Bạn: Tu chính án là gì
ChatGPT:
Tu chính án là một văn bản sửa đổi hoặc bổ sung vào hiến pháp của một quốc gia. Mục đích của tu chính án là thay đổi, cập nhật hoặc làm rõ các quy định trong hiến pháp mà không cần viết lại toàn bộ hiến pháp.
Ví dụ:
Ở Hoa Kỳ, Hiến pháp có 27 tu chính án.
Nói đơn giản:
Có thể hiểu bằng một ví dụ đời thường: nếu hiến pháp giống như bản hợp đồng gốc, thì tu chính án là phụ lục hợp đồng dùng để sửa đổi hoặc bổ sung một số điều khoản, nhưng vẫn là một phần của hợp đồng đó và có giá trị pháp lý.
Bạn: Kể tất cả tu chính án và luật nó áp dụng
ChatGPT:
Nếu bạn đang hỏi tất cả 27 Tu chính án của Hiến pháp Hoa Kỳ, thì có thể hiểu ngắn gọn như sau:
Tu chính án 1 – năm 1791: Bảo vệ tự do tôn giáo, ngôn luận, báo chí, hội họp và kiến nghị chính phủ.
Tu chính án 2 – năm 1791: Bảo vệ quyền sở hữu và mang vũ khí.
Tu chính án 3 – năm 1791: Chính phủ không được tùy tiện bắt người dân cho binh lính ở trong nhà mình.
Tu chính án 4 – năm 1791: Bảo vệ người dân khỏi khám xét, bắt giữ tài sản vô lý; thông thường lệnh khám xét phải có căn cứ hợp lý.
Tu chính án 5 – năm 1791: Nhiều quyền của bị cáo: không bị xét xử hai lần cùng một tội; quyền không tự buộc tội mình; bảo đảm thủ tục pháp lý đúng đắn; quy định về trưng thu tài sản và bồi thường.
Tu chính án 6 – năm 1791: Người bị truy tố hình sự có quyền xét xử nhanh, công khai, có bồi thẩm đoàn, biết cáo buộc, đối chất nhân chứng và có luật sư.
Tu chính án 7 – năm 1791: Bảo vệ quyền xét xử bằng bồi thẩm đoàn trong một số vụ kiện dân sự liên bang.
Tu chính án 8 – năm 1791: Cấm tiền bảo lãnh và tiền phạt quá mức; cấm hình phạt tàn ác và bất thường.
Tu chính án 9 – năm 1791: Việc Hiến pháp liệt kê một số quyền không có nghĩa người dân chỉ có những quyền được liệt kê đó.
Tu chính án 10 – năm 1791: Quyền lực không giao cho chính phủ liên bang và không cấm các bang thực hiện thì được dành cho các bang hoặc nhân dân.
Tu chính án 11 – năm 1795: Hạn chế một số trường hợp cá nhân có thể kiện một bang tại tòa án liên bang.
Tu chính án 12 – năm 1804: Thay đổi cách Đại cử tri đoàn bầu Tổng thống và Phó Tổng thống: bỏ phiếu riêng cho hai chức vụ.
Tu chính án 13 – năm 1865: Bãi bỏ chế độ nô lệ và lao động cưỡng bức, ngoại trừ hình phạt đối với tội phạm theo quy định.
Tu chính án 14 – năm 1868: Quy định về quốc tịch, thủ tục pháp lý đúng đắn và bảo vệ bình đẳng trước pháp luật; có ảnh hưởng cực lớn đến quyền công dân.
Tu chính án 15 – năm 1870: Không được từ chối quyền bầu cử của công dân vì chủng tộc, màu da hoặc tình trạng từng là nô lệ.
Tu chính án 16 – năm 1913: Cho phép Quốc hội liên bang đánh thuế thu nhập mà không phải phân bổ thuế đó giữa các bang theo dân số.
Tu chính án 17 – năm 1913: Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ được người dân trực tiếp bầu, thay vì cơ quan lập pháp bang lựa chọn như trước.
