Vua Quang Trung: Không phải họ Nguyễn, quê gốc không phải Bình Định

Gốc Tích Họ Hồ Của Vua Quang Trung

Vua Quang Trung – một thiên tài kiệt xuất của dân tộc​

Vua Quang Trung – một thiên tài kiệt xuất của dân tộc

Nguyễn Huệ (1753–1792), tức vua Quang Trung, là một trong những vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông là người có công lớn trong việc thống nhất đất nước sau nhiều năm phân tranh giữa các thế lực phong kiến Trịnh – Nguyễn, đồng thời đánh bại hai đạo quân xâm lược hùng mạnh là Xiêm (1785) và Thanh (1789).

Sinh ra trong một gia đình nông dân ở ấp Tây Sơn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc tỉnh Bình Định), Nguyễn Huệ cùng hai anh em là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ khởi nghĩa chống lại chính quyền phong kiến thối nát, dẫn đầu phong trào Tây Sơn vang danh khắp cả nước. Không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc, ông còn là một vị vua có tư tưởng cải cách sâu sắc, chú trọng đến phát triển giáo dục, khoa cử và cải cách hành chính.

Tuy nhiên, điều đặc biệt và ít người biết đến là vua Quang Trung đã từng tự xưng là hậu duệ họ Hồ, một sự gắn kết tinh thần đặc biệt với tiền nhân – cụ thể là Hồ Quý Ly, vị vua sáng lập nhà Hồ cách ông hơn 400 năm.

Mối liên hệ giữa Nguyễn Huệ và họ Hồ – dấu ấn hậu duệ Hồ Quý Ly​

Mối liên hệ giữa Nguyễn Huệ và họ Hồ – dấu ấn hậu duệ Hồ Quý Ly

Dù mang họ Nguyễn do hoàn cảnh lịch sử và tên dòng tộc đương thời, nhưng Nguyễn Huệ nhiều lần trong các phát biểu và chiếu chỉ đã tự nhận là con cháu họ Hồ, nối dõi tinh thần cải cách và yêu nước của Hồ Quý Ly – người sáng lập vương triều nhà Hồ (1400–1407).

Theo các tài liệu của dòng họ Hồ cũng như ghi chép trong sách “Việt Nam sử lược”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” và gia phả họ Hồ tại Nghệ An, vua Quang Trung khi lên ngôi đã có những bước khẳng định nguồn gốc này:

  • Ông từng nói: “Ta là cháu chắt của Hồ Quý Ly, nay khôi phục cơ nghiệp tổ tiên bị mất bởi giặc Minh.”
  • Khi chọn niên hiệu “Quang Trung”, ông muốn nhấn mạnh thời kỳ “trung hưng”, phục quốc, tái lập trật tự xã hội như lý tưởng của tổ tiên mình.
  • Trong các chính sách cải cách, ông thể hiện rất rõ “dấu vết” của tư tưởng Hồ Quý Ly: hạn chế đặc quyền quý tộc, trọng dụng nhân tài, đổi mới giáo dục – điển hình là chính sách tổ chức thi cử bằng chữ Nôm.
Chính vì thế, dù lịch sử gọi ông là Nguyễn Huệ, nhưng trong tâm thức nhiều người họ Hồ, ông chính là “Hồ Quang Trung” – người tái sinh hào khí và lý tưởng của tổ tiên họ Hồ.

Dòng dõi và vùng đất tổ của họ Hồ​

Dòng họ Hồ vốn có gốc từ Hồ Hưng Dật, người phương Bắc đến định cư tại Nghệ An vào thế kỷ X – được xem là thủy tổ họ Hồ Việt Nam. Đến thời Hồ Quý Ly (1336–1407), họ Hồ đã trở thành một thế lực lớn, đủ sức lập nên một triều đại riêng.

Theo gia phả và nhiều bản chép tay cổ, Nguyễn Huệ là hậu duệ xa của chi họ Hồ di cư từ Nghệ An vào Nam trong thời kỳ Nam tiến. Vào thế kỷ XVII – XVIII, nhiều chi họ Hồ đã rời quê cha đất tổ để vào vùng Quy Nhơn, Bình Định lập nghiệp. Một trong các nhánh ấy được cho là tổ tiên của Nguyễn Huệ.

