Trong số các nước Đồng minh chống lại phe Trục, Trung Hoa có nhiều lý do nhất để chú ý đến các diễn biến ở Đông Dương trước tháng 3 năm 1945. Sau khi rời thủ đô về Trùng Khánh vào năm 1938, các lực lượng Trung Hoa chống lại quân Nhật ngày càng phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ các nước phương Tây qua Đông Dương, Miến Điện và Ấn Độ. Nhật cắt đứt liên kết hậu cần qua Đông Dương vào năm 1940, sau đó chiếm đóng Miến Điện vào đầu năm 1942, chỉ còn hoạt động không vận khó khăn của Mỹ từ Ấn Độ đến Côn Minh, cộng với thỉnh thoảng có đoàn xe tải từ Liên Xô đến Sinkiang. Do đó, khả năng Nhật tấn công ngược theo dòng sông Hồng về phía Côn Minh phải được xem xét nghiêm túc, mặc dù người ta tiếp tục đánh giá rằng mối đe dọa nguy hiểm hơn đối với sự tồn vong của Quốc dân đảng là các đơn vị Lục quân Đế quốc Nhật ở phía đông Trùng Khánh.
Trong khi đó, sự sẵn sàng hợp tác của chính quyền thực dân Pháp với Nhật từ năm 1940 đã gây khó chịu đáng kể ở Trung Hoa, chính quyền ở Trùng Khánh đã cố tình chọn không tuyên chiến với Vichy hoặc chính quyền Đông Dương của Toàn quyền Jean Decoux. Đáp lại, Decoux tránh tiếp xúc với chính quyền Uông Tinh Vệ do Nhật bảo hộ ở Nam Kinh, cố gắng hạn chế sự đàn áp của Nhật đối với Hoa kiều ở thuộc địa, và cố thuyết phục Trùng Khánh rằng duy trì quyền lực của Pháp ở Đông Dương là một hình thức phản kháng Tokyo.16. Người dùng logic Gô loa này là Claude de Boisanger, lãnh đạo cơ quan ngoại giao của Decoux, người đã liên lạc thông qua đại diện của Vichy ở Trùng Khánh cho đến khi người này rời đi vào tháng 7 năm 1943. Sau đó ông ta tự mình vượt qua biên vào tháng 10 để đảm bảo với chính phủ Trung Hoa về mong muốn của Hà Nội thiết lập mối quan hệ thân thiện và tìm kiếm sự hỗ trợ thiết thực trong việc giúp một sứ giả đi qua Trung Hoa tới gặp chính phủ Pháp Tự do ở Algiers.17 Có lẽ vì những lời khẩn cầu này, Tưởng Giới Thạch đã không tuyên chiến với Vichy khi ông chuyển sang nâng cấp quan hệ với Alger vào cuối năm 1943.18
Những quan hệ ngoại giao chằng chịt như vậy phản ánh thực tế cơ bản ở khu vực biên giới Trung Hoa – Đông Dương trong hầu hết thời gian của cuộc chiến. Điều này tạo thuận tiện cho tất cả các bên tham gia chính: Trung Hoa, Nhật và Pháp tránh được sự kích động thù địch. Nhiều lần, các tướng lĩnh Trung Hoa đã cân nhắc, nhưng cuối cùng bác bỏ kế hoạch mở một cuộc tấn công vào Đông Dương.19 Một chiến dịch lớn và nguy hiểm kiểu đó chỉ hợp lý khi có sự phối hợp của các cuộc đổ bộ của Mỹ lên đảo Hải Nam hoặc bờ biển Đông Dương, điều này không được đề cập cho đến khi Mỹ chiếm lại Philippines. Tương tự, các chiến lược gia Nhật không bao giờ thấy Côn Minh là một mục tiêu đủ thuyết phục để mạo hiểm tấn công qua địa hình hiểm trở ở phía nam Vân Nam, nơi mỗi dặm đường chiếm được sẽ mang đến những vấn đề hậu cần mới. Năm 1944, Lục quân Đế quốc đã sử dụng đường Hà Nội-Nam Ninh để hỗ trợ quân đội tấn công phía tây Quảng Tây, nhưng phần còn lại của biên giới không hề bị ảnh hưởng. Trong khi đó, người Pháp hiểu rằng bất kỳ cuộc đối đầu Hoa-Nhật công khai nào ở Đông Dương hoặc vùng phụ cận sẽ gây nguy hiểm cho sự tồn vong của họ. Theo tinh thần của hiệp định Pháp-Nhật, họ đã xây dựng các pháo đài phòng thủ dọc biên giới, sử dụng lao động bản địa với tổng số bốn mươi triệu giờ công.20
