Johnny Lê Nữu Vượng
Già làng
Năm Giáp Tí (1804), quan tài Lê Duy Kỳ từ Trung Hoa được đem về nước. Sau 15 năm lưu lạc, một số lớn đã xin hồi hương khi phái đoàn Quang Trung sang Trung Hoa dự lễ khánh thọ của vua Cao Tông, những người khác đã ổn định, số người còn sống theo linh cữu vua Lê chỉ chừng vài mươi người.
Ngày 24 tháng Ba [năm Giáp Tí] bọn Lê Quýnh khám liệm di cốt của vua Lê, quốc mẫu [thái hậu], nguyên tử và những người đi theo đã qua đời, tất cả 18 cỗ quan tài. Những người về nước lại được chia thành ba nhóm do quan nhà Thanh hộ tống về Nam Quan.¹⁸⁹
Tháng Bảy năm đó, Lê Quýnh và mọi người về đến Nam Quan rồi vào trấn Lạng Sơn. Tổng trấn đã thương án vua Lê ở ngoài thành, hiệp trấn Lạng Sơn Nguyễn Duy Thần cùng các cựu thần đến khóc trước linh cữu. Vì chưa được phép của triều đình, tất cả 18 cỗ quan tài phải để tại đây để Lê Quýnh về Thăng Long trình báo với tổng trấn Nguyễn Văn Thành và tả lý Đặng Trần Thường.
Giữa tháng Tám, Lê Quýnh lên đường vào kinh đô Huế để xin được phép đem di hài vua Lê về táng ở làng Bố Vệ. Cuối tháng Chín, khi việc phép tắc đã xong, Nguyễn Văn Thành cho lính và đinh phu lên Lạng Sơn đưa quan tài về Thăng Long, đặt tại nhà Diên Tự Công Lê Duy Hoán. Cựu thần nhà Lê mặc đồ tang đến viếng vua Lê, còn thi hài những người tòng vong thì được thân nhân nhận về an táng.
Có lẽ những di thần nhà Lê cũng nghĩ rằng vua Gia Long là hậu duệ của chúa Nguyễn át vẫn còn tình nghĩa với cựu triều và sẽ cho hưởng một số ân huệ nhưng mọi đòi hỏi đều không thành công và các ưu đãi chỉ đến thế. Những ai mưu tính xa xôi hơn hay không yên phận về sau cùng đều bị trừng trị. Chính vì thế ngay từ đầu triều đình nhà Nguyễn cũng đã dứt khoát không để việc đi xa hơn.
Đại Nam Thực Lục chép lời của triều thần bàn về việc tang lễ vua Lê: " Hoàng thượng ra ơn với triều trước, kẻ còn người mất đều được nhờ, rất là nhân vậy. Nay quan tài vua Lê đã đưa về, nhờ lượng thánh đoái thương, nhưng nên cấp cho tiền gạo để tỏ hậu đạo, chứ nếu lấy lễ khách mà đãi, sai quan đến viếng thì về nghĩa e chưa được ổn. Lại nếu họ Lê có xin đặt thụy hiệu, bọn thần thấy đã không đúng nghĩa thì không nói được, vậy không nên cho hiệu là phải."
Vua Gia Long cho 700 quan tiền, 500 phương gạo và dùng binh thuyền hộ tống về táng ở Thanh Hoa.¹⁹⁰
P/s: Về nhân cách của Lê Duy Kỳ, phần lớn các sử gia phán đoán theo những chi tiết mà Khâm Định Việt Sử, Liệt Truyện hay Hoàng Lê Nhất Thống Chí miêu tả.
Thực ra, khi lên ngôi, vua Chiêu Thống cũng hết sức làm những gì mình có thể làm nhưng ngoài một số văn quan trói gà không chặt, một số lính hầu trong cung, các thế lực ở bên ngoài không ở trong tầm tay. Những người có binh lực, dù không đáng kể cũng bắt ép đủ điều, từ Trịnh Lệ, Trịnh Bồng đến Đinh Tích Nhưỡng, Nguyễn Cảnh Thước, Hoàng Phùng Cơ… đều nay về mai phản. Đó là chưa kể Tây Sơn ở phía nam luôn luôn đe dọa và phá tan những gì vừa mới hình thành.
Khác với miêu tả trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, theo Lê Quý Kỷ Sự, khi thiêm đô ngự sử Nguyễn Đình Lượng đang biểu đàn hạch những người chạy theo giặc, nhà vua nói:
"Nào ai có thích theo giặc đâu, chẳng qua người vì tình nhà, kẻ vì bố mẹ nên mới không tránh khỏi mối liên quan đến giặc thôi. Và lại, ta không giữ nổi nước nhà, thì sao nên còn nghiêm trách tội người ta nữa?"
Chi tiết này ngược lại hẳn với những tin đồn về việc ông đền ơn trả oán. Tình nghĩa với người đi theo cũng đáng ghi nhận. Nhiều lần ông cho người đem quà và gửi thư cho những người bị giam trong ngục ở Bắc Kinh. Trong văn chương để lại, chúng ta thấy những tòng thần vẫn trung thành và kính trọng đến khi ông qua đời, không hề thấy điều gì tỏ ra coi thường chúa cũ. Lê Quýnh khi ra khỏi ngục luôn luôn đến viếng mộ ông và sau này tìm đủ mọi cách để thực hiện di mệnh đưa nắm xương tàn của ông về quê cũ. Cũng nên nhấn mạnh rằng khi lên làm vua, ông mới 19 tuổi và khi chạy sang Trung Hoa ông cũng chỉ mới 23. Khí độ như thế, chúng ta thấy tư chất ông không tầm thường mặc dù theo sử sách thì việc học của ông cũng rất hạn hẹp, không phải vì lười biếng mà vì thời thế tạo nên.
Nhìn lại những tài liệu của nhiều phía, chúng ta thấy có sự đồng tình của cả Thanh triều lẫn Tây Sơn muốn dựng ông trên cùng một mẫu số, bất tài, nhu nhược, không có chí tiến thủ… và được lặp lại dưới ngòi bút của sử thần triều Nguyễn. Nếu bỏ đi những thêm bớt mà thiên hạ thêu dệt để nhân dáng ông thích hợp hơn với mô hình ngụy tạo này, ông vua cuối triều kia quả là đáng thương hơn đáng ghét.
CHÚ THÍCH:
¹⁸⁶ Đại Nam Thực Lục, đệ nhất kỷ, quyển XVIII, trang 524–5.
¹⁸⁷ Thực ra vua Gia Khánh lên ngôi từ năm Bính Thìn [1796] nhưng vì còn Thái Thượng Hoàng nên không tự quyết được nhiều điều, đến năm Kỷ Mùi [1799] vua cha Càn Long mất, mới thực sự thâu tóm quyền hành.
¹⁸⁸ Quốc Sử Di Biên (1973), tr. 138.
¹⁸⁹ (chú thích dẫn ở đoạn chia 18 cỗ quan tài, quan Thanh hộ tống về Nam Quan).
¹⁹⁰ (chú thích cho đoạn vua Gia Long cấp tiền gạo và binh thuyền hộ tống về táng ở Thanh Hoa).
²⁰⁶ Lê Quý Kỷ Sự (1974), tr. 119.
Nguồn: Tr.96-97-105 trong Lê Duy Kỳ (1766-1793) đáng thương hay đáng trách- tác giả Nguyễn Duy Chính
Ảnh: Lăng vua Lê Chiêu Thống được tu sửa tôn tạo năm 2022