Vòng vây địa chính trị khép chặt với Ching Cộng nhục nhã thấp hèn bị khinh bỉ

  • Tạo bởi Tạo bởi PC06
  • Start date Start date
Có ăn đc cái đầu buồi thằng Khựa ấy
Nó chấp cả 10 thằng Nhật bửn nhảy vào luôn, khích bác nó xong nó khoá cụ du lịch rồi vừa xong là cấm luôn đất hiếm sang, con thủ Nhật giãy nảy như Lồn phải lá han kìa 🤣🤣🤣

Thằng Trump cũng dạng chỉ mõm, bắt nạt bọn yếu thế hơn chứ ép thằng Khựa bao nhiêu nó chơi lại bấy nhiêu, nó có sợ cái đb, cuối cùng lại tự vả vào mõm thằng Mẽo thôi
:vozvn (19):
 
Cái gì đến nó cũng sẽ đến. Hôm nay ở Trung Đông cũng có 1 nước thân Tàu đang có chút biến động nho nhỏ, nhưng mình chưa lên bài vội vì kết quả vẫn chưa rõ rệt lắm.

Nếu nước này mà xảy ra thay đổi chế độ thì gần như là khép góc Tàu hướng phía Tây luôn. Và khớp với dữ liệu của bài viết ở trên luôn.

Chỉ còn đúng hướng Nam của Tàu chính là VN mình, nói thế tự hiểu nhé. Nói chung cứ bình tĩnh mà xem phim thôi, bắt đầu hay rồi đấy;))
Nhờ mấy thằng đào mồ lên mới thấy. Công nhận tin mày juẩn phết.
 
Có ăn đc cái đầu buồi thằng Khựa ấy
Nó chấp cả 10 thằng Nhật bửn nhảy vào luôn, khích bác nó xong nó khoá cụ du lịch rồi vừa xong là cấm luôn đất hiếm sang, con thủ Nhật giãy nảy như lồn phải lá han kìa 🤣🤣🤣

Thằng Trump cũng dạng chỉ mõm, bắt nạt bọn yếu thế hơn chứ ép thằng Khựa bao nhiêu nó chơi lại bấy nhiêu, nó có sợ cái đb, cuối cùng lại tự vả vào mõm thằng Mẽo thôi
:vozvn (19):
Lần cuối cùng Nhật nhảy vào, tao nhớ là sinh ra một thế hệ Nhật con ở Nam Kinh thì phải.
 
Lần cuối cùng Nhật nhảy vào, tao nhớ là sinh ra một thế hệ Nhật con ở Nam Kinh thì phải.
Nó chưa biết là Nhật mới có mỏ đất hiếm ở độ sâu 6,000 m dưới biển + công nghệ sẽ được thương mại hoá.
@Nmlam hay m viết thêm về vấn đề này đi

 
Sửa lần cuối:
Nó chưa biết là Nhật mới có mỏ đất hiếm ở độ sâu 6,000 m dưới biển + công nghệ sẽ được thương mại hoá.
@Nmlam hay m viết thêm về vấn đề này đi
Đất hiếm k hề hiếm. Phát hiện mỏ cũng k giải quyết đc. Như VN có trữ lượng đứng thứ 2 3 trên thế giới

Khó ở việc tinh chế nó. Các nước khai thác xong. Vận chuyển về TQ để tinh chế
 
Đất hiếm k hề hiếm. Phát hiện mỏ cũng k giải quyết đc. Như VN có trữ lượng đứng thứ 2 3 trên thế giới

Khó ở việc tinh chế nó. Các nước khai thác xong. Vận chuyển về TQ để tinh chế
Công nghệ tinh chế cũng ko khó hay phức tạp gì. Chỉ có điều cực kỳ ô nhiễm. Nên nếu tinh chế sẽ tốn nhiều tiền để khắc phục ô nhiễm dẫn đến đội giá thành, hoặc, phải tìm một nước chấp nhận ô nhiễm, bất chấp môi trường và sức khỏe người dân để tinh chế như TQ.

Nhưng trong tình hình TQ ko ngừng dùng đất hiếm như một quân bài mặc cả thì các nước phương Tây đã có động thái để giải quyết. Trước đây có một phương án là chuyển về một nước ĐNA nghèo, chấp nhận ô nhiễm để sản xuất. Lúc đó Đông Lào và Indog là 2 đối tượng được nhắm đến. Nhưng sau bỏ phương án đó mà chuyển qua Úc xây nhà máy tinh chế, vì Úc có những khu vực hoang mạc cực ít người sống, và có thể bọn phương Tây đã có bước phát triển về mặt công nghệ tinh chế.

Một trong những ứng dụng quan trọng và phổ biến nhất của đất hiếm là pin xe điện thì lúc này, Mỹ đang xì bong bóng xe điện, đồng thời Musk trước đây chừng 4 - 5 tháng có loạt bài về việc định hướng sẽ thay pin lithium bằng công nghệ mới, sử dụng pin ion nhôm, an toàn hơn, độ tích điện cao hơn và tuổi thọ dài hơn.

Đồng thời Nhật cũng chuẩn bị đưa loại pin năng lượng mặt trời mới, dùng iot là thành phần chính, có độ dày bằng một tờ A4, có thể cuộn tròn tạo hình dễ dàng vào sản xuất thương mại.

Các nước phương Tây đang từng bước giảm tầm quan trọng của con bài đất hiếm trong tay TQ.
 
Nó chưa biết là Nhật mới có mỏ đất hiếm ở độ sâu 6,000 m dưới biển + công nghệ sẽ được thương mại hoá.
@Nmlam hay m viết thêm về vấn đề này đi

Để trưa tranh thủ viết một bài ngắn về tương quan Mỹ - Nhật - tàu. Sáng sớm cuối tuần thời tiết tốt, cuốc nổ liên tục. Tết này chắc kiếm được nồi thịt kho hột vịt ngon lành rồi.
 
Để trưa tranh thủ viết một bài ngắn về tương quan Mỹ - Nhật - tàu. Sáng sớm cuối tuần thời tiết tốt, cuốc nổ liên tục. Tết này chắc kiếm được nồi thịt kho hột vịt ngon lành rồi.
Mày nhớ tag tao nhé!
 
Để có 1 cái nhìn khái quát về Mỹ - Trung - Nhật, chúng ta đi từ vấn đề cơ bản của một nền văn minh bằng một khái niệm dễ hiểu đối với người Việt: thuyết Thiên - Địa - Nhân.

Thiên:

Phần này tôi tham khảo góc nhìn của Max Weber, North, Fukuyama và Henrich

“Thiên” như một ràng buộc cấu trúc đối với phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật:

Theo Max Weber, Douglass North, Francis Fukuyama và Joseph Henrich, các hệ thống tôn giáo, chính trị và hệ tư tưởng có thể được xem như một dạng điều kiện cấu trúc vô hình, tương tự vai trò của địa lý trong phân tích của Tim Marshall. Nếu địa lý giới hạn không gian hành động vật chất, thì “Thiên” giới hạn không gian tư duy, thể chế và tính hợp lệ của tri thức, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quỹ đạo phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật.

Trung Hoa Nho giáo: trật tự xã hội cao và khoa học không tự trị

Trong phân tích của Weber, Nho giáo là một hệ đạo đức thế tục nhấn mạnh trật tự, nghĩa vụ và hòa hợp xã hội, nhưng thiếu động lực siêu việt thúc đẩy tích lũy kinh tế và hợp lý hóa khoa học. Douglass North cho thấy hệ thống thể chế dựa trên khoa cử và quan liêu văn trị đã tạo ra ổn định chính trị lâu dài, song không khuyến khích đổi mới kỹ thuật, do tri thức khoa học không gắn với quyền lực hay lợi ích thể chế. Fukuyama và Henrich bổ sung rằng cấu trúc xã hội mang tính thứ bậc và quan hệ làm hạn chế tư duy mở và tư duy phản biện, khiến khoa học khó phát triển như một lĩnh vực tự trị. Hệ quả là Trung Hoa tiền hiện đại sở hữu nhiều phát minh, nhưng không hình thành được quá trình tích lũy khoa học – công nghiệp liên tục.

