Vì sao tụi Tây trắng và Mỹ trắng phát triển vượt bậc hơn người Á vàng và Phi đen

Trạng thái
Chủ đề đã được đóng (không tiếp nhận thảo luận)

ham Học Hỏi..

Gió lạnh đầu buồi
Ai cũng có thể nhận thấy xét về mặt bằng chung thời tụi chủng tộc da trắng hơn hẳn người da vàng và da đen về kinh tế, khoa học - công nghệ - kỹ thuật, quân sự... Vậy chúng ta có đặt câu hỏi vì sao họ lại vươn lên dẫn đầu chúng ta về những cái đó. Nếu xét về trình độ thông minh thì ko phải. Chỉ số IQ trung bình của 3 sắc tộc da vàng, da đen, da trắng đều sem sem bằng nhau. Theo nhiều bài phân tích thì rút ra kết luận sau đây.

Họ vượt bậc hơn các chủng tộc khác nhờ các điều kiện sau:

_Vị trí địa lý: người da trắng trên khắp TG (kể cả Mỹ, Canada, Úc...) họ đều có nguồn gốc từ châu Âu, một nơi có điều kiện khí hậu hết sức lý tưởng để phát triển nông sản lúc thuở sơ khai và tăng năng suất lao động hơn các vùng khác, nên kinh tế của họ phát triển rất nhanh thuở đầu.

_Khí hậu: như đã nói ở trên do vị trí địa lý thuận lợi nên đc hưởng khi hậu mát mẻ quanh năm. Khí hậu động vai trò quan trọng trong việc gia tăng năng suất lao động. Và khí hậu lạnh, khô giúp người da trắng có khuôn mặt hài hòa, rất đẹp (mũi cao, mắt to, mặt sắc nét...), bạn có thể tìm hiểu thêm khí hậu ảnh hưởng đến khuôn mặt, màu da, màu tóc, màu mắt như thế nào. Vì sao người tụi da trắng đa số mũi cao và thon. Tới người da vàng mũi tẹt, mũi cao rất hiếm. Tới người da đen mũi bự và rộng. Tất cả đều do ảnh hưởng của khí hậu. Và khi kinh tế phát triển, nguồn thực phẩm dồi dào nên thể lực và vóc dáng của tụi da trắng phát triển hơn người da vàng và da đen. (đang so sánh thuở lúc đầu, bây giờ thực phẩm dồi dào nên các chúng tộc có vóc dáng cao, to tương tự nhau, chỉ có dân VN quá lùn so với TG vì dinh dưỡng ăn ko hợp lý)

Hãy tưởng tượng có 2 người A và B làm việc ở 2 vị trí khác nhau. A làm việc trong môi trường cây cối xanh tốt do khi hậu mát mẻ, và do khí hậu mát mẻ, ánh nắng dịu dàng không quá gắt, nên năng suất lao động của A rất cao ít khi biết mệt. Còn B làm việc ở một nơi khô cằn toàn cát, đất đai rất ít màu mỡ khó trồng cây, và dưới cái nắng chói chang như thiêu đốt làm cho B cảm thấy rất mệt khi làm việc, khó tập trung, thể chất suy giảm và hiệu quả ko đạt được cao.

Vì vậy bạn có thể hiểu tại sao tụi da trắng bước khởi đầu đã rất thuận lợi hơn người da vàng và da đen. Và khi có khởi đầu tốt, tụi nó giàu nhanh hơn, phát triển khoa học - công nghệ sớm hơn, đầu tư cho quan sự được nhiều hơn. Và khi đó tụi nó đi xâm chiếm, vơ vét những nơi yếu hơn tụi nó. Chính sợ vơ vét này làm cho tụi da trắng ngày càng giàu hơn và những người da vàng, da đen bị vơ vét, bị cướp bốc, bị làm nô lệ cho tụi nó nghèo càng nghèo hơn.

Và có một lý do rất quang trọng nữa.. là có sự xúc tác của Thành Cát Tư Hãn
 
Đưa châu Âu đến thời kỳ Phục Hưng: Có một Thành Cát Tư Hãn rất khác
Quang Minh
Thứ Ba, 24/03/2020• 11.3k Lượt Xem

Chúng ta thường hay nhìn nhận rằng Thành Cát Tư Hãn là một vị Khả Hãn Mông Cổ rất tàn bạo. Tuy nhiên, một cuốn sách nổi tiếng của giáo sư Jack Weatherford thuộc khoa Nhân chủng học của Đại học Macalester lại cho người ta thấy một Thành Cát Tư Hãn rất khác. Cuốn sách có tên: Genghis Khan and the Making of the Modern World (Tạm dịch: Thành Cát Tư Hãn và sự hình thành nên thế giới hiện đại)

“Genghis Khan and the Making of the Modern World” là một tác phẩm xuất sắc, từng trụ vững ở vị trí Best Seller (tác phẩm bán chạy) của The New York Times trong vòng 2 tuần năm 2004. Trong cuộc thi sách nói trên Audible.com, cuốn sách cũng đứng đầu vào năm 2011, cùng với cuốn tiểu thuyết Matterhorn lấy bối cảnh chiến tranh Việt Nam của Karl Marlantes. Vào ngày 12 tháng 10 năm 2014, “Genghis Khan and the Making of the Modern World” nằm ở vị trí thứ 6 của tờ The New York Times về những cuốn sách điện tử bán chạy nhất. Điều đặc biệt là cuốn sách này khiến cho chúng ta thấy một Thành Cát Tư Hãn làm nên thế giới hiện đại.
196344
Thành Cát Tư Hãn. (Ảnh: Trí Thức VN)

Trong cuốn sách, giáo sư Weatherford tường thuật về sự nổi lên và tầm ảnh hưởng của Thành Cát Tư Hãn và những người nối nghiệp, cũng như ảnh hưởng của họ lên nền văn minh châu Âu. Khác biệt với định kiến cho rằng Thành Cát Tư Hãn là một vị bạo chúa, Weatherford cho rằng thời kỳ trị vì của vị Khả Hãn này đã có ảnh hưởng vô cùng tích cực về văn hóa tới phương Tây. Ông cũng cho rằng lúc đầu ở phương Tây, Thành Cát Tư Hãn đã từng được mô tả là một “vị vua cao quý và xuất chúng”, nhưng trong thời kỳ Khai Sáng, ông đã bị người phương Tây ma hóa và trở thành một kẻ ngoại đạo tàn ác.
Nguồn dẫn chứng của Weatherford đến từ ba tác phẩm chính:
  • Mongγol-un niγuča tobčiyan: Cuốn sách lịch sử cổ xưa nhất của Mông Cổ vẫn còn tồn tại đến ngày nay, viết vào giai đoạn ngay sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời.
  • Ta’ rīkh-i jahān-gushā: Cuốn sách lịch sử viết bởi sử gia người Ba Tư Ata-Malik Juvayni, trong đó có một phần mô tả về người Mông Cổ và cuộc xâm lược của họ.
  • Jami al-Tawarikh: Cuốn sách lịch sử viết bởi sử gia Ba Tư – Do Thái Rashid-al-Din Hamadani.
Bối cảnh

Các học giả phương Tây ngày nay thường cho rằng Thành Cát Tư Hãn là một vị bạo chúa, còn người Mông Cổ là những kẻ dã man, đã hủy hoại rất nhiều nền văn minh phương Tây. Thực ra, điều này bắt nguồn từ cách mà quân Mông Cổ đối xử với tầng lớp lãnh đạo phương Tây thời bấy giờ. Người Mông Cổ đã thẳng tay giết chết các tầng lớp thống trị để khuất phục các nước mà họ xâm chiếm. Vì thế, những người còn sống đã viết về lịch sử với một sự oán giận đối với người Mông Cổ.
196345
Tranh vẽ về việc quân Mông Cổ cắt tai kẻ thù làm chiến lợi phẩm. (Tranh qua Wikipedia)