Tu chính án 18 – năm 1919: Thiết lập thời kỳ cấm sản xuất, bán và vận chuyển đồ uống có cồn. Sau này bị Tu chính án 21 bãi bỏ.
Tu chính án 19 – năm 1920: Không được từ chối quyền bầu cử vì giới tính — có ý nghĩa quyết định đối với quyền bầu cử của phụ nữ.
Tu chính án 20 – năm 1933: Điều chỉnh ngày bắt đầu/kết thúc nhiệm kỳ: Tổng thống bắt đầu nhiệm kỳ vào 20 tháng 1, Quốc hội vào 3 tháng 1; đồng thời xử lý một số vấn đề chuyển giao quyền lực.
Tu chính án 21 – năm 1933: Bãi bỏ Tu chính án 18, chấm dứt lệnh cấm rượu ở cấp liên bang theo cơ chế đó.
Tu chính án 22 – năm 1951: Tổng thống về cơ bản không được đắc cử quá hai lần, với quy tắc riêng cho người kế nhiệm giữa nhiệm kỳ.
Tu chính án 23 – năm 1961: Cho Washington, D.C. tham gia bầu Tổng thống thông qua Đại cử tri đoàn, tối đa số đại cử tri bằng bang ít dân nhất.
Tu chính án 24 – năm 1964: Cấm dùng thuế thân (poll tax) làm điều kiện để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử liên bang.
Tu chính án 25 – năm 1967: Quy định rõ việc Phó Tổng thống kế nhiệm Tổng thống, cách bổ nhiệm Phó Tổng thống khi khuyết chức và xử lý khi Tổng thống không đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ.
Tu chính án 26 – năm 1971: Công dân Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên không thể bị từ chối quyền bầu cử vì tuổi.
Tu chính án 27 – năm 1992: Quốc hội có thể thay đổi lương nghị sĩ, nhưng việc thay đổi không có hiệu lực cho đến sau cuộc bầu cử Hạ viện tiếp theo.
10 Tu chính án đầu tiên đặc biệt quan trọng
Tu chính án 1–10 được gọi chung là Bill of Rights – Tuyên ngôn Nhân quyền, được phê chuẩn năm 1791.
Trong đời sống Hoa Kỳ hiện nay, bạn sẽ nghe nhắc rất nhiều đến Tu chính án 1, 2, 4, 5 và 14.
Chẳng hạn khi một người Mỹ nói “I plead the Fifth” hoặc “I invoke the Fifth”, họ đang nói đến Tu chính án thứ 5, cụ thể là quyền không bị buộc phải tự khai điều có thể khiến chính mình bị kết tội.
Một điểm rất quan trọng nữa: tu chính án không phải là một đạo luật bình thường. Nó là một phần của chính Hiến pháp Hoa Kỳ, nên có địa vị pháp lý cao hơn luật thông thường. Quốc hội hay một bang không thể ban hành luật trái với Hiến pháp; tòa án có thể tuyên quy định đó vi hiến.
Bạn: Có
ChatGPT:
Được. Tôi sẽ đi từng Tu chính án từ 1 đến 27, giải thích bằng tình huống thực tế để bạn thấy nó hoạt động như thế nào. Trước hết là 10 Tu chính án đầu tiên, vì đây là nhóm rất quan trọng.
Tu chính án thứ 1 – Tự do ngôn luận, tôn giáo, báo chí
Tu chính án này bảo vệ 5 nhóm quyền lớn: tôn giáo, ngôn luận, báo chí, hội họp và kiến nghị chính phủ.
Ví dụ: một người Mỹ đứng trước tòa thị chính và nói: “Tôi phản đối Tổng thống và chính sách của chính phủ”. Chính phủ nhìn chung không thể bắt người đó chỉ vì họ chỉ trích Tổng thống.
