Live Xuyên suốt lịch sử VN ko có danh tướng chinh phạt nào giỏi cả nhỉ

Có Quạng Trụng Nguyện Huể đọ. Nếu ko tự dưng bị bệnh chết sớm thì ngài đã san bằng Trung Nguyên, đánh đến tận La Mã rồi đó. Sau đó ngài sẽ dùng tài trí của mình thực hiện cuộc duy tân, biến nước ta từ một nhà nước phong kiến lạc hậu thành 1 nước dân chủ có nền khoa học kỹ thuật hàng đầu thế giới. Mấy thằng Mỹ, Nhật lúc ấy còn ăn lông ở lỗ tuổi gì mà bằng được Nguyễn Huệ. - trích lời Thăng Long ti di
 
Mày có nói quá ko? mày biết chênh lệch của 10 vạn và 200 nó lớn cỡ nào ko?
Chịu, đéo hiểu nó kiếm cái số liệu 10 vạn quân đánh thành có 200 lính ở đâu? Đến bản thân tụi TQ cũng không xàm lồng đến vậy. Chi tiết bối cảnh dưới góc nhìn của bọn nó đây:

"Việt Nam cổ đại vốn luôn là một nước thuộc quốc (chư hầu) của Trung Quốc, đối nội tự xưng là "Hoa Hạ", đối ngoại danh xưng là "Nam Thiên Tiểu Trung Hoa" (Tiểu Trung Hoa phương Nam).

Tuy nhiên, "Tiểu Trung Hoa" nằm nép mình ở bán đảo Đông Dương này không phải lúc nào cũng cam tâm tình nguyện làm "đàn em". Nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam cổ đại có diện tích đất đai và dân số vô cùng hạn chế. Để mở rộng thế lực dưới hệ thống Hoa Hạ của Đông Á lúc bấy giờ, dù là tiến về phía Nam hay lên phía Bắc, họ đều không thể tránh khỏi việc thách thức trực diện vương triều Trung Nguyên.

Năm 979, Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa tự mình dẫn binh đánh bại Bắc Hán, cục diện Ngũ Đại Thập Quốc chấm dứt, đại bộ phận đất nước được thống nhất.

Thống nhất đất nước luôn là công trạng lưu danh thiên cổ của các bậc đế vương, nhưng Triệu Quang Nghĩa vẫn mang nặng tâm bệnh. Đại Tống lúc bấy giờ tuy đất đai bao la, nhưng "phía Bắc không được U Châu Kế Châu, phía Tây không được Tây Hạ, phía Nam không được Giao Chỉ". Các cuộc chiến tranh xoay quanh ba vùng đất này gần như là chủ âm xuyên suốt toàn bộ các cuộc chiến đối ngoại của triều Tống.

Trong đó, vùng Giao Chỉ ở phương Nam là đáng chú ý hơn cả. Trước nhà Tống, nơi đây là quận huyện của Trung Quốc trong một thời gian dài: nhà Hán đặt chức Giao Chỉ thứ sử, nhà Đường lập Giao Châu tổng quản. Nhưng khi Đại Đường bị phân rã bởi các phiên trấn, Trung Nguyên rơi vào cục diện phân liệt Ngũ Đại Thập Quốc, Giao Chỉ đã thừa cơ độc lập một phương. Đại Tống vốn tự coi mình là chính thống đương nhiên không muốn thừa nhận nền độc lập của Giao Chỉ, luôn xem Giao Chỉ là quận huyện, và coi sự tồn tại của Giao Chỉ như một vấn đề lịch sử để lại từ nạn cát cứ phiên trấn cuối thời Đường.

Tuy nhiên, Bắc Tống lúc đó định đô ở Biện Kinh, nằm ở Trung Nguyên, cách Giao Chỉ hơn 1500 km (chính xác là 1740km theo đường chim bay), quả thực là roi dài không tới (bất lực vì quá xa xôi). Ngược lại, chỉ cách biên giới Đại Liêu hơn 400 km, cường địch phương Bắc mới là thanh kiếm sắc treo lơ lửng trên đầu Đại Tống. Hơn nữa, lúc này triều đình nhà Tống còn nhận được một tin vui — tân quân của Đại Liêu, một đứa trẻ mới 12 tuổi sắp kế vị, và người nhiếp chính đứng sau là Tiêu Thái hậu.

Triệu Quang Nghĩa dĩ nhiên cực kỳ hứng thú với cặp mẹ góa con côi này, đây rất có thể là cơ hội cuối cùng trong đời vị hoàng đế này để thu phục Mười sáu châu Yến Vân.

Năm 986, Triệu Quang Nghĩa hạ lệnh cho ba đạo đại quân của Đại Tống đánh thẳng vào Đại Liêu, nhưng không ngờ lại bị Đại Liêu phản sát. Quân Tống bị cắt lương thảo và bao vây, buộc phải tháo chạy hỗn loạn. Cuối cùng đất không thu hồi được, quân Liêu còn dùng xác quân Tống xếp thành đống lớn để đắp "kinh quán" (gò xác người) nhằm uy hiếp Đại Tống.