Để bám sát các hoạt động chuyển quân lớn của Nhật và các diễn biến khác, tình báo Trung Hoa đã dựa vào các báo cáo vô tuyến bí mật từ các điệp viên Hoa kiều dưới trướng của Tướng Tai Li, giám đốc an ninh của Tưởng Giới Thạch, được bổ sung các điệp vụ trinh sát không ảnh của Không quân Mỹ ở bắc Đông Dương.21 Các cuộc thâm nhập sâu trên bộ bị loại trừ vì sợ làm dấy lên phản công của quân Nhật. Trong mọi trường hợp, điều đó tỏ ra không cần thiết, vì hàng trăm thương nhân xuyên biên giới đã giúp duy trì thông tin hợp lý cho tất cả các bên. Thương mại qua biên giới Trung Hoa-Đông Dương chỉ bị giới hạn bởi nhu cầu ngoại giao cần tuyên bố đó là ”hàng lậu” và Mỹ có xu hướng đánh bom các cây cầu và cơ sở đường sắt trong khu vực. Do sự cần thiết phải tăng-bo giữa các đầu mối đường sắt, các mặt hàng rời như than, gạo, quặng thiếc và bông thô, vốn chiếm ưu thế trong giao thông trước chiến tranh, đã nhường chỗ cho các mặt hàng có giá trị cao hơn nhiều trên một đơn vị trọng lượng. Vì vậy, Trung Hoa xuất khẩu thiếc thỏi, thủy ngân, wolfram và antimon, trong khi Đông Dương xuất khẩu muối, thuốc phiện, thuốc lá và vải. Muối được mua ở bờ biển Bắc Bộ với giá 20 đồng/ kg đôi khi được bán với giá gấp năm mươi lần ở bên kia biên giới Vân Nam,22 do đó muối được gọi là ‘vàng trắng’.23 Một sĩ quan Quân đội Ấn Độ điều tra lại vùng biên cương vào năm 1943 đã tìm thấy bằng chứng phong phú về hoạt động buôn bán như vậy – ví dụ, quan sát thấy 80 con la đến từ Đông Dương chất đầy các bộ phận đầu máy xe lửa để giúp giữ cho tuyến đường sắt Vân Nam thuộc sở hữu của Pháp hoạt động ở phía nam Côn Minh. Tại đồn biên phòng Lào Cai, một tuyến phà hoạt động thường xuyên, với lính Nhật cấp thẻ cho các thương nhân qua lại.24 Một trong những lãnh đạo quân sự của tỉnh Quảng Tây điều hành một tổ chức thương mại xuyên biên giới lớn ở Nam Ninh.25 Mặc dù chúng ta biết rất ít chi tiết về các giao dịch xuyên biên giới của Trung Hoa, nhưng các cơ quan mật vụ Anh đã để lại một hồ sơ tiết lộ về các hoạt động liên kết buôn bán của họ, có trụ sở chính tại Côn Minh. Ý tưởng ban đầu vào tháng 10 năm 1942 là mua cao su từ Đông Dương bằng các đại lý được tuyển dụng ở Trung Hoa. Ngay sau đó, kế hoạch mở rộng sang việc chuyển các nguyên liệu chiến lược khan hiếm như quinin, agar, catechu, benzoin và lụa từ các khu vực bị Nhật chiếm đóng khác qua Đông Dương hoặc Thái Lan đến Côn Minh, sau đó đến Anh. Khi tất cả các kế hoạch này được phát hiện là thiếu các đầu mối địa phương đáng tin cậy, người Anh tập trung vào việc sử dụng kim cương từ Nam Phi, thuốc sulfa, đồng hồ Thụy Sĩ và giấy cuốn thuốc lá để giao dịch trên thị trường chợ đen ở miền nam Trung Hoa. Vào giữa năm 1944, tổ chức chính của Anh, có mật danh là ‘Remorse’, đã trở thành một phần của tập đoàn lớn chủ yếu bao gồm các ngân hàng Trung Hoa, các công ty vận tải và đại diện của các cơ quan hành chính cấp tỉnh, với 6,7% tổng lợi nhuận được chuyển cho tổ chức của Tướng Tai Li như một khoản bảo hiểm chống lại sự cản trở hải quan hoặc bị cướp nhưng được ngụy trang như các cuộc phục kích của du kích. ‘’Remorse” đã làm dịch vụ ngân hàng chợ đen cho ba mươi ba khách hàng phương Tây, bao gồm các tổ chức quân sự, cơ quan đại diện ngoại giao, Hội Chữ thập đỏ, Tổ chức cứu thương Những người bạn, ICI Ltd., Reuters, và bảy công ty thương mại khác. Tuy nhiên, vào tháng 4/1945, “Remorse” đã trợ giúp tài chính cho lính thuộc địa Pháp chạy trốn khỏi sự truy bắt của Nhật, sau đó cung cấp cho họ thực phẩm, quần áo, thuốc men, chăn và chỗ ở tại Vân Nam và Quảng tây cho đến khi người Mỹ đồng ý chịu trách nhiệm lo cho họ.26