Vào năm 1979, Paul Ratchnevsky từng viết về cách mà Thành Cát Tư Hãn đã xây dựng nên các liên minh, sự công bằng của ngài trong việc phân chia chiến lợi phẩm, cũng như sự bảo trợ của ngài cho khoa học. Tương tự, Saunders và H. H. Howorth đã đưa giả thuyết rằng đế chế Mông Cổ đã cống hiến cho sự mở rộng tương tác tri thức giữa Trung Quốc, Trung Đông, và Châu Âu.
Trong cuốn “Genghis Khan and the Making of the Modern World”, Weatherford đã khám phá ra cách người Mông Cổ đối xử với dân chúng (nông dân, người buôn bán nhỏ, và các thương nhân) dưới sự trị vì của họ. Ông cho rằng sự trị vì này thậm chí còn ít tàn khốc hơn so với quý tộc Châu Âu vì thuế nhẹ hơn, sự bao dung đối với các phong tục và tín ngưỡng địa phương, cũng như sự quản lý hợp lý, và một nền giáo dục toàn cầu cho nam giới.
Những lợi ích này được áp dụng trực tiếp cho phần dân chúng đầu hàng ngay lập tức trước quân Mông Cổ. Phần dân chúng chống lại sự đô hộ của họ có thể bị tàn sát để răn đe những thành phố, làng mạc khác. Những cuộc tàn sát này là một trong các phương thức tâm lý chiến để cảnh báo cho phần dân chúng chưa bị chinh phục. Tuy nhiên, sự khủng bố đó lại được các sử gia sau này tô vẽ cho tất cả những thành phố mà người Mông Cổ đi qua.
Di sản của Thành Cát Tư Hãn

Giáo sư Weatherford đã khám phá ra rằng Thành Cát Tư Hãn và đế chế Mông Cổ đã đặt nền móng cho thời kỳ Phục Hưng ở châu Âu, nó bao hàm tất cả các phương diện như thương mại, nghệ thuật, kỹ thuật, thậm chí là thuốc súng. Hơn nữa Weatherford tin tưởng rằng ý niệm Phục Hưng ấy không phải là của Hy Lạp hoặc La Mã, mà là khái niệm đến từ đế chế Mông Cổ, là điều tới từ phương Đông.
196346
Thành Cát Tư Hãn. (Tranh qua Wikipedia)

Các khía cạnh chính bao gồm:
Thiên văn học: Tri thức mới từ những bản viết tay của Marco Polo hay bản đồ chi tiết về các sao của Ulugh Beg tới từ phương Đông đã chứng minh được rằng hầu hết kiến thức cổ điển mà người phương Tây nhìn nhận là hoàn toàn sai lầm.
Tiền giấy: Các thực nghiệm của Mông Cổ tại Ba Tư ở Il-Khanate.
Nghệ thuật: Các tu sĩ dòng thánh Francis, những người có kết nối rộng với triều đình Mông Cổ, và nghệ thuật Mông Cổ/Ba Tư đã tác động lên Giotto di Bondone và các học trò của mình, nhiều đến mức mà thánh Francis được vẽ với trang phục Mông Cổ – “được bọc trong lụa theo nghĩa đen”. Và, trong minh họa năm 1306 về chiếc áo choàng của Chúa ở Padua, phần trang trí vàng được vẽ với các chữ Mông Cổ từ bia đá Phagspa được Hốt Tất Liệt cho phép. Bên cạnh đó, người Mông Cổ cũng giúp truyền bá khái niệm về dàn nhạc, và giúp tạo nên các nhạc cụ như violin, đây chính là nền móng cho dàn nhạc giao hưởng phương Tây.
Dân chủ và chính quyền: Các thay đổi của Hốt Tất Liệt ở Trung Quốc đã phân hóa quyền lực và đưa đến sức mạnh chính trị cho các nông trại đơn lẻ. Đây là một trải nghiệm dân chủ đầu tiên ở Trung Quốc – Cải cách ruộng đất một cách chuẩn mực nhất, điều chỉ được thực hiện dưới thời Quốc Dân Đảng ở Đài Loan (trái với cuộc cải cách đẫm máu ở Trung Quốc đại lục). Chính quyền bộ lạc của Mông Cổ cũng có nhiều nhân tố dân chủ. Các Hãn của người Mông Cổ được lựa chọn bằng các hội đồng giống với việc “bầu cử” như các phiên bản của người La Mã. Hơn nữa, các Hãn đã cai trị dựa trên ý định của mọi người.
Quân sự: Sử dụng các chiến thuật khác nhau tới từ các nền văn hóa khác nhau. Quân đội Mông Cổ chỉ mang theo những thứ họ cần thiết nhất vì họ có được kiến thức, những thông tin cần thiết để đánh bại quân đội đối phương. Khi các chiến thuật và vũ khí truyền thống của người Mông Cổ không còn phù hợp để tấn công các thành phố, Thành Cát Tư Hãn đã thay đổi bằng cách sử dụng các vũ khí lớn từ Ba Tư, Trung Quốc, và Ả Rập, cũng như phát triển các chiến lược khác.
Sau khi Thành Cát Tư Hãn chinh phục các quân đội và đế chế khác, ông đã thêm vào quân đội của mình nhiều người khác nhau, nhờ đó tạo nên các chiến thuật chiến tranh cũng như ý kiến sáng tạo một cách đa văn hóa. Nói theo một cách khác, ông đã thay đổi chiến thuật quân sự truyền thống và tạo nên một đội quân hỗn hợp hơn để đánh bại và chinh phục các đế chế khác.
Họ đã tạo nên một kho vũ khí toàn cầu để đối ứng được với hoàn cảnh mà họ gặp phải. Ví dụ như, máy bắn đá là một công cụ chiến tranh vô giá thời Trung Cổ để tấn công bao vây, tương tự như máy phóng đá, được sử dụng để quăng những tảng đá nặng phá hủy tường thành. Người Mông Cổ lấy được tri thức này từ Ả Rập, và sau đó đã thuê người Ả Rập đồng hành với mình để tạo ra máy bắn đá khi cần thiết.
Tín ngưỡng: người Mông Cổ chấp nhận hầu hết các tôn giáo ở thời kì ban đầu của Đế chế Mông Cổ, và thường bảo trợ một vài tôn giáo tại cùng thời điểm. Vào thời điểm của Thành Cát Tư Hãn ở thế kỷ 13, hầu như mọi tôn giáo đều thấy những người cải đạo, từ Phật giáo sang Thiên Chúa giáo, từ Ba Tư giáo sang Hồi giáo. Để tránh xung đột, Thành Cát Tư Hãn thành lập một tổ chức để đảm bảo sự tự do tôn giáo, cho dù bản thân ông cũng có tín ngưỡng riêng. Dưới sự kiểm soát của ông, tất cả các lãnh tụ tôn giáo đều được miễn thuế cũng như các dịch vụ công.
Thương mại: Người Mông Cổ là những người sống du mục trên thảo nguyên, nên họ sống xa xỉ với những vật phẩm đến từ thuế đối với phần dân số đã bị chinh phục. Nhưng Weatherford cũng chỉ ra rằng người Mông Cổ tìm cách phát triển kinh tế, khuyến khích cấp dưới kinh doanh, thay vì tăng thuế. Từ đó, họ đã phát triển hình thức thương mại mang tầm quốc tế. Người châu Âu sau đó 2 thế kỷ đã tìm cách đòi lại thương mại quốc tế có lợi đã mất khi đế chế Mông Cổ sụp đổ.
Khoa học kỹ thuật: Không chỉ vậy, người Mông Cổ dưới thời Thành Cát Tư Hãn đã giúp khuyến khích phát triển khoa học, cải thiện nông nghiệp và các phương thức sản xuất. Nhiều phát minh có được từ việc kết hợp kỹ thuật và công nghệ từ những nền văn hóa khác nhau nằm trong đế chế rộng lớn này. Đặc biệt, kỹ thuật in ấn được phát triển vào thời kỳ này cũng là chìa khóa cho phương Tây tạo nên thời kỳ Phục Hưng.
Weatherford cho rằng đế chế Mông Cổ đã làm được những việc sau:
  • Sự khoan dung tôn giáo chưa từng có
  • Sự phân biệt chủng tộc giữa người Mông Cổ và các dân tộc khác là nhỏ
  • Ít can thiệp vào phong tục và văn hóa bản địa
  • Ý tưởng cai trị trên cơ sở đồng thuận xuất phát từ các bộ lạc Mông Cổ
  • Nền văn hóa do người tài trị vì
  • Nền văn hóa thượng tôn pháp luật
  • Sự tài trợ mạnh mẽ cho giao thương Á – Âu
  • Việc xây dựng đường xá để hỗ trợ giao thương
  • Nền văn hóa đầu tiên thúc đẩy tri thức toàn cầu
  • Hệ thống thư tín quốc tế đầu tiên
  • Sự mở rộng mạnh mẽ đầu tiên của việc sử dụng tiền giấy
  • Giảm tra tấn ở các hệ thống hình sự
  • Đức tin vào miễn trừ ngoại giao cho đại sứ/phái viên
Sự ma hóa người Mông Cổ

