newboi
Đàn iem Duy Mạnh
dịch nhanh một đoạn wiki tiếng Anh. Vietnamese boat people - Wikipedia
tao đọc xong nghĩ ngay là thách kẹo bọn nó dám dịch ra tiếng Việt
quả nhiên đối chiếu sang wiki tiếng Việt không thấy.
vi.wikipedia.org
chắc sẽ bị đổ wiki tiếng Anh là thế lực thù địch đặt điều vu khống :vozvn (23): nhưng thôi quyền phán xét tùy mỗi người đọc.
Bối cảnh (Background)
Chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30/4/1975 với thất thủ của Sài Gòn trước quân giải phóng nhân dân Việt Nam và theo đó là di tản của hơn 130 000 người Việt có quan hệ thân thiết với Hoa Kỳ hoặc chính phủ Nam Việt khi đó. Hầu hết những cuộc di tản được tổ chức với Hoa Kỳ trong Chiến dịch cuộc sống mới và Chiến dịch bến đỗ mới. Chính phủ Hoa Kỳ vận chuyển người di tản từ Việt Nam qua máy bay và tàu biển tạm thời đến đảo Guam trước khi chuyển đến những điểm đích ở Hoa Kỳ. Trong cùng năm đó (1975) lực lượng c+ng sản dành quyền kiểm soát Lào và Campuchia, đẩy một làn sóng tăng dần di tản từ cả ba nước này. Năm 1975 tổng thống Gerald Ford ký đạo luật nhập cư và di tản Đông Dương, chi ra khoảng 415 triệu đôla cho vận chuyển, y tế và nơi ở cho 130 000 người di tản từ Việt Nam, Lào và Campuchia.
Sau cuộc di tản Sài Gòn, số lượng người Việt tiếp tục rời đi duy trì ở mức thấp cho đến giữa 1978. Nhiều yếu tố đưa đến cuộc khủng hoảng tản cư, bao gồm khó khăn kinh tế và chiến tranh giữa Việt Trung Campuchia. Thêm đó, lên đến 300 000 người, đặc biệt những ai liên hệ với chính phủ cũ và binh lính Nam Việt Nam, đã bị gửi đến những trại cải tạo, nơi nhiều người bị tra tấn, bỏ đói và bệnh dịch trong khi bị buộc lao động khổ sai. Bên cạnh đó 1 triệu người, hầu hết dân thành thị, "tình nguyện" đến sống với "Những vùng kinh tế mới" nơi họ phải tồn tại bằng cách tự khai khẩn và chặt dẹp bỏ cây rừng lấy đất trồng trọt.
Đàn áp đặc biệt hà khắc với người Hoa, sắc dân Trung Quốc ở Việt Nam. Do căng thẳng Việt Trung, dẫn đến xâm lược 1979 của Trung Quốc lên Việt Nam, người Hoa bị coi là hiểm họa an ninh với chính phủ Việt. Người Hoa kiểm soát gần hết cơ sở bán lẻ ở Nam Việt, và chính phủ c+ng sản tăng cường ép họ bằng thuế, đặt hạn chế lên thương mại và cả tịch thu doanh nghiệp. Vào tháng 5 năm 1978, người Hoa bắt đầu rời Việt Nam số lượng lớn để đến Trung Quốc, lúc đầu bằng đường bộ. Cuối năm 1979 kết quả của Chiến tranh Trung Việt là 250 000 người Hoa tìm tị nạn tại Trung Quốc và nhiều vạn người nữa nằm trong số những thuyền nhân Việt rải rác khắp Đông Nam Á và ở Hồng Kong.
Chính phủ Việt Nam và các công chức c+ng sản đã thu lợi nhuận từ dòng chảy người tị nạn, đặc biệt với những người Hoa-thường-là-giàu-có này. Giá tiền để được cấp phép, tài liệu chứng nhận và tàu biển hoặc thuyền, thường không minh bạch, để rời Việt Nam được ghi nhận là khoảng tương đương 3000 đôla cho người lớn và một nửa số đó cho trẻ em. Những khoản này thường được thanh toán bằng vàng thỏi. Nhiều người Việt rời đất nước trong bí mật không có giấy xác nhận và trên những con thuyền nguy hiểm, dễ thành mục tiêu cho hải tặc và bão biển.
Đã có nhiều phương pháp mà người Việt đã áp dụng để di tản. Hầu hết vào ban đêm; một số nhờ vào hối lộ công chức cấp cao chính phủ. Vài người đã mua chỗ trên những thuyền lớn có sức chứa đến vài trăm hành khách. Số khác đi thuyền cá (đánh bắt cá là nghề phổ biến ở Việt Nam) để di tản.