Tin bại trận truyền về, Triệu Quang Nghĩa khóc lớn, đấm ngực giậm chân, chịu kích động nặng nề. Từ đó về sau, ông không còn chút hào hứng nào với việc binh đao nữa. Khi biết tin Giao Chỉ đang thừa cơ đục nước béo cò ở biên giới phương Nam, đốt phá cướp bóc, ông cũng chẳng còn sức lực để phản công, chỉ đành áp dụng chính sách vỗ về an ủi, và vào năm 993 đã sắc phong cho Lê Hoàn — người đang thực tế thống trị Giao Chỉ lúc bấy giờ — làm Giao Chỉ Quận vương.

Nhưng phong một Quận vương sao mà đủ, đối nội người ta vẫn tự xưng là Hoàng đế kia mà.
Lê Hoàn sau khi được sắc phong, tuy bề ngoài thần phục Đại Tống, nhưng vẫn liên tục tìm cớ quấy nhiễu vùng duyên hải phía Nam của Đại Tống.

Vào năm Chí Đạo, Lê Hoàn nhiều lần ra lệnh cho hơn 100 chiến thuyền và hơn 5000 người kéo đến biên giới Đại Tống để cướp bóc nhân khẩu và vật tư. Đại Tống không dám khinh suất động binh, bèn phái sứ giả đến gặp Lê Hoàn. Người Giao Chỉ lúc này vẫn hiểu rất rõ rằng, dù có thể xưng bá một thời ở phương Nam, nhưng nếu thực sự giao tranh với Đại Tống thì vẫn chịu thiệt, bèn biện minh rằng đây là do hải tặc làm, không liên quan gì đến Giao Chỉ, xin sứ giả trở về nói đỡ vài lời trước mặt hoàng đế.

Nhưng lời nói này còn có vế sau đầy ẩn ý: Nếu Giao Chỉ muốn phản lại Đại Tống, nhất định sẽ đánh Phiên Ngung (nay là vùng Quảng Châu) trước, sau đó chiếm gọn hai tỉnh Mân Việt (Quảng Đông, Phúc Kiến), chứ không thèm thỏa mãn với việc cướp bóc vài nơi nhỏ lẻ.

Năm 1005, Lê Hoàn băng hà, sau một cuộc nội chiến giành ngôi, con trai ông ta là Lê Long Đĩnh kế vị. Theo quy định, Lê Long Đĩnh phải đến trước mặt hoàng đế Đại Tống "trình diện" để xin sắc phong thì mới danh chính ngôn thuận. Kết quả là Lê Long Đĩnh vừa mới khuất bóng không lâu, Đại hiệu úy Lý Công Uẩn ở lại Giao Chỉ đã bèn soán ngôi, lại còn "hốt trọn ổ" cả nhà Lê Long Đĩnh.

Vương triều họ Triệu một lần nữa áp dụng thái độ không can thiệp, chỉ truyền đạt tin tức, bày ra tư thế khoanh tay đứng nhìn. Và không lâu sau đó, Đại Tống đã sắc phong Lý Công Uẩn làm Giao Chỉ Quận vương.

Kịch bản quen thuộc, hương vị quen thuộc. Vị Giao Chỉ Quận vương mới "quả nhiên" lại đi vào con đường đào chân tường của Đại Tống. Nhiều lần phái người đến Khâm Châu (nay thuộc Quảng Tây) và những nơi khác để cướp người cướp của. Triệu đình Đại Tống sau khi biết chuyện, trong cơn thịnh nộ... vẫn chọn cách nhẫn nhịn. Không lâu sau đó, Lý Công Uẩn còn được Đại Tống thăng phong làm Nam Bình vương.

Có thể nói nhà Lý do Lý Công Uẩn khai sáng có ý nghĩa vô cùng trọng đại, tồn tại kéo dài hơn 200 năm, và khai sáng truyền thống chính trị của quốc gia Việt Nam trên nhiều phương diện. Nếu ví nhà Lê (Tiền Lê) như nhà Tần, thì nhà Lý tương tự như nhà Hán.

Phạm tội mà lại được ban thưởng, điều này đã "khích lệ" mạnh mẽ vương triều nhà Lý ở Giao Chỉ. Sau khi Lý Công Uẩn qua đời, các con trai ông ta kế vị, sự quấy nhiễu của Giao Chỉ đối với nhà Tống liên tục leo thang, phát triển từ việc cướp người cướp của ban đầu thành tranh giành địa bàn. Đến thời Lý Thánh Tông tại vị, mối quan hệ giữa nhà Tống và Giao Chỉ đã mấp mé bên bờ vực sụp đổ, chỉ cần một mồi lửa là sẽ hoàn toàn bị kích nổ.

Người châm ngòi cho mồi lửa này chính là Vương An Thạch.