Trung Quốc ********: huy động tập trung và khoa học bị điều kiện hóa chính trị

Chủ nghĩa ******** tại Trung Quốc thay thế “Thiên” truyền thống bằng một hệ tư tưởng chính trị có tính giáo điều. Từ góc nhìn Weber và Fukuyama, hệ tư tưởng này vận hành như một tôn giáo thế tục, trong đó khoa học và kỹ thuật được chấp nhận chủ yếu khi phục vụ mục tiêu chính trị và an ninh. Theo North, thể chế sở hữu và đổi mới trong bối cảnh này làm gia tăng rủi ro cho sáng tạo độc lập, qua đó khuyến khích khoa học ứng dụng và cải tiến công nghệ hơn là đột phá nền tảng. Henrich cho rằng việc hạn chế tư duy phản biện và tự do học thuật làm suy yếu khả năng hình thành tri thức khoa học mang tính phổ quát, dù năng lực triển khai công nghệ ở quy mô lớn vẫn rất cao.

Nhật Bản Minh Trị: thần quyền linh hoạt và khoa học như công cụ quốc gia

Trường hợp Nhật Bản thời Minh Trị cho thấy một mô hình “Thiên” khác biệt. Thần đạo cung cấp tính chính danh biểu tượng cho Thiên hoàng nhưng không áp đặt giáo điều cứng nhắc lên hoạt động học thuật. Điều này cho phép nhà nước sử dụng thần quyền để ổn định chính trị, đồng thời chủ động mở cửa tiếp thu khoa học và công nghệ phương Tây. Theo North và Fukuyama, cải cách thể chế, bảo vệ kỹ trị và đầu tư mạnh vào giáo dục đã tạo điều kiện cho khoa học và công nghiệp phát triển nhanh chóng. Henrich cho rằng sự kết hợp giữa kỷ luật tập thể Đông Á và phương pháp khoa học phương Tây đã hình thành một nền kinh tế công nghiệp hiệu suất cao và bền vững.

Từ góc nhìn của Weber, North, Fukuyama và Henrich, có thể khẳng định rằng tôn giáo, chính trị và hệ tư tưởng đóng vai trò như một dạng “địa hình tinh thần”, định hình giới hạn và hướng đi của phát triển kinh tế – khoa học. Nho giáo Trung Hoa tạo ổn định nhưng kìm hãm khoa học tự trị; chủ nghĩa ******** Trung Quốc cho phép huy động nguồn lực lớn song điều kiện hóa mạnh mẽ đổi mới; trong khi Nhật Bản Minh Trị cho thấy một “Thiên” linh hoạt có thể trở thành đòn bẩy cho công nghiệp hóa và tiến bộ khoa học.

Địa:

Phần này tôi tham khảo góc nhìn của tác gia Tim Marshall - Những tù nhân của Địa Lý.

1. Hoa Kỳ: Địa lý của sự mở rộng, tích hợp và công nghiệp quy mô lớn

Hoa Kỳ là ví dụ điển hình của một quốc gia được địa lý “ưu ái” một cách hiếm có. Lãnh thổ Mỹ có độ liền mạch cao, ít rào cản tự nhiên nội địa, với hệ thống sông ngòi nội địa lớn nhất thế giới(Mississippi–Missouri–Ohio), cho phép vận tải khối lượng lớn với chi phí cực thấp.

Hai đại dương ở hai đầu lục địa (Đại Tây Dương và Thái Bình Dương) vừa đóng vai trò lá chắn an ninh, vừa mở ra khả năng thương mại toàn cầu. Đặc biệt, các cảng tự nhiên tốt ở bờ Đông kết nối trực tiếp với châu Âu – trung tâm công nghiệp thế giới thế kỷ XIX – tạo điều kiện cho Mỹ tiếp thu công nghệ, vốn và nhân lực, sau đó mở rộng sản xuất trên quy mô lục địa.

Về công nghiệp, địa lý Mỹ cho phép:

  • Phát triển công nghiệp nặng quy mô lớn (thép, ô tô, năng lượng).
  • Tạo thị trường nội địa khổng lồ, thúc đẩy kinh tế theo chiều rộng trước, chiều sâu sau.
  • Phân bố công nghiệp linh hoạt, ít bị bó buộc bởi địa hình.
Marshall cho rằng chính địa lý đã giúp Mỹ công nghiệp hóa mà không cần phải “đánh cược sinh tồn” như các cường quốc khác, từ đó hình thành mô hình tăng trưởng bền vững và khả năng duy trì vai trò cường quốc kinh tế lâu dài.

2. Trung Quốc: Địa lý chia cắt – công nghiệp hóa bị ép buộc theo trục ven biển

Trái với Hoa Kỳ, Trung Quốc bị “giam giữ” bởi địa lý bất đối xứng. Phần lớn dân cư, đất nông nghiệp và hoạt động kinh tế tập trung ở vùng đồng bằng phía Đông, trong khi phía Tây là cao nguyên, sa mạc và núi non (Tây Tạng, Tân Cương), khó khai thác và khó tích hợp kinh tế.

Hệ thống sông lớn (Hoàng Hà, Trường Giang) chảy theo trục Đông–Tây, không tạo được mạng lưới vận tải nội địa thống nhất như Mỹ, đồng thời thường xuyên gây lũ lụt, đòi hỏi chi phí quản lý cao. Bờ biển dài nhưng bị chuỗi đảo thứ nhất (Nhật Bản – Đài Loan – Philippines) “khóa chặt”, hạn chế khả năng tiếp cận tự do ra đại dương.

Trong bối cảnh đó, công nghiệp Trung Quốc phát triển theo mô hình:

  • Tập trung cao độ ở ven biển (Quảng Đông, Giang Tô, Chiết Giang).
  • Phụ thuộc mạnh vào xuất khẩu và chuỗi cung ứng toàn cầu.
  • Nội địa hóa công nghiệp gặp trở ngại do chi phí logistics và chênh lệch vùng miền.
Theo Marshall, chính địa lý buộc Trung Quốc phải theo đuổi công nghiệp hóa nhanh, tập trung, mang tính cưỡng bức, với vai trò lớn của nhà nước nhằm bù đắp các bất lợi tự nhiên – điều này tạo nên tăng trưởng cao nhưng đi kèm rủi ro cấu trúc dài hạn.

3. Nhật Bản: Địa lý hạn chế – công nghiệp hóa dựa trên công nghệ và hiệu suất

Nhật Bản là một trường hợp “bị giam cầm” rõ nét về địa lý. Quốc gia này là quần đảo núi non, diện tích đất canh tác hạn chế, thiếu gần như toàn bộ tài nguyên chiến lược (than, dầu, quặng sắt). Tuy nhiên, vị trí nằm trên tuyến hàng hải Đông Á và gần các trung tâm kinh tế lớn (Trung Quốc, Triều Tiên, Đông Nam Á) lại tạo lợi thế thương mại.

Sự khan hiếm tài nguyên buộc Nhật Bản phải:

  • Nhập khẩu nguyên liệu, xuất khẩu sản phẩm giá trị cao.
  • Tập trung vào công nghiệp chế tạo tinh vi, tối ưu hóa quy trình và chất lượng.
  • Phát triển các tập đoàn công nghiệp tích hợp sâu (keiretsu) để giảm rủi ro chuỗi cung ứng.
Theo Tim Marshall, địa lý đã khiến Nhật Bản không thể theo đuổi công nghiệp hóa kiểu “khối lượng”, mà phải chọn con đường công nghệ cao, hiệu suất cực đại và kỷ luật sản xuất, qua đó hình thành mô hình kinh tế dựa trên tri thức và kỹ thuật.

Dưới góc nhìn của Tim Marshall, địa lý không quyết định tuyệt đối, nhưng đặt ra các giới hạn và hướng đi mang tính cấu trúc cho sự phát triển kinh tế – công nghiệp. Hoa Kỳ tận dụng địa lý để mở rộng và tích hợp; Trung Quốc phải đấu tranh với địa lý để duy trì tăng trưởng; trong khi Nhật Bản buộc phải vượt qua địa lý bằng công nghệ và tổ chức. Ba mô hình này cho thấy các quốc gia, dù khác biệt về thể chế, đều là những “tù nhân” – nhưng mức độ và cách thức thích nghi với “nhà tù địa lý” là không giống nhau.

Nhân:

“Nhân” như năng lực tác nhân trong phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật:

Phân tích dựa trên Sen, Acemoglu và Simon

Trong khi địa lý và hệ tư tưởng tạo ra các ràng buộc cấu trúc đối với sự phát triển, nhiều nghiên cứu hiện đại cho rằng con người – với tư cách là tác nhân lựa chọn, thích nghi và sáng tạo – đóng vai trò trung tâm trong việc hiện thực hóa hoặc vượt qua các ràng buộc đó. Theo Amartya Sen, Daron Acemoglu và Herbert Simon, “Nhân” không đơn thuần là nguồn lao động hay dân số, mà là tập hợp các năng lực, động cơ và khả năng ra quyết định được hình thành trong những điều kiện cụ thể.