Trong khi các nhà văn và nhà khai phá thời Phục Hưng nhìn Thành Cát Tư Hãn và người Mông Cổ một cách rộng mở, thời kỳ Khai Sáng ở châu Âu đã tạo nên một tinh thần bài Á ngày càng lan rộng và thường tập trung vào Mông Cổ. Họ cho rằng đế chế này là biểu tượng của mọi thứ xấu xa và khiếm khuyết.
Montesquieu đã viết rằng người Mông Cổ đã “phá hủy châu Á, từ Ấn Độ cho đến Địa Trung Hải; và tất cả các quốc gia đã tạo thành phía đông Ba Tư thành một sa mạc.” (The spirit of laws, 1748)
Voltaire, đã biến triều đại Mông Cổ thành một câu chuyện ngụ ngôn với sự xuất hiện của vua Pháp. Ông đã mô tả người Mông Cổ là “những đứa con hoang của lũ cướp, kẻ sống trong những chiếc lều, trên những chiến xa, và trên những cánh đồng.” Họ đã “ghét bỏ nghệ thuật, các phong tục, luật pháp của chúng ta; và vì thế thay đổi toàn bộ chúng; để biến thành một chỗ ngồi tuyệt vời cho một đế chế với sa mạc rộng lớn, như chính họ.”
Nhà tự nhiên học người Pháp với ảnh hưởng lớn Comte de Buffon, trong bách khoa toàn thư của mình về lịch sử tự nhiên, đã hạ thấp ngoại hình và đức tính của người Mông Cổ, và mô tả họ là “là những kẻ lạ của tôn giáo, đạo đức, và sự duyên dáng. Chúng là những kẻ cướp chuyên nghiệp.” Được dịch từ tiếng Pháp sang nhiều ngôn ngữ châu Âu, tác phẩm của ông đã trở thành một trong những nguồn thông tin truyền thống vào thế kỷ 18 và 19.
Nhà khoa học người Scotland Robert Chambers đã viết:
Những vị lãnh tụ của các chủng tộc khác nhau của nhân loại đơn thuần là các đại diện trong các giai đoạn đặc biệt trong sự phát triển ở dạng cao nhất hay là người da trắng… [so sánh với họ] những người Mông Cổ chỉ là một đứa trẻ dị dạng mới sinh.
Điều đáng ngạc nhiên là thời đó, người mắc hội chứng Down được biết đến ngày nay, thường được vẽ mô tả có đặc trưng trên khuôn mặt giống với người Mông Cổ.
Nhìn nhận lại về Thành Cát Tư Hãn

Một trong những người đầu tiên đánh giá lại Thành Cát Tư Hãn là nhà chính trị Ấn Độ Jawaharlal Nehru. Trong một chuỗi thư về lịch sử thế giới viết cho con gái mình từ nhà tù Anh vào những năm 1930, ông đã viết “Thành Cát Tư Hãn, không nghi ngờ gì nữa, là một thiên tài cũng như lãnh đạo quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử… Alexander và Caesar có vẻ nhỏ bé trước ông.”
Vào năm 2005, Peter Jackson xuất bản tạp chí hàn lâm “The Mongols and the West” (Tạm dịch: Người Mông Cổ và phương Tây), về quan hệ giữa Thiên chúa giáo phương Tây và đế chế Mông Cổ ở thời kỳ Trung cổ.
Antti Ruotsala, một nhà bình luận, đã ghi nhận việc các đánh giá lại về người Mông Cổ cho đến thời điểm đó đều được thực hiện bởi các học giả Đức, mà các công trình của họ không được phổ biến rộng rãi ở phương Tây.
Chỉ đến Weatherford, sự đóng ghóp của Thành Cát Tư Hãn và đế quốc Mông Cổ cho thế giới mới được nhìn nhận lại một cách thật sự hoàn chỉnh.
Quang Minh
 