Sau "Biến pháp Vương An Thạch", cục diện tài chính và quân sự của Bắc Tống được cải thiện, Tống Thần Tông và Vương An Thạch bắt đầu áp dụng chính sách cứng rắn đối với Giao Chỉ. Vương An Thạch đề bạt Thẩm Khởi làm Tri châu Quế Châu (Quế Lâm), không lâu sau Lưu Di kế nhiệm. Hai vị này người sau còn cứng rắn hơn người trước, không chỉ chiêu mộ binh lính, huấn luyện thủy quân ở vùng Quế Châu (Quế Lâm), mà Lưu Di còn cắt đứt hoàn toàn giao thương với Giao Chỉ.

Nội bộ vương triều nhà Lý ở Giao Chỉ tranh luận gay gắt, người áp đảo quần thần là một hoạn quan — Lý Thường Kiệt, nhân vật lẫy lừng trong lịch sử Việt Nam. Người này xuất thân hiển hách, cha là Thái úy Giao Chỉ, thuộc hàng "con quan", không chỉ có tướng mạo anh tuấn, hiên ngang mà còn tinh thông binh pháp, cưỡi ngựa bắn cung, kế thừa nghiệp cha làm quân quan.

Về sau không rõ vì lý do gì, ông ta tịnh thân trở thành thái giám... nhưng điều đó không ảnh hưởng đến việc ông ta cầm quân đánh trận. Sau khi Giao Chỉ bắt được tín hiệu chuẩn bị chiến tranh của Đại Tống, Lý Thường Kiệt cho rằng, thay vì ngồi chờ bị đánh, chi bằng tiên phát chế nhân (ra tay trước để giành thế chủ động).

Vào tháng 11 năm Hy Ninh thứ 8 (1075), 10 vạn đại quân Giao Chỉ dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt chia làm hai đường tiến đánh Đại Tống: một đường đánh chiếm Khâm Châu và Liêm Châu (nay là Hợp Phố, Quảng Tây), đường còn lại đâm thẳng vào Ung Châu (nay là Nam Ninh, Quảng Tây).

Tuy nhiên, lúc này Đại Tống trên danh nghĩa vẫn là tông chủ của Giao Chỉ, việc phản binh không thể danh bất chính ngôn bất thuận. Thế là quân đội Giao Chỉ giương cao ngọn cờ "Thanh quân trắc" (dẹp kẻ gian cạnh vua), tuyên bố rằng phép Thanh Miêu của Vương An Thạch hại dân hại nước, Giao Chỉ đây là thay trời hành đạo. Triều đình Bắc Tống hoàn toàn không ngờ tới nước cờ này, phương Nam thiếu sự phòng bị nghiêm ngặt, chưa đầy mười ngày Khâm Châu và Liêm Châu thất thủ, hàng vạn người bị thảm sát. (tụi TQ thường nói là hơn 58.000 binh lính và thường dân)

Tháng 12 năm đó, 8 vạn quân Giao Chỉ bao vây thành Ung Châu, Tri phủ Ung Châu là Tô Giám dẫn dắt dân chúng chống trả, đồng thời chiêu mộ hơn 4000 người trong thành để chia nhau trấn giữ các nơi hiểm yếu. Do chênh lệch quân số quá lớn, các đồn lũy xung quanh thành Ung Châu lần lượt sụp đổ, Tô Giám cùng thuộc hạ tắm máu tử chiến, nhưng chung cuộc vẫn không tránh khỏi vận mệnh thành vỡ sau 42 ngày đêm kiên trì.

Trong trận chiến này, Thông phán Đường Tử Chính trận vong, Tri phủ Tô Giám bị thương nặng, ông đã tổ chức cho toàn bộ nam đinh trong gia đình tử chiến báo quốc, còn bản thân thì tự thiêu mà chết.

Hành vi bạo ngược của người Giao Chỉ và tình hình chiến sự thảm khốc ở Ung Châu truyền về Biện Kinh, triều dã Đại Tống chấn động. Năm 1076, triều đình ban bố 《Thảo Việt Nam sắc dụ》, điều động 10 vạn cấm quân tinh nhuệ đang trấn thủ ở vùng Sơn Tây, Thiểm Tây Nam hạ. Vào tháng thứ hai sau khi Ung Châu thất thủ, toán quân Tống đầu tiên đặt chân đến nơi, không lâu sau đó đã tập kết được 30 vạn quân cả nước tiến thẳng về Ung Châu để phản công.

Tướng quân Giao Chỉ là Lý Thường Kiệt hiểu rất rõ rằng việc sa lầy vào một cuộc chiến tranh toàn diện với Đại Tống sẽ bất lợi cho mình, bèn đề xuất thả những người dân Tống bị bắt làm tù binh để cầu hòa, đồng thời từng bước rút quân về nước.

Trong thực tế, khoảng cách từ Quế Châu đến tiếp viện Ung Châu tương đương với khoảng cách từ Thăng Long đánh tới Ung Châu. Phía nhà Lý gặp nhiều khó khăn hơn về mặt địa hình, trong khi nhà Tống phải vận chuyển nhiều tài nguyên từ phương Bắc đến Quế Châu trước. Áp lực hậu cần của cả hai bên đều vô cùng lớn.