Năng lực con người và mở rộng lựa chọn

Theo Amartya Sen, phát triển kinh tế không thể được đánh giá chỉ bằng thu nhập hay tăng trưởng, mà phải được hiểu như quá trình mở rộng năng lực (capabilities) của con người – bao gồm khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, thông tin và quyền tự do lựa chọn. Trong bối cảnh khoa học và công nghệ, các xã hội đầu tư vào năng lực con người tạo ra lực lượng lao động có khả năng học hỏi, thích nghi và đổi mới, qua đó thúc đẩy tăng trưởng dài hạn. Ngược lại, khi năng lực bị hạn chế, con người khó trở thành chủ thể sáng tạo, dù điều kiện địa lý hay thể chế có thuận lợi.

Con người, quyền lực và động cơ đổi mới

Daron Acemoglu nhấn mạnh rằng hành vi và động cơ của con người chịu ảnh hưởng mạnh từ cấu trúc quyền lực và cơ chế khuyến khích. Trong các hệ thống thể chế bao trùm, cá nhân có động lực đầu tư vào kỹ năng, nghiên cứu và đổi mới, vì lợi ích của họ được bảo vệ và có thể chuyển hóa thành địa vị kinh tế – xã hội. Ngược lại, trong các hệ thống mang tính chiếm đoạt, con người có xu hướng tìm kiếm an toàn, thích nghi thụ động hoặc tối đa hóa lợi ích ngắn hạn, làm suy yếu nền tảng khoa học và công nghiệp. Theo cách này, “Nhân” không tách rời “Thiên”, mà phản ứng chiến lược trước các ràng buộc thể chế.

Giới hạn nhận thức và tính hợp lý có giới hạn

Herbert Simon bổ sung một góc nhìn vi mô quan trọng khi cho rằng con người ra quyết định trong điều kiện tính hợp lý có giới hạn (bounded rationality). Trong khoa học và công nghiệp, điều này có nghĩa là đổi mới không phải là kết quả của các lựa chọn tối ưu tuyệt đối, mà của quá trình thử–sai, học hỏi và cải tiến dần. Các tổ chức và xã hội biết thiết kế môi trường ra quyết định phù hợp – giảm gánh nặng nhận thức, khuyến khích hợp tác và chia sẻ tri thức – sẽ khai thác tốt hơn tiềm năng sáng tạo của con người.

Từ góc nhìn của Sen, Acemoglu và Simon, “Nhân” có thể được hiểu như năng lực tác nhân nằm giữa các ràng buộc của địa lý và hệ tư tưởng. Con người không hoàn toàn tự do, nhưng cũng không hoàn toàn bị quyết định; họ phản ứng, thích nghi và trong những điều kiện nhất định có thể vượt qua các giới hạn cấu trúc để tạo ra tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Do đó, nếu “Thiên” xác định luật chơi, và “Địa” xác định không gian hành động, là “nhà tù vật chất” như Tim Marshall mô tả thì “Nhân” chính là yếu tố quyết định cách xã hội vận hành trong không gian đó và theo luật chơi ấy.



Mỹ thì quá nhiều cái để nói rồi, còn Nhật, sự vượt trội gần đây của Nhật Bản trong các công nghệ chiến lược mới không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự hội tụ lâu dài giữa Thiên – Địa – Nhân. Địa lý khan hiếm tài nguyên buộc Nhật Bản phải tìm kiếm không gian mới; “Thiên” linh hoạt tạo chính danh và ổn định cho đầu tư khoa học dài hạn; và “Nhân” với năng lực kỹ trị cao biến các áp lực cấu trúc thành giải pháp công nghệ cụ thể. Theo nghĩa đó, phát điện mặt trời trong không gian và khai thác đất hiếm biển sâu không chỉ là thành tựu kỹ thuật, mà là biểu hiện tập trung của một mô hình phát triển khoa học – công nghiệp được định hình bởi cả ba yếu tố nền tảng này.

Dự án OHISAMA “Mặt Trời
  • Dự án Nhật Bản được thiết kế nhằm phóng một vệ tinh thử nghiệm lên quỹ đạo Trái Đất thấp (khoảng 400 km), trang bị tấm pin mặt trời và bộ phát sóng vi ba.
  • Mục tiêu là truyền điện năng không dây xuống mặt đất, đủ để cung cấp vài kW — đủ cho thiết bị nhỏ — như thử nghiệm đầu tiên về cơ chế này.
  • Dự án dự kiến phóng vào năm 2025 và truyền điện thử nghiệm về Trái Đất.
Nhật Bản theo kế hoạch phóng vệ tinh SBSP 180 kg gửi ~1 kW điện từ quỹ đạo về Trái Đất để chứng minh nguyên lý hoạt động.

Nhiều nguồn tin cũng nói rằng đã có thông tin mới về việc Nhật đã tạo ra và truyền năng lượng mặt trời từ không gian về Trái Đất, được coi là thành tựu đầu tiên trên thế giới trong lĩnh vực này (hiện tại chủ yếu là cấp thử nghiệm/kỹ thuật).

Dự án khai thác đất hiếm “lịch sử

  • Nhật Bản đã phóng tàu nghiên cứu sâu biển Chikyu để thử nghiệm khai thác bùn biển chứa đất hiếm ở độ sâu ~6 000 m gần đảo Minamitorishima trong EEZ của nước này.
  • Đây là nỗ lực đầu tiên trên thế giới nhằm bơm bùn đáy biển giàu đất hiếm liên tục từ độ sâu lớn, với mục tiêu xác định công nghệ và tính khả thi.
Dự án thử nghiệm kéo dài nhiều tuần, nhằm kiểm tra công nghệ và khả năng khai thác, tạo điều kiện cho khai thác quy mô lớn vào khoảng 2027 nếu thành công.

Để có thể hút, bơm bùn từ độ sâu 6000m lên tàu mẹ, nghe là đã thấy năng lực kinh khủng rồi. Tuy nhiên, có lẽ đây chỉ là giải pháp để tự chủ, chứ Úc mà nó gật đầu, vào hoang mạc của nó, mướn culi vẹm, ấn, phi vào khai thác thì có mà đầy.
@xmorr @Tà đế 5
 
Để có 1 cái nhìn khái quát về Mỹ - Trung - Nhật, chúng ta đi từ vấn đề cơ bản của một nền văn minh bằng một khái niệm dễ hiểu đối với người Việt: thuyết Thiên - Địa - Nhân.

Thiên:



Địa:



Nhân:



Do đó, nếu “Thiên” xác định luật chơi, và “Địa” xác định không gian hành động, là “nhà tù vật chất” như Tim Marshall mô tả thì “Nhân” chính là yếu tố quyết định cách xã hội vận hành trong không gian đó và theo luật chơi ấy.



Mỹ thì quá nhiều cái để nói rồi, còn Nhật, sự vượt trội gần đây của Nhật Bản trong các công nghệ chiến lược mới không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự hội tụ lâu dài giữa Thiên – Địa – Nhân. Địa lý khan hiếm tài nguyên buộc Nhật Bản phải tìm kiếm không gian mới; “Thiên” linh hoạt tạo chính danh và ổn định cho đầu tư khoa học dài hạn; và “Nhân” với năng lực kỹ trị cao biến các áp lực cấu trúc thành giải pháp công nghệ cụ thể. Theo nghĩa đó, phát điện mặt trời trong không gian và khai thác đất hiếm biển sâu không chỉ là thành tựu kỹ thuật, mà là biểu hiện tập trung của một mô hình phát triển khoa học – công nghiệp được định hình bởi cả ba yếu tố nền tảng này.

Dự án OHISAMA “Mặt Trời
  • Dự án Nhật Bản được thiết kế nhằm phóng một vệ tinh thử nghiệm lên quỹ đạo Trái Đất thấp (khoảng 400 km), trang bị tấm pin mặt trời và bộ phát sóng vi ba.
  • Mục tiêu là truyền điện năng không dây xuống mặt đất, đủ để cung cấp vài kW — đủ cho thiết bị nhỏ — như thử nghiệm đầu tiên về cơ chế này.
  • Dự án dự kiến phóng vào năm 2025 và truyền điện thử nghiệm về Trái Đất.
Nhật Bản theo kế hoạch phóng vệ tinh SBSP 180 kg gửi ~1 kW điện từ quỹ đạo về Trái Đất để chứng minh nguyên lý hoạt động.

Nhiều nguồn tin cũng nói rằng đã có thông tin mới về việc Nhật đã tạo ra và truyền năng lượng mặt trời từ không gian về Trái Đất, được coi là thành tựu đầu tiên trên thế giới trong lĩnh vực này (hiện tại chủ yếu là cấp thử nghiệm/kỹ thuật).

