hophan288
Bò lái xe
Christoper Columbus tới châu Mỹ trong hành trình thám hiểm. (Tranh: L. Prang & Co., Boston, Wikipedia, Public Domain)
1 – Nguyên do thám hiểm
Trong lịch sử của thế giới Tây phương và trong hai thế kỷ giữa các năm 1420 và 1620, người châu Âu đã mạo hiểm, vượt biển để đi tìm hiểu các miền đất xa lạ. Sự khám phá của họ đã đưa đến việc thuộc địa hóa và định cư tại các vùng đất mới, đã mang lại cho họ các sản phẩm mới, tài sản mới, cơ hội mới, vấn đề mới và cách suy nghĩ mới. Cũng do các công cuộc thám hiểm và khám phá của người châu Âu này mà các quốc gia mới được thành lập, chẳng hạn như quốc gia Hoa Kỳ.
Các nhà thám hiểm với tên họ quen thuộc với chúng ta như Vasco da Gama, Christopher Columbus, Ferdinand Magellan… đã ra đi vì các mục đích nào, bằng các phương tiện nào và đã đạt được các thành quả nào? Tại sao các công cuộc thám hiểm và khám phá lại bắt đầu do các quốc gia Tây Âu, mà không phải do các nước đã có một nền văn minh tương đối phát triển như Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản tại châu Á, do các nước theo đạo Hồi tại châu Phi và miền Trung Đông, do các xứ Aztecs, Inca và Maya của miền Trung Mỹ?
Vào thời kỳ đó, các miền đất kể trên đã là các lãnh thổ rộng lớn hơn, có các trình độ văn minh cao hơn các quốc gia Tây Âu. Các quốc gia như Trung Hoa đã có dân số phát triển, có nền văn minh riêng với khoa học, kỹ thuật và văn chương, họ có cả các cuốn sách và bản đồ mô tả về lãnh thổ của họ.
Vào thời kỳ Đen Tối (the Dark Ages), những người Scandinavian đã tới được miền Bắc Mỹ trước Christopher Columbus, rồi trong thế kỷ 13, đã có những nhà thám hiểm như Giovanni de Plano Carpini, Willen van Rujsbroek và Marco Polo… Thời đại thám hiểm liên quan tới thời kỳ Phục Hưng (the Renaissance), theo đó con người bắt đầu tìm hiểu các hiện tượng thiên nhiên, xét lại các thành quả cũ đã đạt được với sự trong sáng mới, cách khảo cứu và suy luận mới…
Vào đầu thế kỷ 15, phương pháp thám hiểm hàng hải bắt đầu được tổ chức theo hệ thống, nhờ đó các kỹ thuật đi biển được cải tiến. Việc thám hiểm và khám phá được các vua chúa và các nhà tài chính chủ trương, khuyến khích. Họ hiểu rằng các con tàu biển tốt hơn, cùng với các dụng dụ đo lường chính xác hơn, các phương pháp vẽ bản đồ và kỹ thuật đi biển mới… đã khiến cho các hải trình xa hơn, khó khăn hơn được thực hiện.
Vào thời kỳ đó, người châu Âu đã biết rằng có các quốc gia như Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ…, việc tìm cách tới được những quốc gia này sẽ mang lại nhiều lợi ích nhờ thương mại. Các quốc gia dẫn đầu trong việc thám hiểm và khám phá là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp và Hòa Lan. Trí tưởng tượng phong phú của người châu Âu, các nhu cầu đặc biệt của thời kỳ đó đã khiến cho họ đi tìm hiểu thế giới bên ngoài. Châu Âu của thời kỳ Phục Hưng rất cần các kim loại quý và các thứ hương liệu (spices).
Vào thời Trung Cổ (the Middle Ages), các thương gia của châu Âu đã trao đổi để có vàng, lụa và các loại hương liệu của miền Viễn Đông nhưng sang thế kỷ 15, các chính quyền của châu Âu đã tham gia vào việc khám phá, không phải do lòng tham mà do nhu cầu. Châu Âu vào thời kỳ này đã thiếu kim loại quý để đúc tiền. Các mỏ vàng tại Ái Nhĩ Lan (Ireland) đã cạn, các mỏ bạc tại Đức dù cho khá phong phú cũng không đáp ứng được sức cầu. Không có tiền đúc ra, sẽ không có sự trao đổi tài chính và nền thương mại không thể phát triển. Các khối vàng bạc để đúc tiền không những tượng trưng cho sự giàu có mà còn là một phương tiện để làm tăng thêm sự giàu có.
Vào thời kỳ Phục Hưng, thực phẩm chỉ có thể lưu trữ được nhờ muối rồi sau đó, nhờ cách ướp bằng các hương liệu vì thời bấy giờ chưa có kỹ thuật đông lạnh và các phương tiện vận chuyển thực phẩm còn thô sơ. Gia vị như vậy rất cần thiết ngoài lợi ích giúp cho đồ ăn có các hương vị đặc biệt.
Nhu cầu thứ ba của việc thám hiểm và khám phá là niềm tin tôn giáo. Các người sùng đạo đã muốn làm vừa lòng Thiên Chúa bằng cách giảng đạo và cải biến những kẻ dị giáo theo họ. Dân chúng và chính quyền Tây phương vào thời kỳ này đã tin tưởng rằng nhiệm vụ của họ là làm cho các người khác tôn giáo hay vô tôn giáo có cùng niềm tin như chính họ. Nhu cầu này còn có một lợi ích thực tế khác là những thổ dân theo đạo mới đã trở nên dễ bảo hơn, các tù trưởng cải đạo đã cộng tác và phục vụ chân thành hơn cho người châu Âu.
Cũng vì thế, mặc dù biết rằng công cuộc thám hiểm thành công hay thất bại được căn cứ vào số vàng bạc và hương liệu mang về, Christopher Columbus còn ghi thêm vào sổ về miền đất mới của châu Mỹ một cách thành thực rằng: “Tôi cho rằng điều ước mong chính của nhà Vua của chúng tôi là cải biến dân tộc này theo niềm tin của Chúa”. Người biện hộ cho các hoạt động thám hiểm của nước Anh là Richard Hakluyt đã phát biểu rằng việc mở rộng lãnh thổ của Nữ Hoàng Anh sẽ mang lại lợi nhuận, quyền lực, danh dự và cả việc làm sáng danh Chúa bằng cách ươm trồng tôn giáo vào các kẻ dị giáo hay không có tín ngưỡng.
Vào thời kỳ Phục Hưng, việc quan tâm tới thám hiểm và khám phá không phải lý do kiến thức (knowledge). Người châu Âu chỉ muốn khai thác các mỏ kim loại quý rồi sau đó, lo bảo vệ các con đường thương mại đã được tìm thấy. Cũng vào lúc này, người châu Âu biết rằng nhờ các con tàu biển, các thủy thủ gan dạ có thể tới được bất cứ miền đất nào có bờ biển rồi quay về xứ an toàn. Đây là điều quan trọng nhất.
Người Norse (Norsemen) đã vượt qua vùng biển bắc Đại Tây Dương bằng các con thuyền có lẽ được trang bị bằng một cánh buồm và họ có thể đi khá xa. Người Scandinavian đã tìm cách vượt biển, di cư tới miền đất mới vì quê hương của họ chật hẹp và đông người. Trái với hai giống người kể trên, các nhà thám hiểm châu Âu thuộc thế kỷ 15 lại có một quan niệm khác: họ muốn trở về quê hương, mang về tài sản kiếm được.