Báo chí cũng có quyền điều tra và đăng những thông tin bất lợi cho chính quyền, với những giới hạn pháp lý nhất định.
Nhưng tự do ngôn luận không phải tuyệt đối. Ví dụ, Tu chính án 1 không đơn giản biến mọi lời đe dọa thực sự, kích động hành vi phạm pháp tức thời hoặc một số hành vi bất hợp pháp khác thành hành vi được bảo vệ.
Tu chính án thứ 2 – Quyền mang vũ khí
Đây là một trong những tu chính án gây tranh luận nhiều nhất ở Mỹ.
Nó bảo vệ quyền của người dân giữ và mang vũ khí.
Ví dụ: một công dân đủ điều kiện có thể sở hữu súng để tự vệ, nhưng điều đó không có nghĩa bất kỳ ai cũng được mua bất kỳ loại vũ khí nào ở bất kỳ đâu. Chính phủ liên bang và các bang vẫn có nhiều quy định về mua, sở hữu và mang súng.
Các vụ kiện liên quan đến việc những hạn chế nào về súng là phù hợp với Tu chính án thứ 2 vẫn thường xuyên xuất hiện tại tòa án Mỹ.
Tu chính án thứ 3 – Không được ép dân cho quân đội ở trong nhà
Chính phủ không được tùy tiện nói:
“Nhà anh có phòng trống, quân đội sẽ vào đây ở.”
Trong thời bình, binh lính không được đóng trong nhà dân nếu chủ nhà không đồng ý.
Tu chính án này ngày nay rất hiếm khi trở thành vấn đề tranh tụng lớn.
Tu chính án thứ 4 – Cảnh sát không được tùy tiện khám xét
Đây là tu chính án cực kỳ quan trọng trong luật hình sự Mỹ.
Nó bảo vệ người dân khỏi những cuộc khám xét và thu giữ bất hợp lý.
Ví dụ cảnh sát nghi bạn giấu ma túy trong nhà. Thông thường họ không thể chỉ nói:
“Tôi nghi anh, mở cửa để chúng tôi vào khám.”
Trong nhiều trường hợp, cảnh sát phải xin lệnh khám xét của thẩm phán, dựa trên probable cause – căn cứ hợp lý.
Tuy nhiên có nhiều ngoại lệ, chẳng hạn một số trường hợp khẩn cấp, người có thẩm quyền tự nguyện đồng ý cho khám, hoặc một số tình huống liên quan đến bắt giữ hợp pháp.
Nếu cảnh sát thu thập chứng cứ bằng cách vi phạm Tu chính án thứ 4, chứng cứ đó trong một số trường hợp có thể bị loại khỏi phiên tòa.
Tu chính án thứ 5 – “Tôi có quyền không trả lời”
Bạn rất hay thấy điều này trong phim Mỹ.
Một nghi phạm có thể nói:
“I plead the Fifth.”
Nôm na là họ viện dẫn quyền theo Tu chính án thứ 5 để không bị buộc phải đưa ra lời khai có thể khiến chính mình bị truy cứu hình sự.
Ví dụ:
Công tố viên hỏi:
“Có phải chính anh đã lấy số tiền đó không?”
Nếu câu trả lời có khả năng khiến người đó tự buộc tội mình, họ có thể viện dẫn quyền chống tự buộc tội.
Tu chính án thứ 5 còn bảo vệ nhiều thứ khác, bao gồm due process – thủ tục pháp lý đúng đắn, nguyên tắc không bị xét xử hai lần cho cùng một tội trong phạm vi áp dụng của quy tắc double jeopardy, và yêu cầu bồi thường hợp lý khi chính phủ trưng dụng tài sản tư cho mục đích công.
Tu chính án thứ 6 – Quyền của bị cáo hình sự
Nếu bị truy tố hình sự, người đó có nhiều quyền quan trọng:
được xét xử nhanh và công khai; được biết mình bị cáo buộc tội gì; được đối chất với nhân chứng chống lại mình; có quyền có luật sư; và có quyền được xét xử bởi bồi thẩm đoàn trong những trường hợp thuộc phạm vi áp dụng.