Dự án khai thác đất hiếm “lịch sử

  • Nhật Bản đã phóng tàu nghiên cứu sâu biển Chikyu để thử nghiệm khai thác bùn biển chứa đất hiếm ở độ sâu ~6 000 m gần đảo Minamitorishima trong EEZ của nước này.
  • Đây là nỗ lực đầu tiên trên thế giới nhằm bơm bùn đáy biển giàu đất hiếm liên tục từ độ sâu lớn, với mục tiêu xác định công nghệ và tính khả thi.
Dự án thử nghiệm kéo dài nhiều tuần, nhằm kiểm tra công nghệ và khả năng khai thác, tạo điều kiện cho khai thác quy mô lớn vào khoảng 2027 nếu thành công.

Để có thể hút, bơm bùn từ độ sâu 6000m lên tàu mẹ, nghe là đã thấy năng lực kinh khủng rồi. Tuy nhiên, có lẽ đây chỉ là giải pháp để tự chủ, chứ Úc mà nó gật đầu, vào hoang mạc của nó, mướn culi vẹm, ấn, phi vào khai thác thì có mà đầy.
@xmorr @Tà đế 5
Nhật Bản đang phát triển một chuỗi công nghệ “từ đáy biển tới nam châm” để thu hồi đất hiếm từ bùn sâu 6.000 m quanh đảo Minamitorishima, với Chikyu là tàu khoan – nhà máy nổi trung tâm. Chuỗi này gồm: thăm dò – khai thác bùn, tuyển – thủy luyện để tách REE, tinh chế – chế tạo vật liệu, rồi tích hợp vào chuỗi cung ứng công nghiệp nhằm giảm phụ thuộc Trung Quốc.[1][2][3][4]

1. Tổng quan công nghệ thu hồi

- Nền tảng địa chất – quặng: Bùn “REY-rich mud” chứa tới vài nghìn ppm REE+Y được phát hiện trong EEZ Nhật quanh Minamitorishima, với các lớp bùn giàu hạt phosphate sinh học, phillipsite và oxit Mn là pha mang REE.[5][1]
- Ý tưởng công nghệ: Thay vì khai thác mỏ đất hiếm trên đất liền, Nhật hướng tới hút bùn giàu REE từ đáy biển, nâng lên tàu/đưa về bờ để tuyển – hòa tách, xây dựng một nguồn cung bổ sung, đặc biệt cho đất hiếm nặng như Dy, Tb.[2][4][1]
- Mục tiêu chiến lược: Thiết lập một chuỗi cung ứng nội địa cho đất hiếm biển sâu (exploration–mining–processing–refining–magnet production), đủ quy mô thương mại trước 2030 nếu các thử nghiệm 2026–2027 chứng minh được hiệu quả kinh tế và môi trường.[6][2]

2. Các bước xử lý bùn trên Chikyu / nhà máy nổi

Hiện mới ở mức thử nghiệm – bán thí điểm, song quy trình xử lý mà các nhóm Nhật công bố có cấu trúc tổng quát như sau:[7][1][2]

- Tiền xử lý vật liệu:
- Sấy, nghiền bùn khoan/hút lên, phân tích cỡ hạt và thành phần khoáng để xác định phân bố REE theo cỡ hạt.[1][7]
- Tách nước sơ bộ, cô đặc bùn để giảm khối lượng vận chuyển và chuẩn hóa độ rắn trước khi tuyển.[2]
- Tuyển – làm giàu quặng:
- Tách phần hạt mịn giàu phosphate sinh học bằng sàng phân cỡ, hydrocyclone, tách trọng lực hoặc các kỹ thuật tương tự, nâng hàm lượng REE của “tinh quặng bùn”.[7][1]
- Kết quả thí nghiệm cho thấy có thể tăng hàm lượng REY của phần hạt siêu mịn lên ~2,6 lần so với bùn nguyên thủy, tạo cơ sở cho bước thủy luyện hiệu quả hơn.[7]
- Hòa tách và thu hồi ion hiếm:
- Hòa tách tinh bùn giàu phosphate bằng axit vô cơ (HCl/H2SO4) dưới điều kiện tối ưu (pH, nhiệt độ, thời gian) để REE vào dung dịch.[1][7]
- Tách – tinh chế REE khỏi dung dịch bằng chiết dung môi, trao đổi ion hoặc kết tủa chọn lọc, sau đó đưa về các nhà máy tinh chế, luyện kim và chế tạo nam châm trên bờ.[2][1]

Trên thực tế, Chikyu trong thử nghiệm 2026 chủ yếu làm nhiệm vụ khoan/hút – tách nước sơ bộ – lưu chứa; các công đoạn hóa – thủy luyện tinh sâu sẽ được kiểm chứng tại cơ sở thí điểm trên bờ mà Nhật lên kế hoạch vận hành demo với công suất tới 350 tấn bùn/ngày vào 2027.[4][2]

3. Công nghệ “giải” và vận chuyển bùn từ 6.000 m

Cốt lõi là hệ thống “giải bùn – hút bùn – nâng bùn” được phát triển trong các chương trình SIP về tài nguyên sâu biển:[8][9][6]

- Thiết bị “giải” và thu gom tại đáy:
- Một thiết bị đặt dưới đáy (seafloor collector) cày/đánh tơi tầng bùn mục tiêu và hút bùn vào đầu ống, tương tự một máy xúc – máy hút chìm, nhưng thiết kế đặc biệt cho áp suất 600 bar.[9][6]
- Hệ thống định vị và điều khiển dưới đáy sử dụng ROV/AUV và cáp quang, cho phép di chuyển qua các dải bùn giàu REE theo bản đồ địa chất chi tiết.[8][9]
- Ống hút và ống nâng (riser):
- Bùn được hút vào ống hút ngắn rồi chuyển vào ống nâng đứng nối từ đáy lên Chikyu; bên trong có thể dùng bơm ly tâm nhiều cấp hoặc dòng khí/dòng nước áp lực để nâng bùn liên tục.[6][9]
- Hệ thống được thiết kế để duy trì tốc độ dòng, hạn chế lắng đọng và mài mòn ống, đồng thời có các cơ cấu an toàn để ngắt lưu khi sự cố.[9]
- Điều kiện vận hành thử nghiệm:
- Thử nghiệm 2026 đặt mục tiêu nâng liên tục khoảng vài chục tấn bùn (mức được báo là 35 tấn) từ độ sâu 5–6 km để kiểm chứng ổn định cơ – thủy lực của cả hệ thống.[6][2]
- Các cảm biến theo dõi lưu lượng, áp suất, rung động và phát tán bùn, đồng thời thực hiện đo đạc môi trường để đánh giá tác động sinh thái.[4][6]

4. Các chủ thể tham gia và vai trò

Chuỗi dự án bùn đất hiếm biển sâu của Nhật là một “liên minh” nhà nước – học thuật – doanh nghiệp:[3][4][2][6]

- Cơ quan và tổ chức công:
- JOGMEC (Japan Organization for Metals and Energy Security): dẫn dắt khảo sát – khai thác tài nguyên, đầu tư tới 75% vào các dự án khoáng sản chiến lược, chịu trách nhiệm phần thăm dò, thử nghiệm khai thác và đánh giá kinh tế – môi trường.[3][6]
- METI (Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp), Nội các (CSTP/SIP): tài trợ chương trình đổi mới chiến lược, định hướng chính sách và cấp ngân sách cho nghiên cứu – thử nghiệm toàn chuỗi.[8][9][2]
- Trường đại học và viện nghiên cứu:
- Đại học Tokyo, đặc biệt nhóm của Kato, Takaya, Tanaka…: phát hiện bùn REY, xây dựng mô hình địa hóa, đề xuất sơ đồ tuyển – thủy luyện và tham gia thiết kế tham số kỹ thuật cho dây chuyền xử lý.[5][1][7]
- Các viện chuyên về tài nguyên biển và địa chất, tham gia lập bản đồ trầm tích, mô phỏng khai thác và đánh giá tác động môi trường.[10][5]
- Doanh nghiệp tư nhân:
- Các nhà chế tạo thiết bị khoan và khai thác biển sâu (nhà thầu tàu Chikyu, nhà sản xuất hệ thống riser, bơm, ROV) đảm nhận thiết kế – chế tạo – vận hành hệ thống hút và nâng bùn.[4][6]
- Các công ty luyện kim – vật liệu (bao gồm nhà sản xuất nam châm đất hiếm và linh kiện cho xe điện, thiết bị quốc phòng) tham gia các giai đoạn tinh chế, chế tạo vật liệu và thương mại hóa, gắn dự án bùn biển sâu với nhu cầu REE trong nước.[3][2]

Nhìn tổng thể, đây là một “ecosystem” mà nhà nước tạo khung chính sách, trường đại học tạo tri thức, doanh nghiệp cung ứng công nghệ, thiết bị và sức mạnh công nghiệp để biến tài nguyên trầm tích biển sâu thành nguồn cung chiến lược.

