gia, nhưng nó giống theo kiểu phương tây hơn, là vua thì ko quá quyền lực còn các lạc tướng có từ thời vua hùng thì vẫn đủ mạnh để duy trì quyền tự chủ tự trị nhất định.

Chứ theo định nghĩa của mày thì châu âu mãi đến thời phục hưng cũng chẳng nước nào dc coi là quốc gia cả. Nếu mày ko coi âu lạc là quốc gia thì ok thôi, đồng nghĩa với nhà hạ, thương, chu bên TQ cũng ko phải quốc gia mà mới chỉ ở cấp bộ lạc như mày nói
 
Định nghĩa quốc gia của mày thế nào? Theo tao thời vua hùng thì ko khác gì thời nhà hạ của TQ, thực chất vẫn là bộ lạc cai trị, còn thời âu lạc thì như thời nhà thương, nhà chu bên TQ, đã có đủ di chỉ khảo cổ để khẳng định nó vượt ra khỏi tầm bộ lạc để lên dc quốc gia, nhưng nó giống theo kiểu phương tây hơn, là vua thì ko quá quyền lực còn các lạc tướng có từ thời vua hùng thì vẫn đủ mạnh để duy trì quyền tự chủ tự trị nhất định.

Chứ theo định nghĩa của mày thì châu âu mãi đến thời phục hưng cũng chẳng nước nào dc coi là quốc gia cả. Nếu mày ko coi âu lạc là quốc gia thì ok thôi, đồng nghĩa với nhà hạ, thương, chu bên TQ cũng ko phải quốc gia mà mới chỉ ở cấp bộ lạc như mày nói
Châu Âu trước thời Phục Hưng là phong kiến phân quyền, được xem là quốc gia rồi.
 
ai còn nhớ vụ tướng bên kia cho lính cởi truồng ra đánh, lính của 2 bà tưng toàn nữ, xấu hổ nên đánh ko đc thua trận ko :d
Có chuyện là nó đem trống đồng ra ỉa đái lên đó nữa, làm nhục để quân khởi nghĩa ra đánh.
Truyện này không biết là từ đâu mà có, có lẽ là truyền thuyết dân gian thôi. Thực tế người Tàu rất trí trá tuy nhiên cũng k có bằng chứng gì cả. Tất cả là truyền thuyết
Cá nhân tao đánh giá quân Trưng Trắc không mạnh. Việc chống lại quân Hán dựa chủ yếu vào địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt. Vả lại thời đó, Việt Nam rất ít thành lũy bằng đất, đá... nên nếu nói dựa vào thành bền mà không ra đánh phải dùng trò mèo đó, thì không có đâu. Có lẽ mãi sau này mới có chuyện đó, để hạ thấp quân xâm lược mà thôi
 
Có chuyện là nó đem trống đồng ra ỉa đái lên đó nữa, làm nhục để quân khởi nghĩa ra đánh.
Truyện này không biết là từ đâu mà có, có lẽ là truyền thuyết dân gian thôi. Thực tế người Tàu rất trí trá tuy nhiên cũng k có bằng chứng gì cả. Tất cả là truyền thuyết
Cá nhân tao đánh giá quân Trưng Trắc không mạnh. Việc chống lại quân Hán dựa chủ yếu vào địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt. Vả lại thời đó, Việt Nam rất ít thành lũy bằng đất, đá... nên nếu nói dựa vào thành bền mà không ra đánh phải dùng trò mèo đó, thì không có đâu. Có lẽ mãi sau này mới có chuyện đó, để hạ thấp quân xâm lược mà thôi
Gian trá thì dân Kinh cũng gian trá không kém.
 
Triệu đà người Thái Bình, đền Đồng xâm vẫn thờ mà toàn gán cho mác người tàu chiếm nước
Triệu đà người Hán , vùng hà bắc trung quốc, miền bắc vn trước đây nhiều nơi thờ ông chứ ko riêng thái bình đâu , sau này từ khi dân trại ra nắm quyền và nhất là thời lê duẩn thì triệu đà đã bị nhiều nơi xóa bỏ , ko thờ
 
Người việt cổ kéo dài sang tận trung quốc ngày xưa mà, nếu tính nguồn gốc đẻ ra thì là trung quốc bây giờ
1. Việt Nam là hậu duệ người Lạc Việt, không phải cứ Bách Việt là Việt Nam
Đất bách việt xưa kéo tới hồ động đình, nam sông trường giang, còn Việt Nam mình - người Lạc Việt xưa chỉ giới hạn trong phạm vi 3 quận thời Hán - Cửu Chân, Giao Chỉ và Hợp phố, đại loại là gồm phần lớn bắc bộ đến hà tĩnh và phía đông tới tây nam Quảng Tây ngày nay
2. Triệu Đà người Chân Định (nay là Chính Định - tỉnh Hà bắc phía bắc Hoàng Hà, xưa thuộc phạm vi nước Triệu, thời Đông hán là vùng Ký châu. Cách rất xa, rất rất xa Việt Nam , cũng rất xa so với sông trường giang. Đà là người miền Yên Triệu,thuộc trung tâm văn hóa Hoa Hạ. Chả gốc gác gì với người Việt cả.
 

Có thể bạn quan tâm

Top