Việt Nam đã có định hướng phát triển công nghiệp vật liệu rõ ràng

đéo có hình chó nó tin

Địt Bùng Đạo Tổ
Như các bạn đều đã biết, công nghiệp vật liệu có vai trò đặc biệt quan trọng của một quốc gia vì đây là ngành cung cấp đầu vào nền tảng cho gần như toàn bộ nền kinh tế. Từ thép, nhôm, xi măng, hóa chất, nhựa kỹ thuật cho đến vật liệu bán dẫn, đất hiếm, vật liệu pin và vật liệu cho năng lượng mới, rất nhiều ngành công nghiệp khác đều không thể phát triển nếu thiếu nguồn vật liệu phù hợp.

Năng lực vật liệu còn liên quan trực tiếp đến khả năng tự chủ của nền kinh tế. Mặc dù một quốc gia có thể sản xuất và lắp ráp nhiều sản phẩm nhưng nếu phải nhập khẩu phần lớn vật liệu chất lượng cao thì vẫn phải phụ thuộc vào bên ngoài. Ngược lại, làm chủ được vật liệu sẽ giúp Việt Nam tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị, từ khai thác tài nguyên đến chế biến, sản xuất linh kiện và sản phẩm công nghệ cao.

Tầm quan trọng này càng rõ khi những ngành mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, xe điện, lưu trữ năng lượng, hàng không vũ trụ và quốc phòng ngày càng phát triển. Các ngành này không chỉ cần vật liệu thông thường mà còn cần những vật liệu có tính chất đặc biệt, độ tinh khiết cao và công nghệ sản xuất phức tạp. Vì vậy, vật liệu không còn đơn thuần là câu chuyện của khai khoáng hay luyện kim mà đã trở thành một phần của năng lực công nghệ quốc gia.

Cũng vì thế, Việt Nam đang muốn thay đổi cách phát triển ngành này: không chỉ khai thác tài nguyên để bán mà phải chế biến sâu, làm chủ công nghệ và tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn. Định hướng mới đặt trọng tâm vào các vật liệu chiến lược như đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu từ tính, hợp kim đặc chủng và vật liệu phục vụ công nghệ cao. Đó cũng chính là nội dung Kết luận của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam do Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành.

Có thể hiểu kế hoạch này qua 5 hướng lớn:


1786690203287.png


1. Không chỉ bán khoáng sản, mà phải chế biến sâu và sản xuất thành phẩm

Đây là thay đổi quan trọng nhất. Việt Nam muốn quản lý khoáng sản chiến lược theo toàn bộ chuỗi, từ thăm dò, khai thác, tinh chế, sản xuất vật liệu ứng dụng đến tái chế và dự trữ chiến lược. Mục tiêu là hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô và tăng giá trị tạo ra trong nước. Ví dụ, với đất hiếm, định hướng không dừng ở khai thác quặng rồi xuất khẩu mà phải tiến tới chế biến sâu, sản xuất vật liệu nam châm, vật liệu điện tử và những sản phẩm có giá trị cao hơn.

2. Chia ngành vật liệu thành 3 tầng

Chia công nghiệp vật liệu thành vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai. Vật liệu cơ bản gồm thép, nhôm, xi măng, hóa chất, polymer, cao su kỹ thuật, vật liệu xây dựng... Việt Nam sẽ tập trung hiện đại hóa, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Nhóm vật liệu chiến lược được ưu tiên mạnh hơn, gồm vật liệu bán dẫn, đất hiếm, vật liệu pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu từ tính, hợp kim đặc chủng, vật liệu cho năng lượng tái tạo, hàng không vũ trụ, quốc phòng và các ngành công nghệ cao. Còn vật liệu tương lai là những lĩnh vực cần nghiên cứu từ sớm như vật liệu nano, vật liệu hai chiều, vật liệu lượng tử, vật liệu sinh học, vật liệu thông minh, vật liệu tự phục hồi, siêu dẫn và vật liệu thế hệ mới cho lưu trữ năng lượng.

3. Nhà nước sẽ tạo nền tảng, doanh nghiệp phải là trung tâm

Mô hình được xác định khá rõ: Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp làm trung tâm, viện và trường làm nền tảng nghiên cứu, địa phương là nơi thực thi. Nhà nước sẽ đầu tư vào phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định và cơ sở dữ liệu. Doanh nghiệp được kỳ vọng trở thành lực lượng thương mại hóa công nghệ và tổ chức sản xuất. Đặc biệt Việt Nam muốn hình thành những doanh nghiệp vật liệu lớn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị, thay vì ngành này gồm nhiều doanh nghiệp nhỏ chỉ thực hiện những công đoạn có giá trị gia tăng thấp.

4. Thu hút công nghệ nước ngoài nhưng phải đổi lấy chuyển giao công nghệ

Việt Nam vẫn sẽ dựa nhiều vào vốn và công nghệ quốc tế, nhưng cách tiếp cận được đặt ra là không chỉ thu hút nhà máy. Các dự án lớn và nhà đầu tư chiến lược sẽ được hưởng ưu đãi nếu có cam kết chuyển giao công nghệ lõi, đào tạo nhân lực, tăng tỷ lệ nội địa hóa và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời Việt Nam muốn thu hút các tập đoàn vật liệu và công nghệ lớn mở trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.

5. Những mốc mục tiêu khá cụ thể

• Năm 2026: xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

• Năm 2027: hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành vật liệu và liên thông dữ liệu địa chất, khoáng sản.

• Đến năm 2028: phấn đấu có 3 đến 5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia.

• Đến năm 2030: làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn và vật liệu pin; phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược đạt 50%.

 
Kiểu gì đến 2136, việt nam cũng sẽ làm chủ đc mọi loại công nghệ vật liệu, vì lúc đó ta đã thành nước xhcn phát triển cmnr
 

Có thể bạn quan tâm

Top