Nam Trung Hoa vào đầu những năm 1940 là bối cảnh của một cuộc tranh giành quyền lực phức tạp giữa các nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng Trung Hoa, cùng với cuộc kháng chiến chống Nhật. Tưởng Giới Thạch lợi dụng mối quan hệ Hoa-Mỹ và địa vị mới của mình với tư cách là lãnh đạo của một trong bốn cường quốc Đồng minh để làm suy yếu vị thế của các đối thủ lâu đời trong nước và các lãnh chúa cấp tỉnh. Điều này đặc biệt rõ ràng ở Vân Nam, nơi Tướng Long Vân (Lung Yun), người đã nắm quyền kiểm soát tỉnh vào năm 1927, đã chứng kiến quyền tự chủ của mình trước chiến tranh bị xói mòn bởi những yêu cầu dai dẳng của chính phủ Trùng Khánh đối với đàn ông, tiền bạc và vật liệu và thiết bị quân sự. Quân Ủy Trung ương đã thành lập “Cục Quản lý Giao thông Tây Nam”, do Tai Li đứng đầu, để đáp ứng các lợi ích địa phương. Ngay cả việc kiểm soát hoạt động buôn bán thuốc phiện qua biên giới của Lung Yiun cũng bị đe dọa vào tháng 5 năm 1942, khi các đặc vụ của Tai Li giành chiến thắng trong một trận chiến dữ dội với con trai của Lung Yun về ba xe tải chở thuốc phiện thô.27 Lung Yun đã phản ứng với những thách thức như vậy của trung ương bằng cách rút bớt một lượng lớn từ số hàng hóa Mỹ cho vay được chuyển qua dãy Himalaya đến Côn Minh.28 Ông ta cũng nhắm mắt làm ngơ trước các hoạt động chống Tưởng của hàng ngàn trí thức Trung Hoa chạy về Côn Minh khi Nhật chiếm đóng tất cả các thành phố ở phía đông. Tuy nhiên, Lung Yun không thể ngăn cản Tưởng tăng thêm quân chính phủ trung ương ở Vân Nam, cho đến tháng 3 năm 1943, họ đông hơn quân địa phương với tỷ lệ 4 trên 1.29
Một số vấn đề khác là bao vây Tướng Trương Phát Khuê, tư lệnh Chiến khu 4 ở Quảng Tây và tây Quảng Đông. Là người đứng đầu Đội quân Sườn Thép (Ironsides) nổi tiếng trong chiến thắng Bắc phạt của Quốc dân đảng năm 1927, Chang được nhiều người ngưỡng mộ trên khắp Trung Hoa. Tuy nhiên, thực tế việc sau đó Chang đóng vai trò chính trong một số nỗ lực nhằm hạ bệ Tưởng Giới Thạch đã khiến Thống chế lo lắng hạn chế quyền lực của Trương. Sau khi chiến tranh với Nhật bùng nổ vào tháng 7 năm 1937, Trương đã nhận trách nhiệm bảo vệ Thượng Hải, tại đây trong hơn ba tháng, quân đội của ông đã thể hiện một ý chí chiến đấu không ngừng, gây ấn tượng sâu sắc cho đồng hương cũng như dư luận thế giới.30 Năm 1939, Chang được trao quyền chỉ huy Chiến khu 4, nhưng chính vì danh tiếng là một trong những nhà chiến thuật quân sự hàng đầu của Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch đã giữ lại các nguồn lực quan trọng và cương quyết yêu cầu các thuộc cấp chủ chốt phải báo cáo trực tiếp cho Trùng Khánh. Tỉnh Quảng Tây được hưởng lợi từ hoạt động sản xuất và thương mại thời chiến cho đến khi cuộc tấn công Ichigo của Nhật vào giữa năm 1944, gây ra cái chết của hơn một trăm nghìn người, những ngôi nhà bị đốt phá nhiều không đếm xuể, gia súc bị tàn sát, các nhà máy bị phá hủy và thông tin liên lạc bị cắt đứt hoàn toàn.