CHÂU ÂU TRỞ NÊN GIÀU CÓ VÀ THỊNH VƯỢNG NHƯ THẾ NÀO?
Joel Mokyr là Giáo sư chuyên ngành kinh tế học và lịch sử tại Đại học Northwestern (Illinois). Năm 2006, ông được trao tặng Giải thưởng Lịch sử Heineken do Học viện Khoa học Hoàng gia Hà Lan trao tặng. Cuốn sách mới nhất của ông là “Culture of Growth: Origins of the Modern Economy (2016)” (Văn hóa tăng trưởng: Khởi nguồn của kinh tế hiện đại (2016)).
Trong thời đại của các cường quốc và những đế chế lớn mạnh, chỉ một khu vực trên thế giới có kinh nghiệm phát triển kinh tế phi thường. Bằng cách nào?
196354
Quảng trường Dam với Tòa thị chính Mới đang xây dựng (1656) bởi Johannes Lingelbach. Ảnh Bảo tàng Amsterdam / Wikipedia
Bằng cách nào và tại sao thế giới hiện đại và sự thịnh vượng chưa từng có của châu lục này bắt đầu? Các sử gia, các nhà kinh tế học, các nhà khoa học chính trị và các học giả khác đã viết vô số sách với những lời giải thích làm thế nào và tại sao quá trình tăng trưởng kinh tế hiện đại hay vì sao Kỷ Đại Thịnh vượng (the Great Enrichment) bùng nổ ở Tây Âu vào thế kỷ 18. Một trong những lời giải thích lâu đời nhất và thuyết phục nhất chính là sự chia rẽ về mặt chính trị trong một thời gian dài của châu Âu. Trong suốt nhiều thế kỷ, không một nhà lãnh đạo nào có thể thống nhất châu Âu theo cách mà người Mông Cổ hay Đại Minh từng thống nhất Trung Quốc.
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng thành công của châu Âu không phải là kết quả của bất kỳ sự ưu việt nào vốn có của nền văn hoá này (ít người Kitô giáo hơn). Nó được biết đến như là một tài sản nổi lên từ thời đại của Hy Lạp và La Mã cổ đại, một kết quả phức tạp và không ngờ đến của các tương tác đơn giản trên toàn bộ châu lục. Phép màu kinh tế châu Âu hiện đại là hệ quả ngẫu nhiên, tình cờ của thể chế. Nó không hề được thiết kế hay lên kế hoạch từ trước. Nhưng nó vẫn xảy ra, và một khi đã bắt đầu, nó sẽ tạo ra một động lực phát triển kinh tế mà nhờ đó, tăng trưởng dựa trên tri thức vừa trở nên khả thi, vừa bền vững.
Tại sao lại như vậy? Nói ngắn gọn thì sự chia rẽ chính trị tại châu Âu đã thúc đẩy sự cạnh tranh năng suất. Các nước thống trị tại cựu lục địa phải cạnh tranh nhau để thu hút những trí thức và thợ thủ công xuất sắc nhất. Nhà sử học kinh tế Eric L Jones gọi đây là “Hệ thống Thành bang”. Cái giá của việc nền chính trị châu Âu bị chia nhỏ thành nhiều thành bang cạnh tranh lẫn nhau là không nhỏ: chiến tranh gần như liên miên, cơ chế bảo hộ, nhiều hợp tác thất bại. Dù vậy, nhiều học giả giờ đây tin rằng, trong dài hạn, việc các thành bang cạnh tranh với nhau lợi nhiều hơn là hại. Cụ thể, mô hình đó khuyến khích các sáng tạo khoa học và công nghệ hơn hẳn so với một lục địa thống nhất.
Có ý kiến cho rằng sự chia rẽ chính trị ở Châu Âu, mặc dù tốn kém nhưng mang lại những lợi ích to lớn, mang lại một nền kinh tế chính trị khác biệt. Trong chương cuối của cuốn “Lịch sử trượt dốc và sụp đổ của đế chế La Mã (1789)”, Edward Gibbon từng viết: “Châu Âu hiện bị chia nhỏ thành 12 vương quốc hùng mạnh nhưng không đồng đều”. Ba trong số đó được gọi là “những vương quốc thịnh vượng đáng trân trọng”, số còn lại là những vương quốc nhỏ hơn, nhưng vẫn độc lập. Việc có nhiều quốc gia kìm chân nhau khiến cho người thống trị khó lạm dụng sự chuyên chế độc tài. Họ vừa lo sợ, vừa ngại với các thành bang láng giềng, Gibbon phân tích. Các nền cộng hòa có được trật tự, kỷ cương và sự ổn định. Nền quân chủ thấm nhuần nguyên tắc của tự do, hoặc ít nhất là có sự tiết chế. Theo thời gian, tinh thần danh dự và công lý cũng dần được đưa vào hiến pháp.
Nói cách khác, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, và sự tiên phong của họ đối với các nước còn lại cũng cải thiện một số những điều tồi tệ nhất có khả năng sẽ xảy ra của chủ nghĩa độc tài chính trị. Gibbon nói thêm rằng trong hòa bình, sự tiến bộ của kiến thức và công nghiệp được đẩy nhanh bởi sự cạnh tranh của rất nhiều đối thủ tích cực. Hai học giả khác, David Hume và Immanuel Kant, cũng có cùng suy nghĩ trên. Từ những cải cách trong thế kỷ thứ 18 của Đại Đế Peter của nước Nga đến sự huy động công nghệ kinh hoàng của Hoa Kỳ để đáp trả lại việc Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo vào năm 1957, cạnh tranh giữa các quốc gia là một động lực kinh tế to lớn. Có lẽ quan trọng hơn, “hệ thống thành bang” đã hạn chế khả năng của các nhà chức trách chính trị và tôn giáo trong vấn đề kiểm soát sự đổi mới trí tuệ. Nếu những nhà thống trị bảo thủ cản trở sáng tạo gốc, các công dân thông minh nhất của họ sẽ bỏ sang vương quốc khác sinh sống (và thực tế đã chứng minh điều này).
Bottom of Form
Nhưng cũng có ý kiến cho rằng sự chia rẽ chính trị là chưa đủ. Tiểu lục địa Ấn Độ và Trung Đông cũng chia rẽ trong gần suốt chiều dài lịch sử, châu Phi thậm chí còn chia rẽ hơn thế, nhưng họ đều không trải qua Kỷ Đại Thịnh Vượng. Rõ ràng còn có các yếu tố “cần và đủ” khác nữa. Quy mô của “thị trường” sẽ quyết định việc các sáng chế công nghệ và khoa học có nhận được đủ sự chú ý mà chúng xứng đáng được nhận hay không. Lấy thí dụ, năm 1769, Matthew Boulton từng viết cho đối tác James Watt (nhà vật lý học sáng chế ra động cơ hơi nước) của mình rằng “Sẽ không đáng để tôi mất thời gian nếu động cơ sản xuất ra chỉ phục vụ được 3 quận. Nhưng nếu như phục vụ cả thế giới thì lại hoàn toàn xứng đáng”.
Những gì đúng với động cơ hơi nước thì cũng đúng đối với những quyển sách và bài luận về thiên văn học, y học và toán học. Để viết một cuốn sách liên quan đến chi phí cố định thì quy mô thị trường là rất quan trọng. Nếu sự chia rẽ chính trị khiến phạm vi phục vụ của sự sáng tạo bị thu nhỏ lại thì động lực sáng tạo và cải cách cũng sẽ không còn nhiều.
Tuy nhiên, tại châu Âu sơ kỳ hiện đại, sự chia rẽ về chính trị và tôn giáo có không phải là một ‘thị trường nhỏ” cho những nhà đổi mới tư duy. Sự chia rẽ này tồn tại đồng thời với sự thống nhất đáng kể về mặt tư tưởng và văn hóa. Châu Âu đã đưa ra một thị trường ít nhiều có sự tích hợp các ý tưởng, mạng lưới trí thức (cả nam giới lẫn nữ giới) có quy mô xuyên lục địa trong đó các ý tưởng sáng tạo được phân bổ và truyền bá. Sự thống nhất văn hoá châu Âu bắt nguồn từ di sản cổ điển của nó, và tiếng Latinh trở thành ngôn ngữ chung được sử dụng rộng rãi của giới trí thức. Mô hình cấu trúc của nhà thờ Thiên chúa giáo Trung cổ cũng trở thành một yếu tố được chia sẽ xuyên lục địa. Thật vậy, từ lâu trước khi thuật ngữ “Châu Âu” được sử dụng rộng rãi, nó được gọi là “Christendom”.
Nếu giới trí thức của có thể di chuyển bên trong châu Âu với sự dễ dàng và tần suất chưa từng có, ý tưởng của họ thậm chí còn “di chuyển” nhanh hơn thế.
 