Dù tư liệu chính thống không đầy đủ để xác nhận mối quan hệ huyết thống trực tiếp giữa Nguyễn Huệ và Hồ Quý Ly, nhưng yếu tố “huyết thống tinh thần” là rất rõ ràng. Việc Nguyễn Huệ tự xưng họ Hồ không chỉ để khẳng định cội nguồn mà còn như một tuyên ngôn chính trị – tiếp nối di sản cải cách mà Hồ Quý Ly để lại.

Dấu ấn họ Hồ trong tư tưởng và chính trị của Quang Trung​

Dấu ấn họ Hồ trong tư tưởng và chính trị của Quang Trung

Trong thời gian trị vì ngắn ngủi (1788–1792), vua Quang Trung đã ban hành nhiều chính sách mang màu sắc cải cách, rất tương đồng với tư tưởng của Hồ Quý Ly trước đó:

  • Cải cách giáo dục: Quang Trung chủ trương tổ chức kỳ thi bằng chữ Nôm, nhằm tôn vinh chữ viết dân tộc, giảm ảnh hưởng của Hán học cũ kỹ. Đây là sự tiếp nối của Hồ Quý Ly, người từng đề xuất cải cách chữ viết, đưa chữ Nôm vào thi cử và hành chính.
  • Xây dựng chính quyền tập trung: Ông thành lập bộ máy hành chính hiệu quả, chống tham nhũng và quan liêu – những điểm từng được Hồ Quý Ly theo đuổi khi tổ chức lại triều đình nhà Trần.
  • Trọng dụng nhân tài và học vấn: Vua Quang Trung từng ra lệnh chọn lọc hiền tài, đào tạo lực lượng trí thức mới phục vụ đất nước – một chính sách tương đồng với đạo lý “chính trị nhân tài” mà Hồ Quý Ly từng theo đuổi.
Có thể nói, Nguyễn Huệ không chỉ mang “họ Hồ” về mặt danh xưng, mà còn tiếp thu và hiện thực hóa nhiều tư tưởng tiến bộ mà tiền nhân họ Hồ để lại – một sự tiếp nối có chiều sâu và mang giá trị lịch sử to lớn.

Biểu tượng tinh thần và niềm tự hào của dòng họ Hồ​

Việc vua Quang Trung tự nhận mình là hậu duệ họ Hồ mang ý nghĩa biểu tượng lớn lao đối với toàn thể dòng tộc họ Hồ tại Việt Nam. Từ Hồ Hưng Dật – người từ phương Bắc sang đất Việt – đến Hồ Quý Ly – nhà cải cách dũng cảm, rồi đến Nguyễn Huệ – vị vua anh hùng dân tộc, dòng chảy lịch sử ấy thể hiện rõ tinh thần:

  • Khai sáng và cải cách
  • Tự cường dân tộc
  • Gắn bó với vận mệnh đất nước
Ngày nay, trong các cuộc họp mặt họ Hồ toàn quốc, tại các đền thờ tổ hay kỷ yếu dòng họ, hình ảnh vua Quang Trung được nhắc đến với sự trân trọng sâu sắc. Nhiều nơi gọi ông là “Hồ Quang Trung” như một cách tôn vinh cội nguồn dòng họ và những giá trị mà ông đã hiện thực hóa.
 