Trong khi đó, sự sẵn sàng hợp tác của chính quyền thực dân Pháp với Nhật từ năm 1940 đã gây khó chịu đáng kể ở Trung Hoa, chính quyền ở Trùng Khánh đã cố tình chọn không tuyên chiến với Vichy hoặc chính quyền Đông Dương của Toàn quyền Jean Decoux. Đáp lại, Decoux tránh tiếp xúc với chính quyền Uông Tinh Vệ do Nhật bảo hộ ở Nam Kinh, cố gắng hạn chế sự đàn áp của Nhật đối với Hoa kiều ở thuộc địa, và cố thuyết phục Trùng Khánh rằng duy trì quyền lực của Pháp ở Đông Dương là một hình thức phản kháng Tokyo.16. Người dùng logic Gô loa này là Claude de Boisanger, lãnh đạo cơ quan ngoại giao của Decoux, người đã liên lạc thông qua đại diện của Vichy ở Trùng Khánh cho đến khi người này rời đi vào tháng 7 năm 1943. Sau đó ông ta tự mình vượt qua biên vào tháng 10 để đảm bảo với chính phủ Trung Hoa về mong muốn của Hà Nội thiết lập mối quan hệ thân thiện và tìm kiếm sự hỗ trợ thiết thực trong việc giúp một sứ giả đi qua Trung Hoa tới gặp chính phủ Pháp Tự do ở Algiers.17 Có lẽ vì những lời khẩn cầu này, Tưởng Giới Thạch đã không tuyên chiến với Vichy khi ông chuyển sang nâng cấp quan hệ với Alger vào cuối năm 1943.18
Những quan hệ ngoại giao chằng chịt như vậy phản ánh thực tế cơ bản ở khu vực biên giới Trung Hoa – Đông Dương trong hầu hết thời gian của cuộc chiến. Điều này tạo thuận tiện cho tất cả các bên tham gia chính: Trung Hoa, Nhật và Pháp tránh được sự kích động thù địch. Nhiều lần, các tướng lĩnh Trung Hoa đã cân nhắc, nhưng cuối cùng bác bỏ kế hoạch mở một cuộc tấn công vào Đông Dương.19 Một chiến dịch lớn và nguy hiểm kiểu đó chỉ hợp lý khi có sự phối hợp của các cuộc đổ bộ của Mỹ lên đảo Hải Nam hoặc bờ biển Đông Dương, điều này không được đề cập cho đến khi Mỹ chiếm lại Philippines. Tương tự, các chiến lược gia Nhật không bao giờ thấy Côn Minh là một mục tiêu đủ thuyết phục để mạo hiểm tấn công qua địa hình hiểm trở ở phía nam Vân Nam, nơi mỗi dặm đường chiếm được sẽ mang đến những vấn đề hậu cần mới. Năm 1944, Lục quân Đế quốc đã sử dụng đường Hà Nội-Nam Ninh để hỗ trợ quân đội tấn công phía tây Quảng Tây, nhưng phần còn lại của biên giới không hề bị ảnh hưởng. Trong khi đó, người Pháp hiểu rằng bất kỳ cuộc đối đầu Hoa-Nhật công khai nào ở Đông Dương hoặc vùng phụ cận sẽ gây nguy hiểm cho sự tồn vong của họ. Theo tinh thần của hiệp định Pháp-Nhật, họ đã xây dựng các pháo đài phòng thủ dọc biên giới, sử dụng lao động bản địa với tổng số bốn mươi triệu giờ công.20
Để bám sát các hoạt động chuyển quân lớn của Nhật và các diễn biến khác, tình báo Trung Hoa đã dựa vào các báo cáo vô tuyến bí mật từ các điệp viên Hoa kiều dưới trướng của Tướng Tai Li, giám đốc an ninh của Tưởng Giới Thạch, được bổ sung các điệp vụ trinh sát không ảnh của Không quân Mỹ ở bắc Đông Dương.21 Các cuộc thâm nhập sâu trên bộ bị loại trừ vì sợ làm dấy lên phản công của quân Nhật. Trong mọi trường hợp, điều đó tỏ ra không cần thiết, vì hàng trăm thương nhân xuyên biên giới đã giúp duy trì thông tin hợp lý cho tất cả các