Ví dụ một người nghèo bị truy tố về một tội nghiêm trọng nhưng không đủ tiền thuê luật sư. Trong những trường hợp Hiến pháp yêu cầu, nhà nước phải cung cấp luật sư cho bị cáo.
Đây là nguồn gốc của hình ảnh luật sư do tòa chỉ định mà bạn thường thấy trong phim Mỹ.
Tu chính án thứ 7 – Bồi thẩm đoàn trong án dân sự
Không phải vụ án nào cũng là án hình sự.
Ví dụ A kiện B đòi tiền vì tranh chấp hợp đồng. Trong những vụ dân sự liên bang thuộc phạm vi Tu chính án thứ 7, quyền xét xử bằng bồi thẩm đoàn được bảo vệ.
Điểm đáng chú ý là Tu chính án thứ 7 chủ yếu liên quan đến hệ thống tòa án liên bang, chứ không được áp dụng cho các bang theo cách giống nhiều quyền khác trong Bill of Rights.
Tu chính án thứ 8 – Không được trừng phạt quá mức
Cấm:
tiền bảo lãnh quá mức; tiền phạt quá mức; và hình phạt tàn ác và bất thường.
Ví dụ một hình phạt đặc biệt vô nhân đạo có thể bị thách thức dựa trên Tu chính án thứ 8.
Tu chính án này cũng là một phần quan trọng trong các tranh luận pháp lý về án tử hình và điều kiện giam giữ tại Mỹ.
Tu chính án thứ 9 – Người dân còn những quyền khác
Điều này khá thú vị.
Hiến pháp liệt kê một số quyền không có nghĩa là:
“Ngoài những quyền được ghi ở đây thì người dân chẳng còn quyền nào khác.”
Tu chính án thứ 9 nhằm bác bỏ cách hiểu đó.
Nói đơn giản: danh sách quyền trong Hiến pháp không nhất thiết là danh sách đóng.
Tu chính án thứ 10 – Quyền của các bang
Đây là một phần quan trọng để hiểu tại sao Mỹ có 50 bang và luật giữa các bang có thể khác nhau rất nhiều.
Về nguyên tắc, những quyền lực mà Hiến pháp không trao cho chính phủ liên bang và cũng không cấm các bang thực hiện được dành cho các bang hoặc nhân dân.
Vì vậy Hoa Kỳ có hai tầng quyền lực lớn:
Chính phủ liên bang → quản lý những lĩnh vực thuộc thẩm quyền liên bang.
Chính quyền bang → có quyền lực riêng trong nhiều lĩnh vực.
Do đó bạn có thể thấy một việc được luật của bang này cho phép nhưng bang khác lại quản lý khác.
Từ Tu chính án 11 trở đi
13 → xóa bỏ chế độ nô lệ.
14 → quốc tịch + bình đẳng trước pháp luật; đây là một trong những tu chính án có ảnh hưởng lớn nhất đến luật Mỹ hiện đại.
15 → quyền bầu cử không được bị từ chối vì chủng tộc.
18 → Mỹ cấm rượu.
21 → sau đó Mỹ thông qua một tu chính án khác để bãi bỏ lệnh cấm rượu.
22 → Tổng thống về cơ bản chỉ được đắc cử tối đa 2 lần.
25 → cực kỳ quan trọng nếu Tổng thống chết, từ chức hoặc không còn khả năng thực hiện nhiệm vụ.
27 → liên quan đến việc Quốc hội thay đổi lương của chính các nghị sĩ.
ChatGPT:
Tu chính án là một văn bản sửa đổi hoặc bổ sung vào hiến pháp của một quốc gia. Mục đích của tu chính án là thay đổi, cập nhật hoặc làm rõ các quy định trong hiến pháp mà không cần viết lại toàn bộ hiến pháp.