Manh mối xuất hiện của dòng họ Hồ (Tây Sơn) trên đất Quy Nhơn - Bình Định xưa kia liên quan đến cuộc nội chiến khốc liệt trong lịch sử nước ta thời Trịnh - Nguyễn phân tranh thế kỷ 17. Bấy giờ quân Trịnh chiếm Đàng Ngoài, quân Nguyễn ở Đàng Trong. Hai bên giành đất, tranh dân, đánh nhau 7 lần trong khoảng 45 năm, tính từ trận đầu tiên năm 1627 đến trận cuối vào 1672. Khoảng thời gian này, họ Hồ đã có mặt trên đất Nghệ An (thuộc chúa Trịnh) từ 700 năm trước, mà ông tổ khai sáng là Trạng nguyên Hồ Hưng Dật.
Chúng tôi đã tiếp xúc với một số bà con họ Hồ ở miền Trung, miền Bắc, cũng như tại TP.HCM, và được cho xem nhiều tài liệu về gia phả, một số sử liệu và các tác phẩm liên quan. Trong số đó có cuốn Họ Hồ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam do Hồ Sĩ Giàng biên soạn đã tái bản đến lần thứ 7 bởi NXB Văn hóa thông tin và NXB Tổng hợp TP.HCM, được Ban liên lạc họ Hồ toàn quốc xem là “tiếng nói chính thức” phổ biến trong mỗi kỳ họp mặt. Trong cuốn sách có viết rõ: “Họ Hồ là họ lâu đời ở xứ Nghệ. Kể từ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật lập nghiệp ở hương Bào Đột (thuộc xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) đến nay đã trên 1.000 năm (…). Hồ Hưng Dật người Triết Giang. Triết Giang xưa (Ngô Việt) nằm trong dải đất Bách Việt, bị Hán tộc tràn xuống Hán hóa (là tộc Việt cuối cùng bị Hán hóa). Dân tộc Việt Nam là Lạc Việt (và là dân tộc) duy nhất không bị Hán hóa. Các nhà khảo cổ học, sử học đều xác nhận tổ tiên xa xưa của người Bách Việt và Lạc Việt có quan hệ mật thiết với nhau. Vậy Hồ Hưng Dật nguồn gốc là người tộc Việt thuộc phương Nam Trung Quốc (…) đã đặt chân đến Bào Đột (khoảng năm 947-951) xây dựng nền móng đầu tiên của dòng họ Hồ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Ông là “một trí thức lớn của thời đại ấy, đã đậu trạng nguyên, đã làm quan, nhưng đã lui về trở thành một nhân sĩ ẩn dật, gắn bó với nhân dân, không tranh bá đồ vương. Con cháu ông phát triển ở hai châu Hoan và Diễn (Nghệ An - Hà Tĩnh ngày nay - NV) và nhiều nơi trên đất nước”.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hồ Hưng Dật được cử sang làm thái thú ở châu Diễn, song: “cũng có thuyết cho rằng ông sang Giao Châu (Việt Nam) lánh nạn và được cử làm quan. Quốc sử triều Nguyễn viết ông trôi dạt và được làm quan ở châu Diễn. Thuyết này xét ra có phần hợp lý hơn”. Ông vốn đồng liêu với Đinh Công Trứ (thân sinh Đinh Bộ Lĩnh), vì thế Đinh Bộ Lĩnh có biết ông. Khi Đinh Bộ Lĩnh muốn dấy binh dẹp các sứ quân đã đến gặp Hồ Hưng Dật thăm dò xem ông có ý dấy quân hay không. Ông đã thổ lộ với Đinh Bộ Lĩnh chỉ mong làm tròn phận sự của người dân, “để cho Đinh Bộ Lĩnh yên lòng, ông giơ kiếm lên thề “Vạn đại vi dân”, nghĩa là vạn đời làm dân, hay vạn đời vì dân. Ông lo việc cày ruộng, chiêu mộ dân phiêu tán, lập ấp trại”.