Phía quân Tống, sau khi trải qua một vài lần điều chỉnh tướng lĩnh, đã hình thành nên một bộ chỉ huy cốt lõi với Quách Quỳ và Triệu Tiết làm trung tâm, truy kích quân Giao Chỉ đang rút lui, liên tiếp thu phục lại Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu, sĩ khí dâng cao.

Cuối năm 1076, sau khi chỉnh đốn và tập kết lực lượng, quân Tống phản công vào đất Giao Chỉ, tiến thẳng đến sông Phú Lương (nay là sông Hồng) để tiến hành trận quyết chiến. Tuy nhiên, dù là Giao Chỉ hay Đại Tống, các ghi chép về trận Phú Lương Giang đều có sự khác biệt rất lớn, chi tiết chỉ có thể khôi phục phần nào từ tài liệu lịch sử của hai nước Trung - Việt.

Vào tháng 12 năm đó, Quách Quỳ dẫn quân Tống tiếp cận hệ thống sông Phú Lương, trong đó sông Như Nguyệt thuộc hệ thống này là chiến tuyến tranh chấp chủ lực của đôi bên. Đối mặt với quân Tống đang muốn vượt sông, Lý Thường Kiệt chỉ huy hơn 400 chiến thuyền Giao Chỉ phòng thủ và mai phục dọc tuyến. Quân Tống bị thủy quân Giao Chỉ chiếm ưu thế địa lợi tấn công, thương vong hơn một ngàn người, buộc phải rút lui.

Hương vị chiến thắng khiến Lý Thường Kiệt vô cùng phấn chấn, để cổ vũ sĩ khí, ông đã đặc biệt ngâm bài thơ: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư, tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

Lý Thường Kiệt có lẽ không ngờ rằng, bài thơ ông ngâm năm ấy sau này lại được hậu thế tôn vinh là "Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của Việt Nam". Sau khi đề xuất chiến lược "Xoay trục sang châu Á - Thái Bình Dương", Obama đã đến thăm Việt Nam và đặc biệt đọc bài thơ này trong bài phát biểu để lấy lòng người dân Việt Nam.

Trở lại năm xưa, quân Giao Chỉ sau khi nghe xong bài thơ quả nhiên sĩ khí tăng vọt, suốt đêm vượt sông tập kích doanh trại quân Tống, quấy nhiễu quân Tống. Sau nhiều lần bị quấy rối, Quách Quỳ hạ lệnh cho quân Tống từng bước lui binh, dụ quân Giao Chỉ vào vòng vây nhằm tránh đối đầu trực diện gây tổn thất quá lớn.

Lý Thường Kiệt quả nhiên trúng kế, thấy quân Tống rút lui liền điều động đại quân thừa thắng truy kích, nhưng không ngờ lại bị quân Tống mai phục trong rừng núi bắn tên lạnh tập kích bất ngờ. Quân Giao Chỉ chịu thương vong thảm trọng bên sông Phú Lương, tàn quân phải rút về bờ Nam, quân Tống ép sát bờ Bắc, thiên hiểm sông Phú Lương trở thành ranh giới chung của hai quân.

Quân Tống nhanh chóng chuyển sang tác chiến vượt sông. Tuy nhiên, do phần lớn binh lính Tống đến từ phương Bắc, không hợp khí hậu và bị thủy thổ bất phục nghiêm trọng tại Việt Nam, cộng thêm việc nội bộ quân Tống thường xuyên xảy ra tình trạng tướng soái bất hòa, văn võ không hòa thuận dẫn đến đấu đá lẫn nhau, sức chiến đấu thực sự đã bị ảnh hưởng. Hơn nữa, việc hành quân từ Trung Nguyên đến Giao Chỉ khiến tuyến cung ứng quá dài, quân Tống lúc này đã ở vào thế "nỏ mạnh hết đà", sau vài phen cường công không hạ được thành cũng chỉ đành rút binh.

Mặc dù cuối cùng quân Tống rút lui, nhưng Giao Chỉ đã phải chịu tổn thất nặng nề. Trong đó, Thái tử Giao Chỉ trận vong. Việc Thái tử tử trận khiến người đang thống trị Giao Chỉ là Lý Càn Đức (Lý Nhân Tông) nhận ra không thể tiếp tục đánh nhau như vậy được nữa, cuối cùng đã dâng biểu tạ tội với nhà Tống. Về phía nhà Tống, cân nhắc đến sức chiến đấu của bản thân cũng đã cạn kiệt, lại thêm mối đe dọa phương Bắc luôn rình rập, cuối cùng Đại Tống đã chấp nhận biểu tạ tội của vương triều nhà Lý, hai bên nghị hòa và rút quân.

Trận chiến này ai thắng ai thua bèn trở thành một nghi án, để lại cho người đời sau phán xét.

