Em.gai.que
Bò lái xe
Ngẫm lại thấy có vẻ đúng các bác ạ.
==> Kết; bậc quân chủ đam mê văn chương cầm kỳ thi họa đều bỏ bê việc nước.
+ Người đầu tiên là Trần Hậu Chủ nhà Nam Trần, ông này là một tài tử phong lưu mê nhạc và giỏi làm thơ, Hậu chủ sáng tác ra ba tập thơ nổi tiếng là Nghinh Xuân Nhạc, Ngọc Thụ và Hậu Đình Hoa. Trong đó khúc hát Hậu Đình Hoa là nổi tiếng nhất được phổ thành nhạc giai điệu du dương và tình tứ nhất. Hằng đêm lại bày tiệc cho vui, họp các quan học sĩ làm thơ xướng họa đến khi quân Tùy đánh tới Kinh đô vẫn cho người tiếp tục đàn hát mà không hề hay biết.
+ Người thứ hai là Tùy Dạng Đế là một con người được miêu tả là văn võ song toàn, khôi ngô tuấn tú tiếc thay lại hoang dâm vô độ, Dạng Đế rất mê làm thơ sở thích lớn nhất trong cuộc đời ông là tuần du giang nam nên cho đào kênh Đại vận hà, ngồi trên thuyền rồng uống rượu ngắm hoa làm thơ, ông cho rằng bản thân nếu không làm hoàng đế mà ghi danh thi tuyển thì cũng sẽ đậu Trạng Nguyên với tài năng văn chương của mình. Sau khi đọc những vầng thơ lênh láng của Dạng Đế, Đường Thái Tông hết sức khen ngợi là "văn chương uyên bác", luận về thơ văn đúng là minh chúa kiểu vua Nghiêu, Thuấn rồi than thở về Dượng Đế rằng:
"Sao hành sự lại ngược lại như vậy?". "Dượng Đế dựa vào tài năng, kiêu căng tự tác, cho nên miệng thì nói lời Nghiêu Thuấn mà thân lại đi làm những hành vi của Kiệt Trụ".
+ Tiếp đến là Đường Minh Hoàng nổi tiếng với thời kỳ phồn thịnh là "Khai Nguyên chi trị" có lẽ câu nói "Trẻ không chơi già đổ đốn" là thích hợp nhất với Lý Tam Lang. Thời trẻ ông rất anh minh thần dũng, xây dựng đất nước phồn thịnh nên khi nhìn thấy cảnh thái bình thịnh trị thì phải làm thơ để miêu tả cho khung cảnh thái bình đấy. Đường Minh Hoàng đã để lại rất nhiều thành tựu về thư pháp và thơ ca. Đặc biệt, ông có một bài thơ nằm trong danh sách Đường thi tam bách thủ . Ngoài ra, còn được biết đến là một người có tài năng thiên bẩm về âm nhạc, có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển của âm nhạc dưới triều nhà Đường. Ông có thể tự diễn tấu các loại nhạc cụ như tì bà, yết cổ, có sở trường viết các ca khúc dài, nổi bật có "Nghê thường vũ y khúc", "Tiểu phá trận nhạc", "Xuân quang hảo", "Thu phong cao"... tổng cộng được hơn 100 nhạc khúc. Có lẽ lần sảng khoái nhất trong cuộc đời ông là lúc Mai phi và Dương quý phi cùng nhau múa, ông thì gãy đàn, Lý Bạch thì làm thơ, Cao lực sĩ thì mài mực tất cả đều tập trung phối hợp với nhau rất ăn ý. Sau này khi lui về làm Thái thượng hoàng mỗi khi nhớ đến Dương Ngọc Hoàn thì ông thường cho người ca khúc Nghê thường vũ y khúc, ngâm thơ bài Trường Hận ca để tưởng nhớ. Mặc dù nhà Đường của ông chưa tới nỗi mất nước nhưng ông chính là nguyên nhân chính làm cho nhà Đường từ thịnh sang suy, sau thời ông các hoàng đế nhà Đường chỉ trên danh nghĩa chứ quyền hành tập trung hết vào tay bọn thái giám và Tiết độ sứ cát cứ ở địa phương.