Nếu phải gói gọn tham vọng của Nhật trong một câu, có thể diễn đạt:

“Bằng cách kéo những hạt nguyên tố hiếm hoi từ bùn lạnh 6.000 mét dưới đáy Thái Bình Dương lên ánh sáng công nghiệp trên tàu Chikyu, người Nhật đang âm thầm dệt nên một con đường đất hiếm mới vòng qua bóng dài độc quyền của Trung Quốc.”[1][2][4]

Nguồn
[1] The tremendous potential of deep-sea mud as a source ... https://www.nature.com/articles/s41598-018-23948-5
[2] Japan to Test Deep-Sea Rare Earth Mining in Landmark ... https://investingnews.com/japan-rare-earth-deep-sea-mining/
[3] Japan dives into rare earth mining under the sea https://asiatimes.com/2023/01/japan-dives-into-rare-earth-mining-under-the-sea/
[4] Japan Dives Deep: Rare Earth Mud, High Stakes, and ... https://rareearthexchanges.com/news...gh-stakes-and-the-reality-beneath-the-seabed/
[5] Geochemical Journal, Vol. 50 (No. 6), pp. 575-590, 2016 http://umdb.um.u-tokyo.ac.jp/DImage...inamitorishima/PDF/18Fujinaga2016GeochemJ.pdf
[6] Seabed rare earth mining: Japan's revolution around ... https://dhit.pl/en/blog/underwater-rare-earth-mining-japan-minamitori-revolution/
[7] sea mud as a source of rare-earth elements https://www.vliz.be/imisdocs/publications/312902.pdf
[8] 革新的深海資源調査技術 社会実装の成果 https://www8.cao.go.jp/cstp/gaiyo/sip/230309/shiryo2.pdf
[9] SIP「革新的深海資源調査技術」5年間の成果と今後の取組 http://www.japic.org/information/2022/12/13/296-2.pdf
[10] Geochemistry of REY-rich mud in the Japanese Exclusive ... https://orceng-cit.jp/publication/detail/3654
[11] Implications for genesis of mud highly enriched in rare ... https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0169136819300927
[12] minerals https://umdb.um.u-tokyo.ac.jp/DImag...inamitorishima/PDF/114 Tanaka2020Minerals.pdf
 
Nhiều thằng bợ tàu nhỉ, tao chỉ tin vào thế giới tự do, nơi tài sản được đảm bảo, tự do trong tư tưởng, phát ngôn lẫn hành động
 
Các quốc gia cho rằng sẽ có một cuộc cải tổ toàn cầu tạo ra trật tự thế giới do Trung Quốc lãnh đạo, như Đảng ******** Trung Quốc đã khiến mọi người tin tưởng trong nhiều năm qua, là hoàn toàn sai lầm.

Mỹ đã chuẩn bị sẵn một chuỗi các sự kiện nhằm ngăn chặn điều này và kiềm chế Trung Quốc, bắt đầu từ việc Donald Trump đắc cử tổng thống - như tôi đã viết nhiều tháng trước khi ông ấy đắc cử (bài viết đính kèm).

Mỹ đã kiểm soát kênh đào Panama và Venezuela. Chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi Cuba và toàn bộ Nam Mỹ nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ.

Mỹ cũng muốn Nga đứng về phía mình và Nga phần lớn sẽ chuyển hướng. Họ biết về "nhà nước ngầm" của Mỹ chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, kẻ đã gây ra cuộc chiến ở Ukraine và cũng là người đã lật đổ Trump vào năm 2020.

Nó biết Trung Quốc đang âm thầm chiếm đóng vùng đông bắc của Nga và có thể xâm lược vào một ngày nào đó. Nó biết rằng sự hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô, và nhờ đó Trung Quốc đã được Mỹ đền đáp bằng các cơ hội kinh doanh và công nghệ.

Nga sẽ âm thầm chuyển hướng sang thân thiện với phương Tây ngay khi chiến tranh Ukraine kết thúc (cái gọi là "phe đối lập cũ" vẫn đang ngăn cản việc này, gây ảnh hưởng đến châu Âu trái với ý muốn của Mỹ).

Mỹ đã bắt đầu can thiệp vào Iran. Một khi chế độ này sụp đổ, hầu hết khu vực Trung Đông sẽ nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ. Nepal, Sri Lanka, Maldives, Pakistan, Bangladesh đều đã được chuẩn bị để nằm dưới sự chi phối của Mỹ. Trung Quốc đã mất ảnh hưởng ở Nam Á.

Mỹ cũng đang kiểm soát hầu hết nguồn năng lượng của thế giới, ngoại trừ Nga. Nước này đang giành quyền kiểm soát tất cả các tuyến đường và kênh vận tải biển, đặc biệt là nếu họ kiểm soát được Greenland, điều mà họ đang cố gắng và có thể đạt được, trực tiếp hoặc gián tiếp.

Những ai có thể nhìn nhận và liên kết tất cả các sự kiện này lại với nhau sẽ hiểu được những gì đang xảy ra. Việc cho rằng Trung Quốc bằng cách nào đó có thể phá vỡ bá quyền của Mỹ, làm sụp đổ đồng đô la mà không tự sụp đổ, và đảo lộn trật tự thế giới theo hướng có lợi cho mình là điều ảo tưởng vào thời điểm hiện tại.

Đây là một ảo tưởng do tuyên truyền của Trung Quốc tạo ra trong thập kỷ qua bằng cách tác động đến hầu hết các phương tiện truyền thông chính thống trên thế giới và thâm nhập vào mạng xã hội toàn cầu. Tôi nghĩ không chỉ người dân mà nhiều quốc gia vẫn đang mắc kẹt trong ảo tưởng này.

Dĩ nhiên, Đảng ******** Trung Quốc sẽ không sụp đổ mà không có sự phản kháng, gây ra rất nhiều vấn đề trên thế giới.

Hiện tại, cuộc chiến này sẽ diễn ra ở đâu và như thế nào thì không ai đoán được. Nhưng theo ý kiến của tôi, nó sẽ không nhắm vào Đài Loan. Nó sẽ không trực tiếp hay gián tiếp tấn công Mỹ. Điều đó loại trừ Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc.

Như vậy chỉ còn lại Ấn Độ và Việt Nam. Nhưng đảng ******** Việt Nam dường như đang xích lại gần Trung Quốc hơn. Vì vậy, tôi cho rằng Trung Quốc sẽ gây xung đột với Ấn Độ khi tình hình trong nước bắt đầu xấu đi.

Vì cuộc xung đột này có thể kiểm soát được mà không cần sự can thiệp của Mỹ và không có nguy cơ Ấn Độ leo thang thành một cuộc chiến tranh hạt nhân tàn khốc với tư cách là một cường quốc có trách nhiệm.

Và bằng cách sử dụng Pakistan, họ có khả năng đạt được một thắng lợi tuyên truyền hạn chế nhằm giữ cho người dân Trung Quốc tiếp tục ủng hộ Đảng ******** Trung Quốc.

Trung Quốc đã chuẩn bị cho điều này bằng cách khởi xướng một cuộc xung đột vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid khi nước này chắc chắn mọi việc đang diễn ra theo đúng kế hoạch. Họ đã thử thách Ấn Độ, tìm ra điểm yếu và điểm mạnh, chuẩn bị sẵn sàng để khắc phục những thiếu sót, và đang chờ đợi động thái tiếp theo.

Nhưng bất kể Trung Quốc có động thái gì, Mỹ cũng sẽ đảm bảo rằng nước này bị mắc bẫy và suy yếu. Cho dù đó là Ấn Độ hay Đài Loan, cho dù đó là một đại dịch được lên kế hoạch khác hay việc bán phá giá trái phiếu kho bạc Mỹ để làm suy yếu đồng đô la, Trung Quốc cũng không thể thoát khỏi những rắc rối. Là một chế độ độc đảng, sự sụp đổ chính trị là điều không thể tránh khỏi vào một ngày nào đó.

Ấn Độ hay Mỹ có thể gây chiến, mất một số lãnh thổ hoặc lợi ích chiến lược vào tay Trung Quốc, điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là sự thất vọng của công chúng, các cuộc biểu tình, sự sụp đổ của chính phủ và một chính phủ mới được bầu lên. Hãy nghĩ về điều này trong trường hợp của Trung Quốc. Đây là con đường mà nước này đang hướng tới khi các vấn đề kinh tế trở nên nghiêm trọng.