Phần lớn ở thời Trung Cổ, cường độ hoạt động trí tuệ (về cả số lượng người tham gia và sự sôi nổi tranh luận) còn khá nhẹ so với những năm sau này, sau năm 1500 phạm vi hoạt động của giới trí thức là xuyên quốc gia. Ở châu Âu thời sơ kỳ hiện đại, ranh giới quốc gia đối với cộng đồng trí thức là rất mong manh và họ có thể di chuyển đi lại ở khắp châu Âu. Mặc dù chậm và khó chịu, nhiều nhà trí thức hàng đầu của châu Âu vẫn di chuyển qua lại giữa các tiểu bang.Hai nhà lãnh đạo nổi bật nhất của chủ nghĩa nhân văn châu Âu trong thế kỷ 16, Juan Luis Vives, sinh ra ở Valencia và Desiderius Erasmus sinh ở Rotterdam, đều đại diện cho các nhà tư tưởng hàng đầu Châu Âu thích lối sống “di động”: Vives học ở Paris, phần lớn cuộc đời của ông sống ở Flanders, nhưng đồng thời cũng là thành viên của trường Đại học Corpus Christi ở Oxford. Có thời gian, ông còn là gia sư cho con gái của vua Henry VIII là Mary. Erasmus di chuyển qua lại giữa Leuven, Anh và Basel. Nhưng ông cũng dành thời gian ở Turin và Venice. Sự di chuyển như vậy giữa các nhà trí thức càng trở nên phổ biến và rõ rật hơn trong thế kỷ 17.
Các học giả có thể di chuyển bên trong châu Âu với sự dễ dàng và tần suất chưa từng có, ý tưởng của họ thậm chí còn “di chuyển” nhanh hơn thế. Thông qua báo in và hệ thống bưu chính có nhiều cải tiến, những công trình kiến thức được lan truyền rất nhanh. Tuy nhiên trong môi trường tương đối đa nguyên của châu Âu sơ kỳ hiện đại, đặc biệt trái ngược với Đông Á, những nỗ lực bảo thủ nhằm trấn áp những ý tưởng mới đã được đưa ra.Trong trường hợp của những “siêu sao” như Galileo hay Spinoza, nếu như quan chức kiểm duyệt địa phương cố gắng ngăn cản nghiên cứu của họ, họ có thể dễ dàng tìm thấy những nhà xuất bản nước ngoài hứng thú với công trình đó.
Lấy thí dụ, những cuốn sách “bị cấm” của Galileo nhanh chóng được tuồn ra khỏi nước Ý và được xuất bạn ở các thành phố theo đạo Tin Lành. Cuốn Discorsi được xuất bản tại Leiden năm 1638, trong khi Dialogo được tái bản ở Strasbourg năm 1635. Nhà xuất bản Jan Riewertz của Spinoza đã đặt “Hamburg” vào trang tiêu đề của Tractatus để đánh lừa kiểm duyệt, mặc dù cuốn sách đó xuất bản ở Amsterdam. Đối với giới trí thức, các tổ chức nhà nước bị chia rẽ và không hiệp đồng của Châu Âu đã đề cao sự tự do trí tuệ mà vốn không thể tồn tại ở Trung Quốc hay đế chế Ottoman.
Sau năm 1500, sự hợp nhất sau chia rẽ chính trị ở châu Âu và các tổ chức đào tạo trên toàn châu Âu đã mang lại những thay đổi trí tuệ sâu sắc trong cách truyền bá những ý tưởng mới. Các cuốn sách được viết ở Châu Âu đã tìm thấy đường tới những nơi khác. Chúng được đọc, trích dẫn, thảo luận và bình luận ở mọi nơi. Khi một phát hiện mới được công bố ở bất cứ đâu trong phạm vi châu Âu, nó sẽ được thử thách, tranh luận, chứng minh bởi cộng đồng học giả trên khắp lục địa. Năm mươi năm sau khi xuất bản cuốn sách của William Harvey về việc lưu thông máu De Motu Cordis (1628), bác sĩ người Anh và nhà trí thức Thomas Browne đã phản ánh về khám phá của Harvey rằng “lúc đầu khi lưu hành sách này, tất cả các trường học ở châu Âu đều trách móc ... và lên án nó bằng một cuộc bỏ phiếu chung... nhưng cuối cùng [quyển sách này] đã được chấp nhận và xác nhận bởi các bác sĩ nổi tiếng”.
Các nhà trí thức hàng đầu trong thời kỳ này phục vụ cho toàn châu Âu chứ không phải là một địa phương, một khán giả và danh tiếng của họ vang khắp lục địa. Họ coi mình là công dân của “Nền cộng hòa thư tín” và theo lời của triết gia Pháp Pierre Bayle (một trong những nhân vật chính của nó), đó là một khối cộng đồng tự do, một đế chế của sự thật. Các ẩn dụ chính trị được áp dụng chủ yếu là sự mơ tưởng và không phải sự tâng bốc, nhưng nó thể hiện các đặc điểm của một cộng đồng đặt ra các quy tắc ứng xử cho thị trường ý tưởng. Đó là một thị trường rất cạnh tranh.
Trên tất cả, giới trí thức của châu Âu tranh luận hầu hết mọi thứ, và nhiều lần chứng tỏ sẵn sàng đánh bại những ai không lên tiếng tranh luận. Họ cùng nhau thành lập một cam kết hợp tác khoa học (khoa học mở). Quay trở lại Gibbon: ông ta quan sát thấy rằng triết gia, không giống như những nhà ái quốc, họ coi Âu Châu là một nước “cộng hòa vĩ đại” duy nhất, trong đó sự cân bằng quyền lực có thể tiếp tục thay đổi và sự thịnh vượng của một số quốc gia có thể được hoan nghênh hoặc gây thất vọng. Nhưng mối quan ngại của một “nước cộng hòa vĩ đại” duy nhất là đảm bảo “sự hạnh phúc, hệ thống nghệ thuật, luật lệ và cách cư xử chung”. Đó là một châu Âu “khác biệt đầy lợi thế” so với tất cả các nền văn minh khác, Gibbon phân tích.
Về khía cạnh này, cộng đồng trí thức châu Âu được tận hưởng cả 2 lợi ích trên: một cộng đồng học thức xuyên quốc gia và một hệ thông cạnh tranh đa quốc gia. Hệ thống này cho ra đời rất nhiều yếu tố văn hóa dẫn đến Kỷ Đại Thịnh Vượng: niềm tin vào quá trình tiến bộ của kinh tế xã hội, sự tôn trọng dành cho những đổi mới khoa học và tri thức, và sự cam kết gắn với Bacon, tức là một tác phẩm của Bacon nói về chương trình nghiên cứu phục vụ cho sự phát triển kinh tế. Các nhà triết học tự nhiên và các nhà toán học của “Cộng hoà Thư tín” của thế kỷ 17 đã thông qua ý tưởng về khoa học thực nghiệm như là một công cụ chính và chấp nhận việc sử dụng toán học ngày càng tinh vi hơn như là một phương pháp hiểu và hệ thống hóa tự nhiên.
Mặc dù vậy, việc coi những tiến bộ kinh tế dựa trên trí thức như là động lực chính đằng sau cuộc Cách mạng Công nghiệp và tăng trưởng kinh tế sớm còn gây tranh cãi, và đúng là như vậy. Những thí dụ về phát minh thuần túy khoa học trong thế kỷ 18 còn khá ít, dù sau năm 1815, số lượng đã tăng nhanh hơn. Tuy nhiên, nếu ta bác bỏ hoàn toàn sự liên quan của cuộc cách mạng khoa học với tăng trưởng kinh tế hiện đại, chúng ta sẽ bỏ lỡ một sự thật là nếu như không ngày càng hiểu rõ tự nhiên, những tiến bộ trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp của thế kỷ 18 (nhất là ngành dệt) sẽ không thể có được..
Hơn nữa, một số phát minh vẫn cần tài nguyên đầu vào từ những người có học thức ngay cả khi chúng không được xem là khoa học thuần túy. Ví dụ, máy đo biên độ biển, một trong những phát minh quan trọng nhất của thời đại Cách mạng Công nghiệp (mặc dù hiếm khi được đề cập) đã được thực hiện thông qua các công trình của các nhà thiên văn toán học trước đó. Người đầu tiên là nhà thiên văn học và toán học người Hà Lan (nhà khoa học Jemme Reinerszoon), người đã đề xuất những gì mà John Harrison đã thực hiện vào năm 1970.
Thành công của sự tiến bộ khoa học và tăng trưởng kinh tế bền vững không mang tính quyết định hơn sự tiến hóa của những con người thông thái Homo sapiens ưu việt trên hành tinh
Một điều thú vị là những tiến bộ khoa học không chỉ được thúc đẩy bởi sự nổi lên của khoa học mở và của thị trường ý tưởng xuyên quốc gia. Chúng còn được dẫn dắt bởi sự xuất hiện của những công cụ và thiết bị tinh vi hơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu về triết học tự nhiên. Các công cụ quan trọng nhất bao gồm kính hiển vi, kính viễn vọng, nhiệt kế hiện đại và phong vũ biểu. Tất cả đều được phát triển vào nửa đầu thế kỷ 17.
Các công cụ cải tiến trong vật lý, thiên văn học và sinh học đã bác bỏ nhiều quan niệm sai lầm thừa hưởng từ thời Cổ đại. Phát hiện về chân không và khí quyển đã đặt nền móng cho động cơ khí quyển. Đổi lại, động cơ hơi nước cũng tạo cảm hứng để các nhà khoa học nghiên cứu bản chất vật lý của việc biến nhiệt năng thành chuyển động. Hơn một thế kỷ sau cú bơm đầu tiên của động cơ hơi nước Newcomen (động cơ Dudley Castle nổi tiếng năm 1712), môn khoa học nhiệt động học đã ra đời.
Trong thế kỷ 18 ở châu Âu, tương tác giữa những nhà khoa học thuần túy và công trình của những kỹ sư và thợ cơ khí đã trở nên mạnh mẽ hơn. Sự kết hợp giữa kiến thức mang tính lý thuyết và thực hành đã tạo ra một mô hình xúc tác tích cực. Trong một mô hình như vậy, một khi quá trình này khởi động thì nó có thể tự vận động. Theo lớp nghĩa này thì, tăng trưởng dựa trên tri thức là một trong những hiện tượng lịch sử bền bỉ nhất - mặc dù các điều kiện của sự bền bỉ của nó rất phức tạp và đòi hỏi một thị trường cạnh tranh và mở dành cho những ý tưởng.
Tất nhiên, chúng ta phải công nhận với nhau rằng Kỷ Đại Thịnh Vượng của châu Âu (và thế giới) không phải là tuyệt đối. Chỉ cần một vài thay đổi nhỏ trong điều kiện ban đầu, hay thậm chí là vài tai nạn phát sinh dọc hành trình này, có lẽ đã không có Kỷ Đại Thịnh Vượng. Nếu các hoạt động chính trị và quân sự có những bước đi khác nhau ở Châu Âu, những thế lực bảo thủ có thể đã quyết liệt ngăn chặn và có thái độ thù địch hơn đối với cách giải thích mới và tiến bộ hơn của thế giới. Không có điều gì chúng ta có thể xác định trước hoặc không thể thay đổi trong thành công cuối cùng của sự tiến bộ khoa học và tăng trưởng kinh tế bền vững, ví dụ như sự tiến hóa của người Homo sapiens (hay bất kỳ loài nào khác) trên hành tinh này.
Kết quả từ các hoạt động trên thị trường ý tưởng sau năm 1600 là Thời kỳ Khai sáng của Châu Âu, trong đó niềm tin vào tiến bộ khoa học và trí tuệ đã được chuyển thành một chương trình chính trị đầy tham vọng, một chương trình mà mặc dù có nhiều sai sót và thiếu sót, vẫn chi phối các chính thể và các nền kinh tế Châu Âu. Mặc dù đã có những phản ứng dữ dội gần đây, nhưng những động lực về tiến bộ khoa học và công nghệ, một khi đã chuyển động, có thể sẽ không thể cưỡng lại được. Sau khi tất cả, thế giới ngày nay vẫn bao gồm các thực thể cạnh tranh, và dường như không còn gần với sự hợp nhất trong năm 1600. Thị trường cho các ý tưởng đang hoạt động mạnh mẽ hơn bao giờ hết, và những đổi mới đang diễn ra với tốc độ nhanh chưa từng thấy. Những thành quả công nghệ bình thường đã đạt được, những điều tốt nhất vẫn còn đang đến.
 