Ví dụ:
Ở Hoa Kỳ, Hiến pháp có 27 tu chính án.
- 10 tu chính án đầu tiên được gọi là Bill of Rights, bảo đảm các quyền cơ bản như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền mang vũ khí và quyền được xét xử công bằng.
- Tu chính án thứ 13 bãi bỏ chế độ nô lệ.
- Tu chính án thứ 19 trao quyền bầu cử cho phụ nữ trên toàn quốc.
Nói đơn giản:
- Hiến pháp là bộ luật gốc, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
- Tu chính án là những thay đổi hoặc bổ sung chính thức đối với hiến pháp, được thông qua theo một quy trình đặc biệt, thường nghiêm ngặt hơn việc ban hành luật thông thường.
Có thể hiểu bằng một ví dụ đời thường: nếu hiến pháp giống như bản hợp đồng gốc, thì tu chính án là phụ lục hợp đồng dùng để sửa đổi hoặc bổ sung một số điều khoản, nhưng vẫn là một phần của hợp đồng đó và có giá trị pháp lý.
Bạn: Kể tất cả tu chính án và luật nó áp dụng
ChatGPT:
Nếu bạn đang hỏi tất cả 27 Tu chính án của Hiến pháp Hoa Kỳ, thì có thể hiểu ngắn gọn như sau:
Tu chính án 1 – năm 1791: Bảo vệ tự do tôn giáo, ngôn luận, báo chí, hội họp và kiến nghị chính phủ.
Tu chính án 2 – năm 1791: Bảo vệ quyền sở hữu và mang vũ khí.
Tu chính án 3 – năm 1791: Chính phủ không được tùy tiện bắt người dân cho binh lính ở trong nhà mình.
Tu chính án 4 – năm 1791: Bảo vệ người dân khỏi khám xét, bắt giữ tài sản vô lý; thông thường lệnh khám xét phải có căn cứ hợp lý.
Tu chính án 5 – năm 1791: Nhiều quyền của bị cáo: không bị xét xử hai lần cùng một tội; quyền không tự buộc tội mình; bảo đảm thủ tục pháp lý đúng đắn; quy định về trưng thu tài sản và bồi thường.
Tu chính án 6 – năm 1791: Người bị truy tố hình sự có quyền xét xử nhanh, công khai, có bồi thẩm đoàn, biết cáo buộc, đối chất nhân chứng và có luật sư.
Tu chính án 7 – năm 1791: Bảo vệ quyền xét xử bằng bồi thẩm đoàn trong một số vụ kiện dân sự liên bang.
Tu chính án 8 – năm 1791: Cấm tiền bảo lãnh và tiền phạt quá mức; cấm hình phạt tàn ác và bất thường.
Tu chính án 9 – năm 1791: Việc Hiến pháp liệt kê một số quyền không có nghĩa người dân chỉ có những quyền được liệt kê đó.
Tu chính án 10 – năm 1791: Quyền lực không giao cho chính phủ liên bang và không cấm các bang thực hiện thì được dành cho các bang hoặc nhân dân.
Tu chính án 11 – năm 1795: Hạn chế một số trường hợp cá nhân có thể kiện một bang tại tòa án liên bang.
Tu chính án 12 – năm 1804: Thay đổi cách Đại cử tri đoàn bầu Tổng thống và Phó Tổng thống: bỏ phiếu riêng cho hai chức vụ.
Tu chính án 13 – năm 1865: Bãi bỏ chế độ nô lệ và lao động cưỡng bức, ngoại trừ hình phạt đối với tội phạm theo quy định.
Tu chính án 14 – năm 1868: Quy định về quốc tịch, thủ tục pháp lý đúng đắn và bảo vệ bình đẳng trước pháp luật; có ảnh hưởng cực lớn đến quyền công dân.
Tu chính án 15 – năm 1870: Không được từ chối quyền bầu cử của công dân vì chủng tộc, màu da hoặc tình trạng từng là nô lệ.