Một phương pháp được áp dụng bởi số người thuộc tầng lớp trung lưu ở Sài Gòn, trên tay giấy tờ nhân thân giả mạo, di chuyển khoảng 1100 km (680 dặm) đến Đà Nẵng bằng đường bộ. Đến nơi họ sẽ đợi đến 2 ngày tại nơi trú ẩn chờ lên những thuyền cá ọp ẹp hoặc thuyền kéo để đưa từng nhóm nhỏ ra vùng biển quốc tế. Lên kế hoạch cho chuyến đi như vậy mất nhiều tháng, thậm chí đến năm. Mặc dù những nỗ lực này thường dẫn đến tiêu tốn tiền của, người ta cũng thường phải trải qua vài lần thất bại trước khi vượt biển thành công.
tao đọc xong nghĩ ngay là thách kẹo bọn nó dám dịch ra tiếng Việt
Thuyền nhân Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt
Bối cảnh (Background)
Chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30/4/1975 với thất thủ của Sài Gòn trước quân giải phóng nhân dân Việt Nam và theo đó là di tản của hơn 130 000 người Việt có quan hệ thân thiết với Hoa Kỳ hoặc chính phủ Nam Việt khi đó. Hầu hết những cuộc di tản được tổ chức với Hoa Kỳ trong Chiến dịch cuộc sống mới và Chiến dịch bến đỗ mới. Chính phủ Hoa Kỳ vận chuyển người di tản từ Việt Nam qua máy bay và tàu biển tạm thời đến đảo Guam trước khi chuyển đến những điểm đích ở Hoa Kỳ. Trong cùng năm đó (1975) lực lượng c+ng sản dành quyền kiểm soát Lào và Campuchia, đẩy một làn sóng tăng dần di tản từ cả ba nước này. Năm 1975 tổng thống Gerald Ford ký đạo luật nhập cư và di tản Đông Dương, chi ra khoảng 415 triệu đôla cho vận chuyển, y tế và nơi ở cho 130 000 người di tản từ Việt Nam, Lào và Campuchia.
Sau cuộc di tản Sài Gòn, số lượng người Việt tiếp tục rời đi duy trì ở mức thấp cho đến giữa 1978. Nhiều yếu tố đưa đến cuộc khủng hoảng tản cư, bao gồm khó khăn kinh tế và chiến tranh giữa Việt Trung Campuchia. Thêm đó, lên đến 300 000 người, đặc biệt những ai liên hệ với chính phủ cũ và binh lính Nam Việt Nam, đã bị gửi đến những trại cải tạo, nơi nhiều người bị tra tấn, bỏ đói và bệnh dịch trong khi bị buộc lao động khổ sai. Bên cạnh đó 1 triệu người, hầu hết dân thành thị, "tình nguyện" đến sống với "Những vùng kinh tế mới" nơi họ phải tồn tại bằng cách tự khai khẩn và chặt dẹp bỏ cây rừng lấy đất trồng trọt.
Đàn áp đặc biệt hà khắc với người Hoa, sắc dân Trung Quốc ở Việt Nam. Do căng thẳng Việt Trung, dẫn đến xâm lược 1979 của Trung Quốc lên Việt Nam, người Hoa bị coi là hiểm họa an ninh với chính phủ Việt. Người Hoa kiểm soát gần hết cơ sở bán lẻ ở Nam Việt, và chính phủ c+ng sản tăng cường ép họ bằng thuế, đặt hạn chế lên thương mại và cả tịch thu doanh nghiệp. Vào tháng 5 năm 1978, người Hoa bắt đầu rời Việt Nam số lượng lớn để đến Trung Quốc, lúc đầu bằng đường bộ. Cuối năm 1979 kết quả của Chiến tranh Trung Việt là 250 000 người Hoa tìm tị nạn tại Trung Quốc và nhiều vạn người nữa nằm trong số những thuyền nhân Việt rải rác khắp Đông Nam Á và ở Hồng Kong.
Chính phủ Việt Nam và các công chức c+ng sản đã thu lợi nhuận từ dòng chảy người tị nạn, đặc biệt với những người Hoa-thường-là-giàu-có này. Giá tiền để được cấp phép, tài liệu chứng nhận và tàu biển hoặc thuyền, thường không minh bạch, để rời Việt Nam được ghi nhận là khoảng tương đương 3000 đôla cho người lớn và một nửa số đó cho trẻ em. Những khoản này thường được thanh toán bằng vàng thỏi. Nhiều người Việt rời đất nước trong bí mật không có giấy xác nhận và trên những con thuyền nguy hiểm, dễ thành mục tiêu cho hải tặc và bão biển.
Đã có nhiều phương pháp mà người Việt đã áp dụng để di tản. Hầu hết vào ban đêm; một số nhờ vào hối lộ công chức cấp cao chính phủ. Vài người đã mua chỗ trên những thuyền lớn có sức chứa đến vài trăm hành khách. Số khác đi thuyền cá (đánh bắt cá là nghề phổ biến ở Việt Nam) để di tản.
Một phương pháp được áp dụng bởi số người thuộc tầng lớp trung lưu ở Sài Gòn, trên tay giấy tờ nhân thân giả mạo, di chuyển khoảng 1100 km (680 dặm) đến Đà Nẵng bằng đường bộ. Đến nơi họ sẽ đợi đến 2 ngày tại nơi trú ẩn chờ lên những thuyền cá ọp ẹp hoặc thuyền kéo để đưa từng nhóm nhỏ ra vùng biển quốc tế. Lên kế hoạch cho chuyến đi như vậy mất nhiều tháng, thậm chí đến năm. Mặc dù những nỗ lực này thường dẫn đến tiêu tốn tiền của, người ta cũng thường phải trải qua vài lần thất bại trước khi vượt biển thành công.