How Europe became so rich
In a time of great powers and empires, just one region of the world experienced extraordinary economic growth. How?
196356
Dam Square with the New Town Hall under Construction (1656) by Johannes Lingelbach. Photo courtesy The Amsterdam Museum/Wikipedia
How and why did the modern world and its unprecedented prosperity begin? Learned tomes by historians, economists, political scientists and other scholars fill many bookshelves with explanations of how and why the process of modern economic growth or ‘the Great Enrichment’ exploded in western Europe in the 18th century. One of the oldest and most persuasive explanations is the long political fragmentation of Europe. For centuries, no ruler had ever been able to unite Europe the way the Mongols and the Mings had united China.

It should be emphasised that Europe’s success was not the result of any inherent superiority of European (much less Christian) culture. It was rather what is known as a classical emergent property, a complex and unintended outcome of simpler interactions on the whole. The modern European economic miracle was the result of contingent institutional outcomes. It was neither designed nor planned. But it happened, and once it began, it generated a self-reinforcing dynamic of economic progress that made knowledge-driven growth both possible and sustainable.

How did this work? In brief, Europe’s political fragmentation spurred productive competition. It meant that European rulers found themselves competing for the best and most productive intellectuals and artisans. The economic historian Eric L Jones called this ‘the States system’. The costs of European political division into multiple competing states were substantial: they included almost incessant warfare, protectionism, and other coordination failures. Many scholars now believe, however, that in the long run the benefits of competing states might have been larger than the costs. In particular, the existence of multiple competing states encouraged scientific and technological innovation.

The idea that European political fragmentation, despite its evident costs, also brought great benefits, enjoys a distinguished lineage. In the closing chapter of The History of the Decline and Fall of the Roman Empire (1789), Edward Gibbon wrote: ‘Europe is now divided into 12 powerful, though unequal, kingdoms.’ Three of them he called ‘respectable commonwealths’, the rest ‘a variety of smaller, though independent, states’. The ‘abuses of tyranny are restrained by the mutual influence of fear and shame’, Gibbon wrote, adding that ‘republics have acquired order and stability; monarchies have imbibed the principles of freedom, or, at least, of moderation; and some sense of honour and justice is introduced into the most defective constitutions by the general manners of the times.’

In other words, the rivalries between the states, and their examples to one another, also meliorated some of the worst possibilities of political authoritarianism. Gibbon added that ‘in peace, the progress of knowledge and industry is accelerated by the emulation of so many active rivals’. Other Enlightenment writers, David Hume and Immanuel Kant for example, saw it the same way. From the early 18th-century reforms of Russia’s Peter the Great, to the United States’ panicked technological mobilisation in response to the Soviet Union’s 1957 launch of Sputnik, interstate competition was a powerful economic mover. More important, perhaps, the ‘states system’ constrained the ability of political and religious authorities to control intellectual innovation. If conservative rulers clamped down on heretical and subversive (that is, original and creative) thought, their smartest citizens would just go elsewhere (as many of them, indeed, did).

Sign up to our newsletter
Updates on everything new at Aeon.

Daily

Weekly

See our newsletter privacy policy here
Apossible objection to this view is that political fragmentation was not enough. The Indian subcontinent and the Middle East were fragmented for much of their history, and Africa even more so, yet they did not experience a Great Enrichment. Clearly, more was needed. The size of the ‘market’ that intellectual and technological innovators faced was one element of scientific and technological development that has not perhaps received as much attention it should. In 1769, for example, Matthew Boulton wrote to his partner James Watt: ‘It is not worth my while to manufacture [your engine] for three counties only; but I find it very well worth my while to make it for all the world.’