Chính khoảng thời gian khói lửa tương tàn Trịnh - Nguyễn đang bốc cao ấy (1655 - 1657), hạt giống họ Hồ đã theo ngọn gió ly loạn bay tản về phía Nam. Trong số người bị quân Nguyễn đưa đi khai khẩn ruộng đất tại ấp Tây Sơn có Hồ Phi Khanh, là ông tổ 4 đời của anh em nhà Tây Sơn. Một tài liệu lịch sử ghi: “Lúc bấy giờ ở huyện Phù Ly, đất Quy Nhơn có người tên là Nguyễn Nhạc khởi binh (…). Nguyên ông tổ 4 đời của Nguyễn Nhạc là họ Hồ cùng một tổ với Hồ Quý Ly ngày trước, người ở huyện Hưng Nguyên, đất Nghệ An, gặp lúc chúa Trịnh, chúa Nguyễn đánh nhau, bị bắt đem vào ở ấp Tây Sơn thuộc đất Quy Nhơn. Đến đời ông thân sinh là Hồ Phi Phúc dời nhà sang ở ấp Kiên Thành, nay là làng Phú Lạc, huyện Tuy Viễn, sinh được 3 người con: trưởng là Nhạc, thứ là Lữ, thứ ba là Huệ”. Trần Đình Kỳ trong bài Quê mẹ nhà Tây Sơn viết rõ: “Các tài liệu đã công bố cũng đều cho rằng tổ tiên của các thủ lĩnh Tây Sơn vốn họ Hồ ở Nghệ An. Đến giữa thế kỷ 17, ông tổ 4 đời của Nguyễn Huệ bị chúa Nguyễn bắt vào Đàng Trong cùng với nhiều tù binh khác đưa đi khai hoang lập ấp ở vùng Tây Sơn thượng đạo (phủ Quy Nhơn). Đến đời ông Hồ Phi Phúc lấy vợ là Nguyễn Thị Đồng (sinh các anh em Hồ Thơm), chuyển về ở quê vợ tại làng Phú Lạc thuộc Tây Sơn hạ đạo, ký ngụ tại quê vợ, quê mẹ (nay thuộc Bình Định). Theo Đại Nam nhất thống chí, đây là tục lệ phổ biến của người Bình Định xưa (…). Phú Lạc trở thành quê hương thứ hai của dòng họ Hồ ở Đàng Trong”.
Rất nhiều tác giả khác như Hoa Bằng, nhà gia phả học Nguyễn Đức Dụ, nhà sử học Nguyễn Phương, nhà văn Văn Tân, nhà thơ Lê Minh Quốc (qua bộ sách Kể chuyện danh nhân Việt Nam), nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn, Phạm Văn Sơn (với các bài khảo về Tây Sơn) đều nhắc đến lai lịch họ Hồ (gốc Nghệ An) của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ. Vậy tại sao anh em họ Hồ lại đổi sang họ Nguyễn (là họ mẹ)?
Để trả lời, một số sự kiện lịch sử và bối cảnh thời trước đã được người họ Hồ thời nay dẫn chứng. Như chúa Nguyễn, hẳn nhiên phải để mắt chú ý đến các lưu dân đưa từ đất chúa Trịnh vào khai khẩn phía Nam. Quân Nguyễn không khỏi đề phòng tâm lý thù nghịch của các lưu dân bị đày xa xứ, bị đưa đi khai hoang ở chốn núi rừng xa lạ, vắng vẻ kia. Để tránh cặp mắt tập trung dò xét, nên khi khởi nghĩa, anh em Tây Sơn phải lấy họ mẹ (Nguyễn) thay vì họ gốc “mang sẵn” từ Nghệ An vào (Hồ). Việc thay tên đổi họ xét ra cũng chẳng lấy gì làm lạ, như Hồ Sĩ Giàng giải thích: “Có nơi, có lúc vì bị o ép, một số người phải đổi sang họ khác. Tuy vậy, chỉ có một số người thay tên đổi họ ở từng nơi, từng lúc, họ Hồ về cơ bản vẫn đứng vững. Có người đổi họ, gặp buổi hanh thông đã trở lại họ Hồ như Hồ Quý Ly (trước lấy họ Lê: Lê Quý Ly). Có người biết là dòng dõi họ Hồ nhưng vì nhiều lý do nên vẫn giữ họ mới đổi như trường hợp vua Quang Trung. Ngay cả gần đây, có một số người vì lý do chính trị phải đổi sang họ khác; nay đã trở lại họ Hồ như trường hợp ông Hồ Văn Phúc - con ông Hồ Văn An (ông An tham gia phong trào yêu nước của Nguyễn Thái Học, để trốn tránh sự truy lùng của thực dân Pháp đã đổi sang họ Nguyễn, nay hơn 50 năm, con ông đã lấy lại họ Hồ). Ngược lại, cũng có một số trường hợp vốn là họ Nguyễn, họ Hoàng… làm nghĩa tử cho họ Hồ (cháu ngoại) vì ơn sâu nghĩa nặng nên qua bao nhiêu đời vẫn giữ nguyên họ mẹ (Hồ). Một số người gốc họ Hồ, hoặc làm nghĩa tử, hoặc vì một lý do nào đó, đổi sang họ Nguyễn, họ Hà, họ Bùi, họ Mai, họ Vũ, họ Lê… nay vẫn giữ nguyên họ ấy”.