Tu chính án 16 – năm 1913: Cho phép Quốc hội liên bang đánh thuế thu nhập mà không phải phân bổ thuế đó giữa các bang theo dân số.
Tu chính án 17 – năm 1913: Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ được người dân trực tiếp bầu, thay vì cơ quan lập pháp bang lựa chọn như trước.
Tu chính án 18 – năm 1919: Thiết lập thời kỳ cấm sản xuất, bán và vận chuyển đồ uống có cồn. Sau này bị Tu chính án 21 bãi bỏ.
Tu chính án 19 – năm 1920: Không được từ chối quyền bầu cử vì giới tính — có ý nghĩa quyết định đối với quyền bầu cử của phụ nữ.
Tu chính án 20 – năm 1933: Điều chỉnh ngày bắt đầu/kết thúc nhiệm kỳ: Tổng thống bắt đầu nhiệm kỳ vào 20 tháng 1, Quốc hội vào 3 tháng 1; đồng thời xử lý một số vấn đề chuyển giao quyền lực.
Tu chính án 21 – năm 1933: Bãi bỏ Tu chính án 18, chấm dứt lệnh cấm rượu ở cấp liên bang theo cơ chế đó.
Tu chính án 22 – năm 1951: Tổng thống về cơ bản không được đắc cử quá hai lần, với quy tắc riêng cho người kế nhiệm giữa nhiệm kỳ.
Tu chính án 23 – năm 1961: Cho Washington, D.C. tham gia bầu Tổng thống thông qua Đại cử tri đoàn, tối đa số đại cử tri bằng bang ít dân nhất.
Tu chính án 24 – năm 1964: Cấm dùng thuế thân (poll tax) làm điều kiện để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử liên bang.
Tu chính án 25 – năm 1967: Quy định rõ việc Phó Tổng thống kế nhiệm Tổng thống, cách bổ nhiệm Phó Tổng thống khi khuyết chức và xử lý khi Tổng thống không đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ.
Tu chính án 26 – năm 1971: Công dân Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên không thể bị từ chối quyền bầu cử vì tuổi.
Tu chính án 27 – năm 1992: Quốc hội có thể thay đổi lương nghị sĩ, nhưng việc thay đổi không có hiệu lực cho đến sau cuộc bầu cử Hạ viện tiếp theo.
10 Tu chính án đầu tiên đặc biệt quan trọng
Tu chính án 1–10 được gọi chung là Bill of Rights – Tuyên ngôn Nhân quyền, được phê chuẩn năm 1791.
Trong đời sống Hoa Kỳ hiện nay, bạn sẽ nghe nhắc rất nhiều đến Tu chính án 1, 2, 4, 5 và 14.
Chẳng hạn khi một người Mỹ nói “I plead the Fifth” hoặc “I invoke the Fifth”, họ đang nói đến Tu chính án thứ 5, cụ thể là quyền không bị buộc phải tự khai điều có thể khiến chính mình bị kết tội.
Một điểm rất quan trọng nữa: tu chính án không phải là một đạo luật bình thường. Nó là một phần của chính Hiến pháp Hoa Kỳ, nên có địa vị pháp lý cao hơn luật thông thường. Quốc hội hay một bang không thể ban hành luật trái với Hiến pháp; tòa án có thể tuyên quy định đó vi hiến.
Bạn: Có
ChatGPT:
Được. Tôi sẽ đi từng Tu chính án từ 1 đến 27, giải thích bằng tình huống thực tế để bạn thấy nó hoạt động như thế nào. Trước hết là 10 Tu chính án đầu tiên, vì đây là nhóm rất quan trọng.
Tu chính án thứ 1 – Tự do ngôn luận, tôn giáo, báo chí
Tu chính án này bảo vệ 5 nhóm quyền lớn: tôn giáo, ngôn luận, báo chí, hội họp và kiến nghị chính phủ.