Mười năm sau khi cuộc chiến Hy Ninh kết thúc, vào năm 1085, chiến sự của quân Tống chống lại Tây Hạ thất bại. Tin tức truyền về, Tống Thần Tông chịu kích động lớn về mặt tinh thần. Vị đế vương từng lập chí biến pháp đồ cường, tái lập thời Hán Đường này, khi nhận ra lý tưởng của mình đã tan vỡ, liền rơi vào cảnh u uất suốt ngày.

Cùng năm đó, Tống Thần Tông qua đời ở tuổi 38 cùng với lý tưởng của mình. Sự ra đi của Tống Thần Tông cũng vĩnh viễn mang đi dã tâm thu phục Giao Chỉ của Đại Tống.
 
Mày có nói quá ko? mày biết chênh lệch của 10 vạn và 200 nó lớn cỡ nào ko?
T ghi thiếu 1 số 0, 2000 lính, m có thể tra gg
Trong Tống Sử (quyển 446, mục Liệt truyện về các trung thần) : Ung Châu là trọng điểm nhưng binh lực lúc bấy giờ rất mỏng, quân số tại chỗ không đầy 3.000 người. Khi bị vây hãm, Tô Giám phải xuất hết tiền bạc, vải vóc trong kho để chiêu mộ dân phu, cưỡng bách trai tráng trong thành lên vách đá phòng thủ mới có thêm lực lượng ứng trực.

Chịu, đéo hiểu nó kiếm cái số liệu 10 vạn quân đánh thành có 200 lính ở đâu? Đến bản thân tụi TQ cũng không xàm lồng đến vậy. Chi tiết bối cảnh dưới góc nhìn của bọn nó đây:

"Việt Nam cổ đại vốn luôn là một nước thuộc quốc (chư hầu) của Trung Quốc, đối nội tự xưng là "Hoa Hạ", đối ngoại danh xưng là "Nam Thiên Tiểu Trung Hoa" (Tiểu Trung Hoa phương Nam).

Tuy nhiên, "Tiểu Trung Hoa" nằm nép mình ở bán đảo Đông Dương này không phải lúc nào cũng cam tâm tình nguyện làm "đàn em". Nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam cổ đại có diện tích đất đai và dân số vô cùng hạn chế. Để mở rộng thế lực dưới hệ thống Hoa Hạ của Đông Á lúc bấy giờ, dù là tiến về phía Nam hay lên phía Bắc, họ đều không thể tránh khỏi việc thách thức trực diện vương triều Trung Nguyên.

Năm 979, Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa tự mình dẫn binh đánh bại Bắc Hán, cục diện Ngũ Đại Thập Quốc chấm dứt, đại bộ phận đất nước được thống nhất.

Thống nhất đất nước luôn là công trạng lưu danh thiên cổ của các bậc đế vương, nhưng Triệu Quang Nghĩa vẫn mang nặng tâm bệnh. Đại Tống lúc bấy giờ tuy đất đai bao la, nhưng "phía Bắc không được U Châu Kế Châu, phía Tây không được Tây Hạ, phía Nam không được Giao Chỉ". Các cuộc chiến tranh xoay quanh ba vùng đất này gần như là chủ âm xuyên suốt toàn bộ các cuộc chiến đối ngoại của triều Tống.

Trong đó, vùng Giao Chỉ ở phương Nam là đáng chú ý hơn cả. Trước nhà Tống, nơi đây là quận huyện của Trung Quốc trong một thời gian dài: nhà Hán đặt chức Giao Chỉ thứ sử, nhà Đường lập Giao Châu tổng quản. Nhưng khi Đại Đường bị phân rã bởi các phiên trấn, Trung Nguyên rơi vào cục diện phân liệt Ngũ Đại Thập Quốc, Giao Chỉ đã thừa cơ độc lập một phương. Đại Tống vốn tự coi mình là chính thống đương nhiên không muốn thừa nhận nền độc lập của Giao Chỉ, luôn xem Giao Chỉ là quận huyện, và coi sự tồn tại của Giao Chỉ như một vấn đề lịch sử để lại từ nạn cát cứ phiên trấn cuối thời Đường.

Tuy nhiên, Bắc Tống lúc đó định đô ở Biện Kinh, nằm ở Trung Nguyên, cách Giao Chỉ hơn 1500 km (chính xác là 1740km theo đường chim bay), quả thực là roi dài không tới (bất lực vì quá xa xôi). Ngược lại, chỉ cách biên giới Đại Liêu hơn 400 km, cường địch phương Bắc mới là thanh kiếm sắc treo lơ lửng trên đầu Đại Tống. Hơn nữa, lúc này triều đình nhà Tống còn nhận được một tin vui — tân quân của Đại Liêu, một đứa trẻ mới 12 tuổi sắp kế vị, và người nhiếp chính đứng sau là Tiêu Thái hậu.

Triệu Quang Nghĩa dĩ nhiên cực kỳ hứng thú với cặp mẹ góa con côi này, đây rất có thể là cơ hội cuối cùng trong đời vị hoàng đế này để thu phục Mười sáu châu Yến Vân.