Và cú sốc kinh tế đó cùng với cuộc suy thoái do con người tạo ra sắp xảy ra, chủ yếu trong hai năm tới (sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ), do Mỹ gây ra bởi các hành động của Trump, các cuộc chiến thương mại và các vụ thâu tóm trên toàn thế giới.



T cùng quan điểm với tác giả của bài viết này.
@de Star @Nmlam
 
Các quốc gia cho rằng sẽ có một cuộc cải tổ toàn cầu tạo ra trật tự thế giới do Trung Quốc lãnh đạo, như Đảng ******** Trung Quốc đã khiến mọi người tin tưởng trong nhiều năm qua, là hoàn toàn sai lầm.

Mỹ đã chuẩn bị sẵn một chuỗi các sự kiện nhằm ngăn chặn điều này và kiềm chế Trung Quốc, bắt đầu từ việc Donald Trump đắc cử tổng thống - như tôi đã viết nhiều tháng trước khi ông ấy đắc cử (bài viết đính kèm).

Mỹ đã kiểm soát kênh đào Panama và Venezuela. Chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi Cuba và toàn bộ Nam Mỹ nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ.

Mỹ cũng muốn Nga đứng về phía mình và Nga phần lớn sẽ chuyển hướng. Họ biết về "nhà nước ngầm" của Mỹ chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, kẻ đã gây ra cuộc chiến ở Ukraine và cũng là người đã lật đổ Trump vào năm 2020.

Nó biết Trung Quốc đang âm thầm chiếm đóng vùng đông bắc của Nga và có thể xâm lược vào một ngày nào đó. Nó biết rằng sự hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô, và nhờ đó Trung Quốc đã được Mỹ đền đáp bằng các cơ hội kinh doanh và công nghệ.

Nga sẽ âm thầm chuyển hướng sang thân thiện với phương Tây ngay khi chiến tranh Ukraine kết thúc (cái gọi là "phe đối lập cũ" vẫn đang ngăn cản việc này, gây ảnh hưởng đến châu Âu trái với ý muốn của Mỹ).

Mỹ đã bắt đầu can thiệp vào Iran. Một khi chế độ này sụp đổ, hầu hết khu vực Trung Đông sẽ nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ. Nepal, Sri Lanka, Maldives, Pakistan, Bangladesh đều đã được chuẩn bị để nằm dưới sự chi phối của Mỹ. Trung Quốc đã mất ảnh hưởng ở Nam Á.

Mỹ cũng đang kiểm soát hầu hết nguồn năng lượng của thế giới, ngoại trừ Nga. Nước này đang giành quyền kiểm soát tất cả các tuyến đường và kênh vận tải biển, đặc biệt là nếu họ kiểm soát được Greenland, điều mà họ đang cố gắng và có thể đạt được, trực tiếp hoặc gián tiếp.

Những ai có thể nhìn nhận và liên kết tất cả các sự kiện này lại với nhau sẽ hiểu được những gì đang xảy ra. Việc cho rằng Trung Quốc bằng cách nào đó có thể phá vỡ bá quyền của Mỹ, làm sụp đổ đồng đô la mà không tự sụp đổ, và đảo lộn trật tự thế giới theo hướng có lợi cho mình là điều ảo tưởng vào thời điểm hiện tại.

Đây là một ảo tưởng do tuyên truyền của Trung Quốc tạo ra trong thập kỷ qua bằng cách tác động đến hầu hết các phương tiện truyền thông chính thống trên thế giới và thâm nhập vào mạng xã hội toàn cầu. Tôi nghĩ không chỉ người dân mà nhiều quốc gia vẫn đang mắc kẹt trong ảo tưởng này.

Dĩ nhiên, Đảng ******** Trung Quốc sẽ không sụp đổ mà không có sự phản kháng, gây ra rất nhiều vấn đề trên thế giới.

Hiện tại, cuộc chiến này sẽ diễn ra ở đâu và như thế nào thì không ai đoán được. Nhưng theo ý kiến của tôi, nó sẽ không nhắm vào Đài Loan. Nó sẽ không trực tiếp hay gián tiếp tấn công Mỹ. Điều đó loại trừ Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc.

Như vậy chỉ còn lại Ấn Độ và Việt Nam. Nhưng đảng ******** Việt Nam dường như đang xích lại gần Trung Quốc hơn. Vì vậy, tôi cho rằng Trung Quốc sẽ gây xung đột với Ấn Độ khi tình hình trong nước bắt đầu xấu đi.

Vì cuộc xung đột này có thể kiểm soát được mà không cần sự can thiệp của Mỹ và không có nguy cơ Ấn Độ leo thang thành một cuộc chiến tranh hạt nhân tàn khốc với tư cách là một cường quốc có trách nhiệm.

Và bằng cách sử dụng Pakistan, họ có khả năng đạt được một thắng lợi tuyên truyền hạn chế nhằm giữ cho người dân Trung Quốc tiếp tục ủng hộ Đảng ******** Trung Quốc.

Trung Quốc đã chuẩn bị cho điều này bằng cách khởi xướng một cuộc xung đột vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid khi nước này chắc chắn mọi việc đang diễn ra theo đúng kế hoạch. Họ đã thử thách Ấn Độ, tìm ra điểm yếu và điểm mạnh, chuẩn bị sẵn sàng để khắc phục những thiếu sót, và đang chờ đợi động thái tiếp theo.

Nhưng bất kể Trung Quốc có động thái gì, Mỹ cũng sẽ đảm bảo rằng nước này bị mắc bẫy và suy yếu. Cho dù đó là Ấn Độ hay Đài Loan, cho dù đó là một đại dịch được lên kế hoạch khác hay việc bán phá giá trái phiếu kho bạc Mỹ để làm suy yếu đồng đô la, Trung Quốc cũng không thể thoát khỏi những rắc rối. Là một chế độ độc đảng, sự sụp đổ chính trị là điều không thể tránh khỏi vào một ngày nào đó.

Ấn Độ hay Mỹ có thể gây chiến, mất một số lãnh thổ hoặc lợi ích chiến lược vào tay Trung Quốc, điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là sự thất vọng của công chúng, các cuộc biểu tình, sự sụp đổ của chính phủ và một chính phủ mới được bầu lên. Hãy nghĩ về điều này trong trường hợp của Trung Quốc. Đây là con đường mà nước này đang hướng tới khi các vấn đề kinh tế trở nên nghiêm trọng.

Và cú sốc kinh tế đó cùng với cuộc suy thoái do con người tạo ra sắp xảy ra, chủ yếu trong hai năm tới (sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ), do Mỹ gây ra bởi các hành động của Trump, các cuộc chiến thương mại và các vụ thâu tóm trên toàn thế giới.



T cùng quan điểm với tác giả của bài viết này.
@de Star @Nmlam

Chuyện phang nhau giữa tàu & Ấn theo em thì quá khó, với đường biên được coi là khắc nghiệt hàng đầu thế giới, cao độ 4000m - 5500m, lạnh lẽo & hiểm trở. Mỗi bên đều có lợi thế của riêng mình: tàu có cao nguyên Tây Tạng làm cứ điểm hậu cần, dễ tập trung binh lực, khí tài, nhưng vừa tràn sang phía Ấn thì sẽ bị thắt cổ chai tại những đèo hẹp, dễ bị phục kích, Ấn lại có lực lượng sơn chiến chuyên biệt, vốn quen tác chiến lâu năm tại Kashmir, Sikkim, Arunachal. Thêm nữa, chính sách & tư tưởng 2 bên cũng khác, nên đánh lớn thì khó có khả năng thư sinh mở combat với dalit, còn xung đột cục bộ như Galwan 2020 thì Ấn nó ăn chặt.
Còn về việc tàu bước chân nào trước cũng là bị Mỹ lừa nhảy xuống hố thì em có viết 1 lần rồi.

Trump: nổi tiếng ghét & chửi cạn sổng.
Rubio: hơn thằng bên trên.
Scott Bessent: kền kền.
Peter Navarro: bỏ ra hơn 20 năm nghiên cứu về tàu +, tác giả của cuốn "death by China".
 
Công nghệ tinh chế cũng ko khó hay phức tạp gì. Chỉ có điều cực kỳ ô nhiễm. Nên nếu tinh chế sẽ tốn nhiều tiền để khắc phục ô nhiễm dẫn đến đội giá thành, hoặc, phải tìm một nước chấp nhận ô nhiễm, bất chấp môi trường và sức khỏe người dân để tinh chế như TQ.