What was true for steam engines was equally true for books and essays on astronomy, medicine and mathematics. Writing such a book involved fixed costs, and so the size of the market mattered. If fragmentation meant that the constituency of each innovator was small, it would have dampened the incentives.

In early modern Europe, however, political and religious fragmentation did not mean small audiences for intellectual innovators. Political fragmentation existed alongside a remarkable intellectual and cultural unity. Europe offered a more or less integrated market for ideas, a continent-wide network of learned men and women, in which new ideas were distributed and circulated. European cultural unity was rooted in its classical heritage and, among intellectuals, the widespread use of Latin as their lingua franca. The structure of the medieval Christian Church also provided an element shared throughout the continent. Indeed, long before the term ‘Europe’ was commonly used, it was called ‘Christendom’.

If Europe’s intellectuals moved with unprecedented frequency and ease, their ideas travelled even faster

While for much of the Middle Ages the intensity of intellectual activity (in terms of both the number of participants and the heatedness of the debates) was light compared to what it was to become, after 1500 it was transnational. In early modern Europe, national boundaries mattered little in the thin but lively and mobile community of intellectuals in Europe. Despite slow and uncomfortable travel, many of Europe’s leading intellectuals moved back and forth between states. Both the Valencia-born Juan Luis Vives and the Rotterdam-born Desiderius Erasmus, two of the most prominent leaders of 16th-century European humanism, embodied the footloose quality of Europe’s leading thinkers: Vives studied in Paris, lived most of his life in Flanders, but was also a member of Corpus Christi College in Oxford. For a while, he served as a tutor to Henry VIII’s daughter Mary. Erasmus moved back between Leuven, England and Basel. But he also spent time in Turin and Venice. Such mobility among intellectuals grew even more pronounced in the 17th century.
 
If Europe’s intellectuals moved with unprecedented frequency and ease, their ideas travelled even faster. Through the printing press and the much-improved postal system, written knowledge circulated rapidly. In the relatively pluralistic environment of early modern Europe, especially in contrast with East Asia, conservative attempts to suppress new ideas floundered. The reputation of intellectual superstars such as Galileo and Spinoza was such that, if local censorship tried to prohibit the publication of their works, they could easily find publishers abroad.

Galileo’s ‘banned’ books were quickly smuggled out of Italy and published in Protestant cities. For example, his Discorsi was published in Leiden in 1638, and his Dialogo was re-published in Strasbourg in 1635. Spinoza’s publisher, Jan Riewertz, placed ‘Hamburg’ on the title page of the Tractatus to mislead censors, even though the book was published in Amsterdam. For intellectuals, Europe’s divided and uncoordinated polities enhanced an intellectual freedom that simply could not exist in China or the Ottoman Empire.

After 1500, Europe’s unique combination of political fragmentation and its pan-European institutions of learning brought dramatic intellectual changes in the way new ideas circulated. Books written in one part of Europe found their way to other parts. They were soon read, quoted, plagiarised, discussed and commented upon everywhere. When a new discovery was made anywhere in Europe, it was debated and tested throughout the continent. Fifty years after the publication of William Harvey’s text on the circulation of blood De Motu Cordis (1628), the English doctor and intellectual Thomas Browne reflected on Harvey’s discovery that ‘at the first trump of the circulation all the schools of Europe murmured … and condemned it by a general vote … but at length [it was] accepted and confirmed by illustrious physicians.’

The intellectual superstars of the period catered to a European, not a local, audience and enjoyed continent-wide reputations. They saw themselves as citizens of a ‘Republic of Letters’ and regarded this entity, in the words of the French philosopher Pierre Bayle (one of its central figures), as a free commonwealth, an empire of truth. The political metaphor was mostly wishful thinking and not a little self-flattery, but it expressed the features of a community that set rules of conduct for the market for ideas. It was a very competitive market.

Above all, Europe’s intellectuals contested almost everything, and time and again demonstrated a willingness to slaughter sacred cows. They together established a commitment to open science. To return to Gibbon: he observed that the philosopher, unlike the patriot, was permitted to consider Europe as a single ‘great republic’ in which the balance of power might continue to fluctuate and the prosperity of some nations ‘may be alternately exalted or depressed’. But this apprehension of a single ‘great republic’ guaranteed a ‘general state of happiness, system of arts and laws and manners’. It ‘advantageously distinguished’ Europe from other civilisations, wrote Gibbon.

In this regard, then, Europe’s intellectual community enjoyed the best of two worlds, both the advantages of an integrated transnational academic community and a competitive states system. This system produced many of the cultural components that led to the Great Enrichment: a belief in social and economic progress, a growing regard for scientific and intellectual innovation, and a commitment to a Baconian, ie a methodical and empirically grounded, research programme of knowledge in the service of economic growth. The natural philosophers and mathematicians of the 17th-century Republic of Letters adopted the idea of experimental science as a prime tool, and accepted the use of increasingly more sophisticated mathematics as a method of understanding and codifying nature.

The idea of knowledge-driven economic progress as the primum movens of the Industrial Revolution and early economic growth is still controversial, and rightly so. Examples of purely science-driven inventions in the 18th century are few, though after 1815 their number rises rapidly. Yet dismissing the scientific revolution as irrelevant to modern economic growth misses the point that without an ever-growing understanding of nature, the artisan-driven advances of the 18th century (especially in the textile industry) would slowly but ineluctably have ground to a halt.

Furthermore, some inventions still needed inputs from learned people even if they cannot be said to be purely science-driven. For instance, the marine chronometer, one of the most important inventions of the era of the Industrial Revolution (though rarely mentioned as a part of it) was made possible through the work of earlier mathematical astronomers. The first one was the 16th-century Dutch (more accurately Frisian) astronomer and mathematician Jemme Reinerszoon, known as Gemma Frisius, who suggested the possibility of what John Harrison (the ingenious watchmaker who cracked this thorny problem) actually did in 1740.

The triumph of scientific progress and sustained economic growth was no more predetermined than the evolution of Homo sapiens as dominant on the planet

It is interesting to note that the advances in science were driven not only by the emergence of open science and the growing sophistication of the transnational market for ideas. They were also driven by the appearance of better tools and instruments that facilitated research in natural philosophy. The most important ones include the microscope, telescope, barometer and modern thermometer. All of them were developed in the first half of the 17th century. Improved tools in physics, astronomy and biology refuted many misconceptions inherited from classical antiquity. The newly discovered notions of a vacuum and an atmosphere stimulated the emergence of atmospheric engines. In turn, steam engines inspired scientists to investigate the physics of the conversion of heat into motion. More than a century after Newcomen’s first pump (the famous Dudley Castle engine of 1712), thermodynamics was developed.

In 18th-century Europe, the interplay between pure science and the work of engineers and mechanics became progressively stronger. This interaction of propositional knowledge (knowledge of ‘what’) and prescriptive knowledge (knowledge of ‘how’) constituted a positive feedback or autocatalytic model. In such systems, once the process gets underway, it can become self-propelled. In that sense, knowledge-based growth is one of the most persistent of all historical phenomena – though the conditions of its persistence are complex and require above all a competitive and open market for ideas.

We must recognise that Europe’s (and the world’s) Great Enrichment was in no way inevitable. With fairly minor changes in initial conditions, or even accidents along the way, it might never have happened. Had political and military developments taken different turns in Europe, conservative forces might have prevailed and taken a more hostile attitude toward the new and more progressive interpretation of the world. There was nothing predetermined or inexorable in the ultimate triumph of scientific progress and sustained economic growth, any more than, say, in the eventual evolution of Homo sapiens (or any other specific species) as dominant on the planet.