+ Tiếp theo là Nam đường hậu chủ Lý Dục mặc dù là một vị vua được cho là thiếu bản lĩnh và kém cỏi, nhưng ông được biết đến rộng rãi là một nhà thơ, từ, họa sĩ và nhà thư pháp lỗi lạc nổi tiếng của Trung Quốc trong thế kỷ 10, rất giỏi cầm kỳ thi họa, thích làm thơ ca, và có tài sáng tác lời hát, rất tâm đầu ý hợp với hoàng hậu Chu Hiến, tức là Đại Chu hậu. Ông được xem là một người uyên thâm thể loại từ vào hàng bậc nhất, do đó được xưng tụng là Thiên cổ từ đế. So với các Hoàng đế khác thì ông nhận thức được sự vong quốc của nhà Nam đường đang đến gần nhưng không thể cứu vãn được do một nước Tống quá mạnh của Triệu Khuông Dẫn ở phía Bắc đang lăm le mở rộng bờ cõi xuống phía Nam, Hậu Chủ chuẩn bị sẵn 2 bộ lễ phục: một bộ màu vàng để thiết triều và một bộ màu tía để tiếp sứ Tống. Khi sứ giả nhà Tống đến cầm chiếu phong của Tống Thái Tổ đến Nam Đường, Hậu Chủ mặc bộ áo màu tía ra tiếp theo đúng thân phận phiên vương. Ngoài ra ông còn không dùng đến cung điện rất tráng lệ của ông và cha để lại nhằm tỏ ý không muốn hưởng thụ như một hoàng đế, tự giáng tước của những người trong hoàng tộc từ "vương" xuống "công" và "hầu". Khi ông ra hàng và yết kiến Triệu Khuông Dẫn thì bị vua Tống nói ông không xứng đáng làm Vua nhưng rất xuất sắc khi làm Hàn lâm đại học sĩ. Sau này khi bị vua Tống cô lập ông thường làm thơ để vơi đi nỗi buồn bằng các tập thơ "Tương kiến hoan", "Ngu mỹ nhân", "Ô dạ đề" thể hiện nỗi u buồn vì cuộc sồng tù đày và nỗi nhớ cố hương da diết.
+ Tiếp đến là Tống Huy Tông nhà Bắc Tống là một họa sĩ, một nhà thơ và một thư pháp gia lớn ở Trung Quốc. Ông cũng chơi được cổ cầm; Các chủ đề chính trong các bức họa của ông là chim và hoa. Ông cũng tự viết những bài thơ của mình, được biết đến như là một họa sĩ luôn khao khát cống hiến, ông đã tạo ra kiểu thư pháp riêng của mình, quan tâm tới kiến trúc và thiết kế vườn, và thậm chí còn viết các chuyên luận về y học và Đạo giáo. Ông cho tập hợp một nhóm tùy tùng gồm các họa sĩ, nhà thư pháp cung đình trong hàn lâm thư họa viện, trước đó đã được kiểm tra trong các kỳ thi để làm quan tại triều và thực hiện cải cách đối với âm nhạc cung đình. Giống như những người có học thức khác ở thời đại của ông, ông là nhân vật rất đa năng. Ông bảo trợ cho nhiều nghệ sĩ tại triều đình, và trong danh lục bộ sưu tập hoàng gia của ông có tới trên 6.000 bức họa đã được biết đến. Mọi người đều biết Huy Tông ban ngày thì thiết triều, ban đêm thì lui tới kỷ viện với người đẹp Lý Sư Sư uống rượu ngâm thơ, Huy Tông từng than rằng phải chi ta không phải là một Hoàng đế mà chỉ cần làm một Thi nhân ngày ngày làm thơ, nàng thì dệt vải, thêu tranh sống cuộc đời bình yên bởi vì do quan niệm Hoàng đế không được lấy kỷ nữ cho vào cung ở. Chính sự hưởng lạc này của Huy Tông nên đã giao việc triều chính cho các gian thần làm suy sụp nhà Bắc Tống cuối đời bị nhà Kim cầm tù. Ông nổi tiếng với các tác phẩm Phù dung cẩm kê đồ, Đào cưu đồ, Thụy hạc đồ. . Ông cũng nghĩ ra "Sấu kim thể" hay "Sấu kim thư", một kiểu viết chữ trong nghệ thuật thư pháp. Tên gọi "Sấu kim thể" là do trên thực tế kiểu viết của Huy Tông thanh mảnh tương tự như sợi vàng, xoắn và đảo ngược. Sau này tể tướng Thoát Thoát nhà Nguyên nhận xét ông "Huy Tông mọi sự đều có khả năng, chỉ riêng việc làm vua thì vô năng".