bên. Thương mại qua biên giới Trung Hoa-Đông Dương chỉ bị giới hạn bởi nhu cầu ngoại giao cần tuyên bố đó là ”hàng lậu” và Mỹ có xu hướng đánh bom các cây cầu và cơ sở đường sắt trong khu vực. Do sự cần thiết phải tăng-bo giữa các đầu mối đường sắt, các mặt hàng rời như than, gạo, quặng thiếc và bông thô, vốn chiếm ưu thế trong giao thông trước chiến tranh, đã nhường chỗ cho các mặt hàng có giá trị cao hơn nhiều trên một đơn vị trọng lượng. Vì vậy, Trung Hoa xuất khẩu thiếc thỏi, thủy ngân, wolfram và antimon, trong khi Đông Dương xuất khẩu muối, thuốc phiện, thuốc lá và vải. Muối được mua ở bờ biển Bắc Bộ với giá 20 đồng/ kg đôi khi được bán với giá gấp năm mươi lần ở bên kia biên giới Vân Nam,22 do đó muối được gọi là ‘vàng trắng’.23 Một sĩ quan Quân đội Ấn Độ điều tra lại vùng biên cương vào năm 1943 đã tìm thấy bằng chứng phong phú về hoạt động buôn bán như vậy – ví dụ, quan sát thấy 80 con la đến từ Đông Dương chất đầy các bộ phận đầu máy xe lửa để giúp giữ cho tuyến đường sắt Vân Nam thuộc sở hữu của Pháp hoạt động ở phía nam Côn Minh. Tại đồn biên phòng Lào Cai, một tuyến phà hoạt động thường xuyên, với lính Nhật cấp thẻ cho các thương nhân qua lại.24 Một trong những lãnh đạo quân sự của tỉnh Quảng Tây điều hành một tổ chức thương mại xuyên biên giới lớn ở Nam Ninh.25 Mặc dù chúng ta biết rất ít chi tiết về các giao dịch xuyên biên giới của Trung Hoa, nhưng các cơ quan mật vụ Anh đã để lại một hồ sơ tiết lộ về các hoạt động liên kết buôn bán của họ, có trụ sở chính tại Côn Minh. Ý tưởng ban đầu vào tháng 10 năm 1942 là mua cao su từ Đông Dương bằng các đại lý được tuyển dụng ở Trung Hoa. Ngay sau đó, kế hoạch mở rộng sang việc chuyển các nguyên liệu chiến lược khan hiếm như quinin, agar, catechu, benzoin và lụa từ các khu vực bị Nhật chiếm đóng khác qua Đông Dương hoặc Thái Lan đến Côn Minh, sau đó đến Anh. Khi tất cả các kế hoạch này được phát hiện là thiếu các đầu mối địa phương đáng tin cậy, người Anh tập trung vào việc sử dụng kim cương từ Nam Phi, thuốc sulfa, đồng hồ Thụy Sĩ và giấy cuốn thuốc lá để giao dịch trên thị trường chợ đen ở miền nam Trung Hoa. Vào giữa năm 1944, tổ chức chính của Anh, có mật danh là ‘Remorse’, đã trở thành một phần của tập đoàn lớn chủ yếu bao gồm các ngân hàng Trung Hoa, các công ty vận tải và đại diện của các cơ quan hành chính cấp tỉnh, với 6,7% tổng lợi nhuận được chuyển cho tổ chức của Tướng Tai Li như một khoản bảo hiểm chống lại sự cản trở hải quan hoặc bị cướp nhưng được ngụy trang như các cuộc phục kích của du kích. ‘’Remorse” đã làm dịch vụ ngân hàng chợ đen cho ba mươi ba khách hàng phương Tây, bao gồm các tổ chức quân sự, cơ quan đại diện ngoại giao, Hội Chữ thập đỏ, Tổ chức cứu thương Những người bạn, ICI Ltd., Reuters, và bảy công ty thương mại khác. Tuy nhiên, vào tháng 4/1945, “Remorse” đã trợ giúp tài chính cho lính thuộc địa Pháp chạy trốn khỏi sự truy bắt của Nhật, sau đó cung cấp cho họ thực phẩm, quần áo, thuốc men, chăn và chỗ ở tại Vân Nam và Quảng tây cho đến khi người Mỹ đồng ý chịu trách nhiệm lo cho họ.26