Nhưng trong tình hình TQ ko ngừng dùng đất hiếm như một quân bài mặc cả thì các nước phương Tây đã có động thái để giải quyết. Trước đây có một phương án là chuyển về một nước ĐNA nghèo, chấp nhận ô nhiễm để sản xuất. Lúc đó Đông Lào và Indog là 2 đối tượng được nhắm đến. Nhưng sau bỏ phương án đó mà chuyển qua Úc xây nhà máy tinh chế, vì Úc có những khu vực hoang mạc cực ít người sống, và có thể bọn phương Tây đã có bước phát triển về mặt công nghệ tinh chế.

Một trong những ứng dụng quan trọng và phổ biến nhất của đất hiếm là pin xe điện thì lúc này, Mỹ đang xì bong bóng xe điện, đồng thời Musk trước đây chừng 4 - 5 tháng có loạt bài về việc định hướng sẽ thay pin lithium bằng công nghệ mới, sử dụng pin ion nhôm, an toàn hơn, độ tích điện cao hơn và tuổi thọ dài hơn.

Đồng thời Nhật cũng chuẩn bị đưa loại pin năng lượng mặt trời mới, dùng iot là thành phần chính, có độ dày bằng một tờ A4, có thể cuộn tròn tạo hình dễ dàng vào sản xuất thương mại.

Các nước phương Tây đang từng bước giảm tầm quan trọng của con bài đất hiếm trong tay TQ.
Công nghệ không khó, đúng. Nhưng TQ nó đang ĐỘC QUYỀN ở các khâu Tinh luyện - tách - chế biến sâu. Đang chiếm khoảng 85-90% toàn cầu. Nó là 1 cái chuỗi giá trị kiểu như sản xuất chip. Chứ đéo phải đơn giản như mày nghĩ
Cho nên bọn tây lông đéo làm đc là vì thế. Chứ đéo phải sợ ô nhiễm như bọn bài Tàu ảo tưởng
Ví dụ: Mỹ ko làm đc do thiếu công nghệ
Nhật thiếu nguyên liệu
ÚC vẫn phải gửi nguyên liệu thô sang TQ để xử lý do đéo có công nghệ
...
 
Có ăn đc cái đầu buồi thằng Khựa ấy
Nó chấp cả 10 thằng Nhật bửn nhảy vào luôn, khích bác nó xong nó khoá cụ du lịch rồi vừa xong là cấm luôn đất hiếm sang, con thủ Nhật giãy nảy như lồn phải lá han kìa 🤣🤣🤣

Thằng Trump cũng dạng chỉ mõm, bắt nạt bọn yếu thế hơn chứ ép thằng Khựa bao nhiêu nó chơi lại bấy nhiêu, nó có sợ cái đb, cuối cùng lại tự vả vào mõm thằng Mẽo thôi
:vozvn (19):
Con TT Nhật với chính sách bài Tàu mới phải giải tán chính phủ rồi kìa =)))
Tầm này đéo ai say đéo đc với thương mại và hàng giá rẻ của Tàu. Thằng Mỹ bắt buộc phải đập ko thì mấy nữa nó ỉa mẹ lên đầu
 
Chuyện phang nhau giữa tàu & Ấn theo em thì quá khó, với đường biên được coi là khắc nghiệt hàng đầu thế giới, cao độ 4000m - 5500m, lạnh lẽo & hiểm trở. Mỗi bên đều có lợi thế của riêng mình: tàu có cao nguyên Tây Tạng làm cứ điểm hậu cần, dễ tập trung binh lực, khí tài, nhưng vừa tràn sang phía Ấn thì sẽ bị thắt cổ chai tại những đèo hẹp, dễ bị phục kích, Ấn lại có lực lượng sơn chiến chuyên biệt, vốn quen tác chiến lâu năm tại Kashmir, Sikkim, Arunachal. Thêm nữa, chính sách & tư tưởng 2 bên cũng khác, nên đánh lớn thì khó có khả năng thư sinh mở combat với dalit, còn xung đột cục bộ như Galwan 2020 thì Ấn nó ăn chặt.
Còn về việc tàu bước chân nào trước cũng là bị Mỹ lừa nhảy xuống hố thì em có viết 1 lần rồi.

Trump: nổi tiếng ghét & chửi cạn sổng.
Rubio: hơn thằng bên trên.
Scott Bessent: kền kền.
Peter Navarro: bỏ ra hơn 20 năm nghiên cứu về tàu +, tác giả của cuốn "death by China".
tàu với nhật tao còn phân vân
chứ tàu với ấn thì tàu ăn chắc
 
603914416_2334141380389609_408331629219654258_n.jpg
603914416_2334141380389609_408331629219654258_n.jpg


520413


soviet-invasion-of-manchuria-and-inner-mongolia-1939-v0-fkkiftjllskf1.jpeg


Tàu đang sợ hãi cả Mỹ lẫn Nga và Mông Cổ!

Tên lửa đạn đạo liên lục địa gắn đầu đạn nguyên tử (ICBM) luôn là vũ khí răn đe mạnh nhất của tất cả mọi quốc gia sở hữu!

Và bạn chỉ cần nhìn vào vị trí đặt bãi phóng cố định ICBM của những quốc gia sở hữu … có thể biết được sức mạnh phòng thủ của quốc gia đó, và quốc gia đó đang muốn răn đe ai, hay đang lo sợ ai!

Tàu hiện là một trong 9 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và ICBM (8 quốc gia còn lại là Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Ấn Độ, Triều Tiên, Israel, Pakistan) … và theo các số liệu “mật” mà Lầu Năm Góc vừa “cố tình cho rò rỉ” ra ngoài, thì Tàu vừa triển khai hơn 100 tên lửa đạn đạo liên lục địa DF-31 vào 3 bãi phóng mới gần Mông Cổ! (Xem bản đồ do LH vẽ)!

Hãng tin Financial Times dẫn nhận định của một số chuyên gia địa chính trị thế giới, rằng “đây là một sự triển khai toàn diện, phản chiến lược, bề ngoài là để chống lại Mỹ, nhưng thực chất là để chống lại Nga.”!

Theo LH, nhận định này của các chuyên gia là đúng … nhưng chưa đủ! Hay có thể nói là chỉ đúng 1/3!

Việc Tàu triển khai ICBM tại các bãi phóng mới gần Mông Cổ đã cho thấy rõ những nỗi sợ hãi của Tàu mà LH đã nói khá nhiều … Tàu không chỉ đang sợ hãi một đối thủ “truyền thống” là Hoa Kỳ … mà Tàu còn sợ hãi với cả “bạn” Nga - kẻ duy nhất trong lịch sử từng đe dọa tấn công nguyên tử vào Tàu … Đồng thời thêm một nỗi sợ hãi mới nổi với Tàu là Mông Cổ - một cựu đế chế có lãnh thổ đất liền liền kề lớn nhất lịch sử nhân loại - mà LH mới đề cập trong bài gần đây “Đế chế Mông Cổ - Lãnh thổ rộng lớn thời cực thịnh … và “thế cờ mới” tại Đông Bắc Á”!

(Thậm chí Tàu còn lo sợ và phòng thủ cả với Ấn Độ, nhưng phạm vi bài này sẽ không bàn đến Ấn Độ)!

Đầu tiên là nỗi sợ của Tàu với Nga;
Các chuyên gia thế giới đã nhận định đúng về việc Tàu “triển khai ICBM gần Mông Cổ là để chống lại Nga.” … Bởi Liên Xô (Nga) là kẻ duy nhất trong lịch sử từng đe dọa tấn công nguyên tử để xóa sổ Tàu trong cuộc chiến biên giới Liên Xô - Tàu 1969, và nếu không có Mỹ can thiệp “yêu cầu Liên Xô không được tấn công nguyên tử” thì Tàu đã tan nát ngay từ ngày ấy!

Tuy nhiên, theo LH, còn một vấn đề lớn nữa mà các chuyên gia không đề cập (và không biết họ có nhìn thấy hay không (!?) … đó là một thế cờ mới đã được hình thành trên bàn cờ thế giới mà LH đặt tên là “học thuyết Đối Trọng” - trong đó Nga sẽ thay Tàu làm Đối Trọng trong chu kỳ 40 năm sắp tới của Mỹ … vì đó Nga ắt sẽ được Mỹ “ưu ái” khá nhiều để trỗi dậy sau giấc ngủ đông dài (sự ưu ái này LH cũng đã đề cập nhiều - trong đó gồm có cả Đông Âu với “vùng đệm” tại Ukraine, cùng vài khu vực tại Phi Châu) … và trong thế cờ Đối Trọng đó có một nước cờ gọi là “liên Nga, chế Hoa” - Nga vì được Mỹ “ưu ái” nên đổi lại sẽ phải phối hợp với Mỹ trong nhiều vấn đề để bắn hạ Tàu, và một trong những vấn đề đó sẽ là lãnh thổ từ hướng Bắc của Tàu - để “xé nát lãnh thổ hình con Gà thành 5,7 mảnh” … bất kể ngoài mặt Nga tỏ ra “thân thiết” với Tàu như thế nào, nhưng trong bụng Nga sẽ chơi theo thế cờ này của Mỹ!