Ví dụ: một người Mỹ đứng trước tòa thị chính và nói: “Tôi phản đối Tổng thống và chính sách của chính phủ”. Chính phủ nhìn chung không thể bắt người đó chỉ vì họ chỉ trích Tổng thống.
Báo chí cũng có quyền điều tra và đăng những thông tin bất lợi cho chính quyền, với những giới hạn pháp lý nhất định.
Nhưng tự do ngôn luận không phải tuyệt đối. Ví dụ, Tu chính án 1 không đơn giản biến mọi lời đe dọa thực sự, kích động hành vi phạm pháp tức thời hoặc một số hành vi bất hợp pháp khác thành hành vi được bảo vệ.
Tu chính án thứ 2 – Quyền mang vũ khí
Đây là một trong những tu chính án gây tranh luận nhiều nhất ở Mỹ.
Nó bảo vệ quyền của người dân giữ và mang vũ khí.
Ví dụ: một công dân đủ điều kiện có thể sở hữu súng để tự vệ, nhưng điều đó không có nghĩa bất kỳ ai cũng được mua bất kỳ loại vũ khí nào ở bất kỳ đâu. Chính phủ liên bang và các bang vẫn có nhiều quy định về mua, sở hữu và mang súng.
Các vụ kiện liên quan đến việc những hạn chế nào về súng là phù hợp với Tu chính án thứ 2 vẫn thường xuyên xuất hiện tại tòa án Mỹ.
Tu chính án thứ 3 – Không được ép dân cho quân đội ở trong nhà
Chính phủ không được tùy tiện nói:
“Nhà anh có phòng trống, quân đội sẽ vào đây ở.”
Trong thời bình, binh lính không được đóng trong nhà dân nếu chủ nhà không đồng ý.
Tu chính án này ngày nay rất hiếm khi trở thành vấn đề tranh tụng lớn.
Tu chính án thứ 4 – Cảnh sát không được tùy tiện khám xét
Đây là tu chính án cực kỳ quan trọng trong luật hình sự Mỹ.
Nó bảo vệ người dân khỏi những cuộc khám xét và thu giữ bất hợp lý.
Ví dụ cảnh sát nghi bạn giấu ma túy trong nhà. Thông thường họ không thể chỉ nói:
“Tôi nghi anh, mở cửa để chúng tôi vào khám.”
Trong nhiều trường hợp, cảnh sát phải xin lệnh khám xét của thẩm phán, dựa trên probable cause – căn cứ hợp lý.
Tuy nhiên có nhiều ngoại lệ, chẳng hạn một số trường hợp khẩn cấp, người có thẩm quyền tự nguyện đồng ý cho khám, hoặc một số tình huống liên quan đến bắt giữ hợp pháp.
Nếu cảnh sát thu thập chứng cứ bằng cách vi phạm Tu chính án thứ 4, chứng cứ đó trong một số trường hợp có thể bị loại khỏi phiên tòa.
Tu chính án thứ 5 – “Tôi có quyền không trả lời”
Bạn rất hay thấy điều này trong phim Mỹ.
Một nghi phạm có thể nói:
“I plead the Fifth.”
Nôm na là họ viện dẫn quyền theo Tu chính án thứ 5 để không bị buộc phải đưa ra lời khai có thể khiến chính mình bị truy cứu hình sự.
Ví dụ:
Công tố viên hỏi:
“Có phải chính anh đã lấy số tiền đó không?”
Nếu câu trả lời có khả năng khiến người đó tự buộc tội mình, họ có thể viện dẫn quyền chống tự buộc tội.
Tu chính án thứ 5 còn bảo vệ nhiều thứ khác, bao gồm due process – thủ tục pháp lý đúng đắn, nguyên tắc không bị xét xử hai lần cho cùng một tội trong phạm vi áp dụng của quy tắc double jeopardy, và yêu cầu bồi thường hợp lý khi chính phủ trưng dụng tài sản tư cho mục đích công.