Nam Trung Hoa vào đầu những năm 1940 là bối cảnh của một cuộc tranh giành quyền lực phức tạp giữa các nhà lãnh đạo Quốc dân Đảng Trung Hoa, cùng với cuộc kháng chiến chống Nhật. Tưởng Giới Thạch lợi dụng mối quan hệ Hoa-Mỹ và địa vị mới của mình với tư cách là lãnh đạo của một trong bốn cường quốc Đồng minh để làm suy yếu vị thế của các đối thủ lâu đời trong nước và các lãnh chúa cấp tỉnh. Điều này đặc biệt rõ ràng ở Vân Nam, nơi Tướng Long Vân (Lung Yun), người đã nắm quyền kiểm soát tỉnh vào năm 1927, đã chứng kiến quyền tự chủ của mình trước chiến tranh bị xói mòn bởi những yêu cầu dai dẳng của chính phủ Trùng Khánh đối với đàn ông, tiền bạc và vật liệu và thiết bị quân sự. Quân Ủy Trung ương đã thành lập “Cục Quản lý Giao thông Tây Nam”, do Tai Li đứng đầu, để đáp ứng các lợi ích địa phương. Ngay cả việc kiểm soát hoạt động buôn bán thuốc phiện qua biên giới của Lung Yiun cũng bị đe dọa vào tháng 5 năm 1942, khi các đặc vụ của Tai Li giành chiến thắng trong một trận chiến dữ dội với con trai của Lung Yun về ba xe tải chở thuốc phiện thô.27 Lung Yun đã phản ứng với những thách thức như vậy của trung ương bằng cách rút bớt một lượng lớn từ số hàng hóa Mỹ cho vay được chuyển qua dãy Himalaya đến Côn Minh.28 Ông ta cũng nhắm mắt làm ngơ trước các hoạt động chống Tưởng của hàng ngàn trí thức Trung Hoa chạy về Côn Minh khi Nhật chiếm đóng tất cả các thành phố ở phía đông. Tuy nhiên, Lung Yun không thể ngăn cản Tưởng tăng thêm quân chính phủ trung ương ở Vân Nam, cho đến tháng 3 năm 1943, họ đông hơn quân địa phương với tỷ lệ 4 trên 1.29
Một số vấn đề khác là bao vây Tướng Trương Phát Khuê, tư lệnh Chiến khu 4 ở Quảng Tây và tây Quảng Đông. Là người đứng đầu Đội quân Sườn Thép (Ironsides) nổi tiếng trong chiến thắng Bắc phạt của Quốc dân đảng năm 1927, Chang được nhiều người ngưỡng mộ trên khắp Trung Hoa. Tuy nhiên, thực tế việc sau đó Chang đóng vai trò chính trong một số nỗ lực nhằm hạ bệ Tưởng Giới Thạch đã khiến Thống chế lo lắng hạn chế quyền lực của Trương. Sau khi chiến tranh với Nhật bùng nổ vào tháng 7 năm 1937, Trương đã nhận trách nhiệm bảo vệ Thượng Hải, tại đây trong hơn ba tháng, quân đội của ông đã thể hiện một ý chí chiến đấu không ngừng, gây ấn tượng sâu sắc cho đồng hương cũng như dư luận thế giới.30 Năm 1939, Chang được trao quyền chỉ huy Chiến khu 4, nhưng chính vì danh tiếng là một trong những nhà chiến thuật quân sự hàng đầu của Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch đã giữ lại các nguồn lực quan trọng và cương quyết yêu cầu các thuộc cấp chủ chốt phải báo cáo trực tiếp cho Trùng Khánh. Tỉnh Quảng Tây được hưởng lợi từ hoạt động sản xuất và thương mại thời chiến cho đến khi cuộc tấn công Ichigo của Nhật vào giữa năm 1944, gây ra cái chết của hơn một trăm nghìn người, những ngôi nhà bị đốt phá nhiều không đếm xuể, gia súc bị tàn sát, các nhà máy bị phá hủy và thông tin liên lạc bị cắt đứt hoàn toàn.