Người Mỹ hiểu quá rõ bản thân “tình bạn” giữa Nga với Tàu chỉ thuộc dạng “đồng sàng dị mộng”, và chỉ cần có lợi ích là cặp đôi này sẽ sẵn sàng “bán đứng” nhau ngay tắp lự … bản thân Tàu xưa kia cũng đã từng chơi theo nước cờ “liên Trung, phá Xô” của Mỹ (do Henry Kissinger điều phối hoàn hảo từ thập niên 1971) … ngày nay, bản thân Nga đang trong tình cảnh kiệt quệ vì sa lầy trong cuộc xâm lược Ukraine, và Nga hiểu rõ nguy cơ không thể bảo toàn được lãnh thổ đang tranh chấp với Tàu một khi mình yếu thế … trong khi Tàu cũng đã vài lần công khai hăm dọa sẽ lấy lại các vùng lãnh thổ Viễn Đông nếu một khi Nga kiệt quệ vì sa lầy tại Ukraine … vì đó, để bảo toàn lãnh thổ trước sự hăm he của Tàu, Nga chỉ còn cách là chơi theo thế cờ “liên Nga, chế Hoa” của Mỹ (cũng do Henry Kissinger xếp cờ và khi Huyền thoại này mất thì các Tổng thống kế tiếp sẽ khai triển) để “xé nát lãnh thổ hình con Gà thành 5,7 mảnh” - trong đó, Nga sẽ phải hậu thuẫn Mông Cổ (và thậm chí cả với Nhật Bản - chí ít thì Nga cũng phải im lặng trước sự trỗi dậy của Nhật Bản trước căng thẳng với Tàu) cũng như hậu thuẫn một số quốc gia “đàn em” vốn đã từng chung “ngôi nhà Xô Viết” tại Trung Á Và Tây Á kích hoạt các vấn đề lãnh thổ với Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu …!

Và chỉ khi “lãnh thổ hình con Gà” bị xé nát thì Nga mới có thể yên tâm trước nguy cơ mất lãnh thổ vào tay Tàu!

(Ngoài ra, theo LH việc Nga phải hậu thuẫn Mông Cổ về các vấn đề lãnh thổ của Đông và Trung Á còn liên quan đến một “nước cờ” khác của Mỹ, hậu Tàu … tuy nhiên còn quá sớm để nói về “nước cờ” này)!

Với nỗi sợ của Tàu với Mông Cổ;
Thoạt nhìn vào sức mạnh hiện tại của cựu đế chế Mông Cổ với dân số ít, quân sự yếu thì chẳng có gì để Tàu phải lo sợ cả … tuy nhiên, Mông Cổ lại đang nắm giữ một “tử huyệt” của Tàu đó là lịch sử của các lãnh thổ mà Tàu đang cưỡng chiếm - đặc biệt là Nội Mông (Nội Mông Cổ) … nhưng vì lâu nay do Mông Cổ khá yếu, nên tạm thời những vấn đề này không được cựu đế chế nhắc đến … nhưng, một khi Mông Cổ được những thế lực mạnh hậu thuẫn thì câu chuyện sẽ khác hoàn toàn!

Như đã nói ở trên Nga trong tình cảnh kiệt quệ và yếu thế, nên nếu muốn tự cứu mình, muốn giữ được lãnh thổ trước sự “thèm khát” của Tàu, thì Nga sẽ phải chơi theo thế cờ của Mỹ - trong đó Nga phải hậu thuẫn Mông Cổ để kích hoạt các vấn đề lãnh thổ với Tàu để “xé nát lãnh thổ hình con Gà”, chia nhỏ sức mạnh của “chuồng Gà” thì Nga mới có thể yên ổn …!

Hoa Kỳ có sức mạnh cơ bắp và sức mạnh của luật chơi, Mông Cổ có lịch sử lãnh thổ rộng lớn, cộng thêm Nga để tự cứu chính mình sẽ buộc phải hậu thuẫn thế cờ của Mỹ và “hàng xóm” Mông Cổ … cùng với đó là các khu vực trong chuồng Gà vốn nội lực chưa đủ mạnh, nhưng sẵn sàng trỗi dậy nếu được hậu thuẫn mạnh từ bên ngoài … và “chuồng Gà” sẽ cực kỳ mong manh trước “cơn bão” hủy diệt này một khi nó hình thành!

Riêng các vấn đề lịch sử của Mông Cổ và các đòn đánh từ hướng Bắc của Tàu thì LH cũng đã nói trong bài gần đây về “Đế chế Mông Cổ - Lãnh thổ rộng lớn thời cực thịnh … và “thế cờ mới” tại Đông Bắc Á” … LH dẫn lại dưới còm để các bạn có thể tham khảo, vì viết hết ra đây sẽ khá dài!

Với nỗi lo sợ của Tàu với Mỹ thì có rất nhiều … trong đó, Tàu lo sợ về sự tồn tại của vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo thì LH cũng đã nói nhiều rồi!

Do hệ thống phòng thủ bờ biển và đánh chặn của Tàu quá yếu - và trong bộ tam răn đe hạt nhân của Tàu, thì máy bay ném bom và tàu ngầm cũng đều quá yếu về công nghệ nên sẽ không thể thoát được ra khỏi 2 chuỗi đảo đang bao vây Tàu của Mỹ … nên Tàu chỉ còn duy nhất một sự răn đe là các bãi phóng ICBM cố định trong đất liền … và Tàu hiểu rằng nếu muốn tồn tại và bảo vệ được các bãi phóng ICBM trước đòn tấn công phủ đầu của Mỹ khi xảy ra xung đột … thì Tàu buộc phải triệt thoái các bãi phóng này vào thật sâu trong đất liền mới mong có thể tồn tại được trước đòn phủ đầu, để hy vọng còn giữ được “đồ chơi” để có thể mơ về một sự “trả đũa”!

Tuy nhiên, chính vì phải triệt thoái quá sâu vào đất liền, đã tạo ra khoảng cách quá xa biên giới, khiến sự răn đe trả đũa (và cả đe dọa phủ đầu) bằng ICBM của Tàu mất đi sự “bất ngờ”, bởi tên lửa phải mất thêm rất nhiều thời gian bay để có thể tấn công được tới căn cứ hay lãnh thổ Mỹ … và đặc biệt là Tàu đã tự dâng cho Mỹ có thêm “thời gian vàng” để đánh chặn, tiêu diệt tên lửa …!

Đó là LH chưa cần nói đến viễn cảnh ICBM của Tàu sẽ tự nổ tung hay sẽ bị Mỹ tiêu diệt gọn ngay khi nó còn chưa kịp rời bệ phóng!

Ngay việc các bãi phóng ICBM của Tàu dù để chống lại Nga, nhưng cũng phải “núp gió” Mông Cổ là vì Tàu lo sợ sự “nhạy cảm” với Nga nếu triển khai ICBM sát biên giới Nga, nhưng thật ra là Tàu lo sợ bị Nga phủ đầu tiêu diệt nếu xảy ra xung đột!

Chính vì Tàu đã mờ ảo nhận ra thế cờ của Mỹ và sợ hãi viễn cảnh Nga và Mông Cổ hợp lực để “chơi” Tàu từ hướng Bắc, nên Tàu mới triển khai ICBM áp sát Mông Cổ với tuyên bố là để “là để chống Mỹ” … nhưng đã bị giới chuyên gia địa chính trị thế giới “bắt bài”, “thực chất là để chống lại Nga.” … và chính điều đó đã thêm một lẫn nữa khẳng định điều mà LH vẫn nói về “tình bạn” của cặp đôi Nga - Tàu này mãi mãi chỉ “đồng sàng dị mộng”!

Bất kể dù Tàu có triển khai ICBM gần Mông Cổ để răn đe, ngăn chặn … thì cũng chẳng thể cản được “cơn bão” từ hướng này sẽ sớm càn quét lãnh thổ “hình con Gà”!

Lương Hải
🤫 🤫 🤫 ;)) ;)) ;))
 

Có thể bạn quan tâm

Top