Tu chính án thứ 6 – Quyền của bị cáo hình sự
Nếu bị truy tố hình sự, người đó có nhiều quyền quan trọng:
được xét xử nhanh và công khai; được biết mình bị cáo buộc tội gì; được đối chất với nhân chứng chống lại mình; có quyền có luật sư; và có quyền được xét xử bởi bồi thẩm đoàn trong những trường hợp thuộc phạm vi áp dụng.
Ví dụ một người nghèo bị truy tố về một tội nghiêm trọng nhưng không đủ tiền thuê luật sư. Trong những trường hợp Hiến pháp yêu cầu, nhà nước phải cung cấp luật sư cho bị cáo.
Đây là nguồn gốc của hình ảnh luật sư do tòa chỉ định mà bạn thường thấy trong phim Mỹ.
Tu chính án thứ 7 – Bồi thẩm đoàn trong án dân sự
Không phải vụ án nào cũng là án hình sự.
Ví dụ A kiện B đòi tiền vì tranh chấp hợp đồng. Trong những vụ dân sự liên bang thuộc phạm vi Tu chính án thứ 7, quyền xét xử bằng bồi thẩm đoàn được bảo vệ.
Điểm đáng chú ý là Tu chính án thứ 7 chủ yếu liên quan đến hệ thống tòa án liên bang, chứ không được áp dụng cho các bang theo cách giống nhiều quyền khác trong Bill of Rights.
Tu chính án thứ 8 – Không được trừng phạt quá mức
Cấm:
tiền bảo lãnh quá mức; tiền phạt quá mức; và hình phạt tàn ác và bất thường.
Ví dụ một hình phạt đặc biệt vô nhân đạo có thể bị thách thức dựa trên Tu chính án thứ 8.
Tu chính án này cũng là một phần quan trọng trong các tranh luận pháp lý về án tử hình và điều kiện giam giữ tại Mỹ.
Tu chính án thứ 9 – Người dân còn những quyền khác
Điều này khá thú vị.
Hiến pháp liệt kê một số quyền không có nghĩa là:
“Ngoài những quyền được ghi ở đây thì người dân chẳng còn quyền nào khác.”
Tu chính án thứ 9 nhằm bác bỏ cách hiểu đó.
Nói đơn giản: danh sách quyền trong Hiến pháp không nhất thiết là danh sách đóng.
Tu chính án thứ 10 – Quyền của các bang
Đây là một phần quan trọng để hiểu tại sao Mỹ có 50 bang và luật giữa các bang có thể khác nhau rất nhiều.
Về nguyên tắc, những quyền lực mà Hiến pháp không trao cho chính phủ liên bang và cũng không cấm các bang thực hiện được dành cho các bang hoặc nhân dân.
Vì vậy Hoa Kỳ có hai tầng quyền lực lớn:
Chính phủ liên bang → quản lý những lĩnh vực thuộc thẩm quyền liên bang.
Chính quyền bang → có quyền lực riêng trong nhiều lĩnh vực.
Do đó bạn có thể thấy một việc được luật của bang này cho phép nhưng bang khác lại quản lý khác.
Từ Tu chính án 11 trở đi
13 → xóa bỏ chế độ nô lệ.
14 → quốc tịch + bình đẳng trước pháp luật; đây là một trong những tu chính án có ảnh hưởng lớn nhất đến luật Mỹ hiện đại.
15 → quyền bầu cử không được bị từ chối vì chủng tộc.
18 → Mỹ cấm rượu.
21 → sau đó Mỹ thông qua một tu chính án khác để bãi bỏ lệnh cấm rượu.
22 → Tổng thống về cơ bản chỉ được đắc cử tối đa 2 lần.
25 → cực kỳ quan trọng nếu Tổng thống chết, từ chức hoặc không còn khả năng thực hiện nhiệm vụ.
27 → liên quan đến việc Quốc hội thay đổi lương của chính các nghị sĩ.