Năm 986, Triệu Quang Nghĩa hạ lệnh cho ba đạo đại quân của Đại Tống đánh thẳng vào Đại Liêu, nhưng không ngờ lại bị Đại Liêu phản sát. Quân Tống bị cắt lương thảo và bao vây, buộc phải tháo chạy hỗn loạn. Cuối cùng đất không thu hồi được, quân Liêu còn dùng xác quân Tống xếp thành đống lớn để đắp "kinh quán" (gò xác người) nhằm uy hiếp Đại Tống.

Tin bại trận truyền về, Triệu Quang Nghĩa khóc lớn, đấm ngực giậm chân, chịu kích động nặng nề. Từ đó về sau, ông không còn chút hào hứng nào với việc binh đao nữa. Khi biết tin Giao Chỉ đang thừa cơ đục nước béo cò ở biên giới phương Nam, đốt phá cướp bóc, ông cũng chẳng còn sức lực để phản công, chỉ đành áp dụng chính sách vỗ về an ủi, và vào năm 993 đã sắc phong cho Lê Hoàn — người đang thực tế thống trị Giao Chỉ lúc bấy giờ — làm Giao Chỉ Quận vương.

Nhưng phong một Quận vương sao mà đủ, đối nội người ta vẫn tự xưng là Hoàng đế kia mà.
Lê Hoàn sau khi được sắc phong, tuy bề ngoài thần phục Đại Tống, nhưng vẫn liên tục tìm cớ quấy nhiễu vùng duyên hải phía Nam của Đại Tống.

Vào năm Chí Đạo, Lê Hoàn nhiều lần ra lệnh cho hơn 100 chiến thuyền và hơn 5000 người kéo đến biên giới Đại Tống để cướp bóc nhân khẩu và vật tư. Đại Tống không dám khinh suất động binh, bèn phái sứ giả đến gặp Lê Hoàn. Người Giao Chỉ lúc này vẫn hiểu rất rõ rằng, dù có thể xưng bá một thời ở phương Nam, nhưng nếu thực sự giao tranh với Đại Tống thì vẫn chịu thiệt, bèn biện minh rằng đây là do hải tặc làm, không liên quan gì đến Giao Chỉ, xin sứ giả trở về nói đỡ vài lời trước mặt hoàng đế.

Nhưng lời nói này còn có vế sau đầy ẩn ý: Nếu Giao Chỉ muốn phản lại Đại Tống, nhất định sẽ đánh Phiên Ngung (nay là vùng Quảng Châu) trước, sau đó chiếm gọn hai tỉnh Mân Việt (Quảng Đông, Phúc Kiến), chứ không thèm thỏa mãn với việc cướp bóc vài nơi nhỏ lẻ.

Năm 1005, Lê Hoàn băng hà, sau một cuộc nội chiến giành ngôi, con trai ông ta là Lê Long Đĩnh kế vị. Theo quy định, Lê Long Đĩnh phải đến trước mặt hoàng đế Đại Tống "trình diện" để xin sắc phong thì mới danh chính ngôn thuận. Kết quả là Lê Long Đĩnh vừa mới khuất bóng không lâu, Đại hiệu úy Lý Công Uẩn ở lại Giao Chỉ đã bèn soán ngôi, lại còn "hốt trọn ổ" cả nhà Lê Long Đĩnh.

Vương triều họ Triệu một lần nữa áp dụng thái độ không can thiệp, chỉ truyền đạt tin tức, bày ra tư thế khoanh tay đứng nhìn. Và không lâu sau đó, Đại Tống đã sắc phong Lý Công Uẩn làm Giao Chỉ Quận vương.

Kịch bản quen thuộc, hương vị quen thuộc. Vị Giao Chỉ Quận vương mới "quả nhiên" lại đi vào con đường đào chân tường của Đại Tống. Nhiều lần phái người đến Khâm Châu (nay thuộc Quảng Tây) và những nơi khác để cướp người cướp của. Triệu đình Đại Tống sau khi biết chuyện, trong cơn thịnh nộ... vẫn chọn cách nhẫn nhịn. Không lâu sau đó, Lý Công Uẩn còn được Đại Tống thăng phong làm Nam Bình vương.

Có thể nói nhà Lý do Lý Công Uẩn khai sáng có ý nghĩa vô cùng trọng đại, tồn tại kéo dài hơn 200 năm, và khai sáng truyền thống chính trị của quốc gia Việt Nam trên nhiều phương diện. Nếu ví nhà Lê (Tiền Lê) như nhà Tần, thì nhà Lý tương tự như nhà Hán.

Phạm tội mà lại được ban thưởng, điều này đã "khích lệ" mạnh mẽ vương triều nhà Lý ở Giao Chỉ. Sau khi Lý Công Uẩn qua đời, các con trai ông ta kế vị, sự quấy nhiễu của Giao Chỉ đối với nhà Tống liên tục leo thang, phát triển từ việc cướp người cướp của ban đầu thành tranh giành địa bàn. Đến thời Lý Thánh Tông tại vị, mối quan hệ giữa nhà Tống và Giao Chỉ đã mấp mé bên bờ vực sụp đổ, chỉ cần một mồi lửa là sẽ hoàn toàn bị kích nổ.