One outcome of the activities in the market for ideas after 1600 was the European Enlightenment, in which the belief in scientific and intellectual progress was translated into an ambitious political programme, a programme that, despite its many flaws and misfires, still dominates European polities and economies. Notwithstanding the backlash it has recently encountered, the forces of technological and scientific progress, once set in motion, might have become irresistible. The world today, after all, still consists of competing entities, and seems not much closer to unification than in 1600. Its market for ideas is more active than ever, and innovations are occurring at an ever faster pace. Far from all the low-hanging technological fruits having been picked, the best is still to come.
 
Một sự chênh lệch quá lớn, và hầu hết các tỷ phú da đen giàu lên nhờ ngành giải trí, rất ít ai trong đó giàu lên nhờ kinh tế, vì sao vậy???
Có 615 tỷ phú ở Mỹ và chỉ 6 trong số đó là người da đen
Thu Hằng
Thứ ba, 16/6/2020 09:11 (GMT+7)
Con số chênh lệch đáng kinh ngạc này cho thấy khoảng cách ngày càng lớn về cơ hội kinh tế giữa người da đen và da trắng tại Mỹ.
196372
Theo thống kê của Forbes, chỉ có 6 trong số 615 tỷ phú của Mỹ là người gốc Phi. Giới chuyên gia kinh tế nhận định con số chênh lệch quá lớn này cho thấy khoảng cách khủng khiếp về cơ hội kinh tế giữa người da đen và người da trắng tại nền kinh tế lớn nhất thế giới. Dưới đây là 6 tỷ phú da đen của Mỹ, được liệt kê theo thứ tự tăng dần của giá trị tài sản ròng. Ảnh: Fox.
196374
Jay-Z - 1 tỷ USD: Shawn Carter, nghệ danh Jay-Z, là tỷ phú đầu tiên của làng nhạc hip hop. Nhưng khối tài sản của Jay-Z không hoàn toàn đến từ âm nhạc. Anh bỏ túi khoảng 500 triệu USD từ 14 album No.1 của mình, nhưng phần lớn tài sản đến từ các dự án kinh doanh. Ảnh: Forbes.
196375
Jay-Z thành lập một thương hiệu quần áo, sau đó bán lại với giá 204 triệu USD vào năm 2007. Anh đồng sở hữu một nhãn hiệu rượu cognac và đầu tư vào ứng dụng âm Tidal. Jay-Z mua Tidal với giá 56 triệu USD vào năm 2015. Đến năm 2017, Sprint mua 33% cổ phần của công ty với giá 200 triệu USD, đẩy định giá của công ty lên 600 triệu USD. Cổ phần của Jay-Z trong công ty trị giá 100 triệu USD, theo Forbes. Ngoài ra, Jay-Z còn sở hữu một bộ sưu tập nghệ thuật trị giá 70 triệu USD, cổ phần Uber 70 triệu USD và 50 triệu USD bất động sản. Ảnh: Getty.
196376
Kanye West - 1,3 tỷ USD: Nam ca sĩ nhạc hiphop Kanye West chính thức được tạp chí Forbes đưa vào danh sách tỷ phú USD vào hôm 24/4 với khối tài sản trị giá 1,3 tỷ USD. Forbes cho biết phần lớn tài sản Kanye West sở hữu đến từ thương hiệu giày Yeezy do anh sáng lập. Trước đó, chồng của Kim Kardashian tuyên bố mình nắm giữ đến 3,3 tỷ USD. Ảnh: Getty Images.
196377
Các kế toán từ phía West đã cung cấp những tài liệu chứng mình khối tài sản của nam rapper lên đến hơn 3 tỷ USD. Tuy nhiên, quy mô hiện tại của Yeezy có thể đã suy giảm. Đại dịch Covid-19 khiến doanh số hàng may mặc, phụ kiện, và giày dép tại Mỹ trong tháng 4/2020 giảm tới 79% so với cùng kỳ năm trước. Do đó, Forbes ước tính Kanye West hiện sở hữu khối tài sản khoảng 1,3 tỷ USD. Ảnh: Reuters.
196378
Michael Jordan - 2,1 tỷ USD: Huyền thoại bóng rổ 57 tuổi là vận động viên được trả lương cao nhất mọi thời đại. Không chỉ có lương, ông còn kiếm được 1,4 tỷ USD trước thuế từ các nhà tài trợ. Bộ phim đầu tay Space Jam mang về doanh thu 250 triệu USD, theo IMDB. Ảnh: Insider.
196379
Jordan mua đội bóng NBA Charlotte Hornets vào năm 2010. Đội bóng này được định giá ở mức 1,05 tỷ USD. Ngoài ra, ông cũng kiếm được rất nhiều tiền từ dòng Air Jordan của Nike, đưa ông trở thành tỷ phú vào năm 2015, theo CNN Business. Ảnh: AP.
196380
Oprah Winfrey - 2,6 tỷ USD: Nữ hoàng truyền thông Winfrey làm nên lịch sử khi trở thành người phụ nữ đầu tiên sở hữu và sản xuất talk show của riêng mình, phát sóng suốt 25 năm tại 145 quốc gia trên thế giới, thu hút 42 triệu lượt xem chỉ riêng tại Mỹ. Đây cũng chính là nguồn gốc khối tài sản tỷ USD của bà. Winfrey trở thành tỷ phú vào năm 2003, theo Los Angeles Times. Ảnh: AP.
196381
Winfrey, hiện 66 tuổi, tận dụng thành công của talk show của bà để xây dựng một đế chế truyền thông. Bà sở hữu 25,5% mạng lưới truyền hình OWN của mình, 8% cổ phần của WW International và có thỏa thuận sáng tạo nội dung với Apple TV+. Winfrey cũng tham gia lồng tiếng cho nhiều bộ phim nổi tiếng. Ảnh: LA Times.
196382
David Steward - 3,5 tỷ USD: Tỷ phú David Steward xây dựng khối tài sản khi điều hành một nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin cho các khách hàng danh tiếng như Tập đoàn tài chính Citi, Tập đoàn viễn thông Verizon và chính phủ liên bang Mỹ. Ảnh: AP.
196383
World Wide Technology, công ty dịch vụ công nghệ thông tin của David Steward, tạo ra doanh thu hơn 11 tỷ USD, theo Forbes. Ảnh: Forbes.
196384
Robert F. Smith - 5 tỷ USD: Nhà đầu tư Robert Smith là tỷ phú da màu giàu nhất nước Mỹ với 5 tỷ USD tài sản. Ông kiếm được nhiều tiền khi điều hành Vista Equity Partners, một công ty đầu tư mạo hiểm. Vista là một trong những công ty cổ phần tư nhân thành công nhất trên toàn quốc với hơn 46 tỷ USD tài sản và lợi nhuận hàng năm 22%. Ảnh: Getty Images.
196385
Tỷ phú Smith nổi tiếng với các hoạt động thiện nguyện. Vào tháng 5/2019, ông tặng sinh viên Cao đẳng Morehouse 34 triệu USD để chi trả các khoản nợ học phí. Ông cũng là người Mỹ gốc Phi đầu tiên ký vào Cam kết Giving năm 2017, nơi những người tham gia cam kết cho đi phần lớn tài sản của họ. Ảnh: Bussiness Insider.
 
Trạng thái
Chủ đề đã được đóng (không tiếp nhận thảo luận)

Có thể bạn quan tâm

Top