Riêng Nguyễn Huệ (Hồ Thơm) đổi họ đổi tên để tránh sự dò xét của quân Nguyễn vì đã từng là học trò cưng của một nhân sĩ có tư tưởng phản kháng đương thời là giáo Hiến. Giáo Hiến có người bạn rất thân, thuộc hàng “tứ trụ đại thần” (Nội hữu) dưới triều Võ Vương là Trương Văn Hạnh. Trương Văn Hạnh lúc bấy giờ chống lại sự lộng quyền của Trương Phúc Loan (cậu vua). Sau Trương Phúc Loan giết Trương Văn Hạnh, giáo Hiến thương tiếc người bạn tri kỷ, lại ngại sẽ có ngày đến lượt mình bị hại, nên đã bỏ Phú Xuân (Huế) vào sống ở ấp Yên Thái (Quy Nhơn), mở lớp dạy học. Trong số học trò có 3 anh em nhà Tây Sơn. Để tránh sự dòm ngó của quân Nguyễn lúc ban đầu khi thanh thế chưa lớn, có thể bất lợi, anh em Tây Sơn đổi từ họ Hồ sang họ Nguyễn. Điều này Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược nhận xét anh em ông Nhạc lúc đầu chiêu quân “mới lấy họ mẹ là Nguyễn để khởi sự cho dễ thu phục nhân tâm, vì rằng đất trong Nam thời ấy vẫn là đất của chúa Nguyễn!”.
[td]
Theo Bảo tàng Tây Sơn, tỉnh Bình Định, nguồn gốc gia tộc anh em Nhạc - Huệ - Lữ vốn dòng dõi họ Hồ ở Quỳnh Đôi, con cháu Hồ Thế Anh (còn gọi là Hồ Sĩ Anh, sinh 1618) trúng hội thi tam trường (tương đương phó bảng triều Nguyễn). Năm Vĩnh Thịnh thứ nhất đời Lê Thần Tông (1658) làm quan đến Hộ bộ Tả Thị Lang tước Diễn trạch hầu. Hồ Thế Anh sinh được 5 người con trai là Hồ Thế Viêm (sinh đồ), Hồ Phi Cơ (hội thi tam trường), Hồ Danh Lưu, Hồ Phi Tích (hoàng giáp) và Hồ Phi Đoan. Hồ Thế Viêm sinh Phi Khang.
Phi Khang sinh được 5 người con trai là Hồ Phi Trù, Hồ Phi Phú, Hồ Phi Thọ, Hồ Phi Phúc, Hồ Phi Huống. Từ Quỳnh Đôi, Hồ Thế Viêm dời nhà lên Nhân Lý (tức Nhân Sơn thuộc Quỳnh Hồng - Quỳnh Lưu Nghệ An), rồi lại đôn vào thôn Thái Lão, phủ Hưng Nguyên, Nghệ An. Từ Thái Lão, Hồ Phi Khang (nhiều sách chép là Hồ Phi Khanh), Hồ Phi Phúc di cư vào Đàng trong. Bước đầu làm ăn ở huyện Tuy Viễn (nay là huyện An Nhơn). Sau đó Hồ Phi Phúc lấy bà Nguyễn Thị Đồng ở Tây Sơn hạ sinh ra Nhạc, Huệ, Lữ và một gái út. Mộ của ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng còn di tích ở núi Long Cương thuộc làng Kiên Mỹ, Bình Khê, Bình Định.
Trích tài liệu của Hồ Sĩ Giàng
[/td]​
 
Giờ không còn Bình Định nữa là đúng rồi, khỏi bàn cãi :vozvn (7): Còn lại tao chờ thằng bản đồ nó vô đồ sát Huệ :vozvn (17):
 
pác là người tàu quang trung cũng là người tàu
bắc kỳ rất thích người tàu tôn thờ bố tàu
thần không ngại đánh chỉ sợ bắc kỳ mở cửa cho tàu vô

Giờ họ Hồ nhiều mà. Bò đỏ đó , nó cũng nói y chang Nguyễn Huệ vậy.
:vozvn (20)::vozvn (20)::vozvn (20)::vozvn (20)::vozvn (20)::vozvn (20):
dù người việt cũng phải giả bộ gốc tàu thờ tàu mới huy động được nguồn lực của sĩ phu bắc hà
 
Gì chứ chủ động đòi có mối quan hệ "phụ tử" với vua TQ thì xưa giờ VN có mỗi một người.
 
Tự nhận chứ biết thế nào được. Mà thời đại nào rồi quan trọng là làm được gì chứ con cháu ông nào là tư duy thời phong kiến rồi mấy ông sử gia đào lại làm Lồn
 

Có thể bạn quan tâm

Top