Người châm ngòi cho mồi lửa này chính là Vương An Thạch.

Sau "Biến pháp Vương An Thạch", cục diện tài chính và quân sự của Bắc Tống được cải thiện, Tống Thần Tông và Vương An Thạch bắt đầu áp dụng chính sách cứng rắn đối với Giao Chỉ. Vương An Thạch đề bạt Thẩm Khởi làm Tri châu Quế Châu (Quế Lâm), không lâu sau Lưu Di kế nhiệm. Hai vị này người sau còn cứng rắn hơn người trước, không chỉ chiêu mộ binh lính, huấn luyện thủy quân ở vùng Quế Châu (Quế Lâm), mà Lưu Di còn cắt đứt hoàn toàn giao thương với Giao Chỉ.

Nội bộ vương triều nhà Lý ở Giao Chỉ tranh luận gay gắt, người áp đảo quần thần là một hoạn quan — Lý Thường Kiệt, nhân vật lẫy lừng trong lịch sử Việt Nam. Người này xuất thân hiển hách, cha là Thái úy Giao Chỉ, thuộc hàng "con quan", không chỉ có tướng mạo anh tuấn, hiên ngang mà còn tinh thông binh pháp, cưỡi ngựa bắn cung, kế thừa nghiệp cha làm quân quan.

Về sau không rõ vì lý do gì, ông ta tịnh thân trở thành thái giám... nhưng điều đó không ảnh hưởng đến việc ông ta cầm quân đánh trận. Sau khi Giao Chỉ bắt được tín hiệu chuẩn bị chiến tranh của Đại Tống, Lý Thường Kiệt cho rằng, thay vì ngồi chờ bị đánh, chi bằng tiên phát chế nhân (ra tay trước để giành thế chủ động).

Vào tháng 11 năm Hy Ninh thứ 8 (1075), 10 vạn đại quân Giao Chỉ dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt chia làm hai đường tiến đánh Đại Tống: một đường đánh chiếm Khâm Châu và Liêm Châu (nay là Hợp Phố, Quảng Tây), đường còn lại đâm thẳng vào Ung Châu (nay là Nam Ninh, Quảng Tây).

Tuy nhiên, lúc này Đại Tống trên danh nghĩa vẫn là tông chủ của Giao Chỉ, việc phản binh không thể danh bất chính ngôn bất thuận. Thế là quân đội Giao Chỉ giương cao ngọn cờ "Thanh quân trắc" (dẹp kẻ gian cạnh vua), tuyên bố rằng phép Thanh Miêu của Vương An Thạch hại dân hại nước, Giao Chỉ đây là thay trời hành đạo. Triều đình Bắc Tống hoàn toàn không ngờ tới nước cờ này, phương Nam thiếu sự phòng bị nghiêm ngặt, chưa đầy mười ngày Khâm Châu và Liêm Châu thất thủ, hàng vạn người bị thảm sát. (tụi TQ thường nói là hơn 58.000 binh lính và thường dân)

Tháng 12 năm đó, 8 vạn quân Giao Chỉ bao vây thành Ung Châu, Tri phủ Ung Châu là Tô Giám dẫn dắt dân chúng chống trả, đồng thời chiêu mộ hơn 4000 người trong thành để chia nhau trấn giữ các nơi hiểm yếu. Do chênh lệch quân số quá lớn, các đồn lũy xung quanh thành Ung Châu lần lượt sụp đổ, Tô Giám cùng thuộc hạ tắm máu tử chiến, nhưng chung cuộc vẫn không tránh khỏi vận mệnh thành vỡ sau 42 ngày đêm kiên trì.

Trong trận chiến này, Thông phán Đường Tử Chính trận vong, Tri phủ Tô Giám bị thương nặng, ông đã tổ chức cho toàn bộ nam đinh trong gia đình tử chiến báo quốc, còn bản thân thì tự thiêu mà chết.

Hành vi bạo ngược của người Giao Chỉ và tình hình chiến sự thảm khốc ở Ung Châu truyền về Biện Kinh, triều dã Đại Tống chấn động. Năm 1076, triều đình ban bố 《Thảo Việt Nam sắc dụ》, điều động 10 vạn cấm quân tinh nhuệ đang trấn thủ ở vùng Sơn Tây, Thiểm Tây Nam hạ. Vào tháng thứ hai sau khi Ung Châu thất thủ, toán quân Tống đầu tiên đặt chân đến nơi, không lâu sau đó đã tập kết được 30 vạn quân cả nước tiến thẳng về Ung Châu để phản công.

Tướng quân Giao Chỉ là Lý Thường Kiệt hiểu rất rõ rằng việc sa lầy vào một cuộc chiến tranh toàn diện với Đại Tống sẽ bất lợi cho mình, bèn đề xuất thả những người dân Tống bị bắt làm tù binh để cầu hòa, đồng thời từng bước rút quân về nước.

Trong thực tế, khoảng cách từ Quế Châu đến tiếp viện Ung Châu tương đương với khoảng cách từ Thăng Long đánh tới Ung Châu. Phía nhà Lý gặp nhiều khó khăn hơn về mặt địa hình, trong khi nhà Tống phải vận chuyển nhiều tài nguyên từ phương Bắc đến Quế Châu trước. Áp lực hậu cần của cả hai bên đều vô cùng lớn.

Phía quân Tống, sau khi trải qua một vài lần điều chỉnh tướng lĩnh, đã hình thành nên một bộ chỉ huy cốt lõi với Quách Quỳ và Triệu Tiết làm trung tâm, truy kích quân Giao Chỉ đang rút lui, liên tiếp thu phục lại Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu, sĩ khí dâng cao.

Cuối năm 1076, sau khi chỉnh đốn và tập kết lực lượng, quân Tống phản công vào đất Giao Chỉ, tiến thẳng đến sông Phú Lương (nay là sông Hồng) để tiến hành trận quyết chiến. Tuy nhiên, dù là Giao Chỉ hay Đại Tống, các ghi chép về trận Phú Lương Giang đều có sự khác biệt rất lớn, chi tiết chỉ có thể khôi phục phần nào từ tài liệu lịch sử của hai nước Trung - Việt.

Vào tháng 12 năm đó, Quách Quỳ dẫn quân Tống tiếp cận hệ thống sông Phú Lương, trong đó sông Như Nguyệt thuộc hệ thống này là chiến tuyến tranh chấp chủ lực của đôi bên. Đối mặt với quân Tống đang muốn vượt sông, Lý Thường Kiệt chỉ huy hơn 400 chiến thuyền Giao Chỉ phòng thủ và mai phục dọc tuyến. Quân Tống bị thủy quân Giao Chỉ chiếm ưu thế địa lợi tấn công, thương vong hơn một ngàn người, buộc phải rút lui.

Hương vị chiến thắng khiến Lý Thường Kiệt vô cùng phấn chấn, để cổ vũ sĩ khí, ông đã đặc biệt ngâm bài thơ: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư, tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

Lý Thường Kiệt có lẽ không ngờ rằng, bài thơ ông ngâm năm ấy sau này lại được hậu thế tôn vinh là "Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của Việt Nam". Sau khi đề xuất chiến lược "Xoay trục sang châu Á - Thái Bình Dương", Obama đã đến thăm Việt Nam và đặc biệt đọc bài thơ này trong bài phát biểu để lấy lòng người dân Việt Nam.

Trở lại năm xưa, quân Giao Chỉ sau khi nghe xong bài thơ quả nhiên sĩ khí tăng vọt, suốt đêm vượt sông tập kích doanh trại quân Tống, quấy nhiễu quân Tống. Sau nhiều lần bị quấy rối, Quách Quỳ hạ lệnh cho quân Tống từng bước lui binh, dụ quân Giao Chỉ vào vòng vây nhằm tránh đối đầu trực diện gây tổn thất quá lớn.

Lý Thường Kiệt quả nhiên trúng kế, thấy quân Tống rút lui liền điều động đại quân thừa thắng truy kích, nhưng không ngờ lại bị quân Tống mai phục trong rừng núi bắn tên lạnh tập kích bất ngờ. Quân Giao Chỉ chịu thương vong thảm trọng bên sông Phú Lương, tàn quân phải rút về bờ Nam, quân Tống ép sát bờ Bắc, thiên hiểm sông Phú Lương trở thành ranh giới chung của hai quân.

Quân Tống nhanh chóng chuyển sang tác chiến vượt sông. Tuy nhiên, do phần lớn binh lính Tống đến từ phương Bắc, không hợp khí hậu và bị thủy thổ bất phục nghiêm trọng tại Việt Nam, cộng thêm việc nội bộ quân Tống thường xuyên xảy ra tình trạng tướng soái bất hòa, văn võ không hòa thuận dẫn đến đấu đá lẫn nhau, sức chiến đấu thực sự đã bị ảnh hưởng. Hơn nữa, việc hành quân từ Trung Nguyên đến Giao Chỉ khiến tuyến cung ứng quá dài, quân Tống lúc này đã ở vào thế "nỏ mạnh hết đà", sau vài phen cường công không hạ được thành cũng chỉ đành rút binh.

Mặc dù cuối cùng quân Tống rút lui, nhưng Giao Chỉ đã phải chịu tổn thất nặng nề. Trong đó, Thái tử Giao Chỉ trận vong. Việc Thái tử tử trận khiến người đang thống trị Giao Chỉ là Lý Càn Đức (Lý Nhân Tông) nhận ra không thể tiếp tục đánh nhau như vậy được nữa, cuối cùng đã dâng biểu tạ tội với nhà Tống. Về phía nhà Tống, cân nhắc đến sức chiến đấu của bản thân cũng đã cạn kiệt, lại thêm mối đe dọa phương Bắc luôn rình rập, cuối cùng Đại Tống đã chấp nhận biểu tạ tội của vương triều nhà Lý, hai bên nghị hòa và rút quân.

Trận chiến này ai thắng ai thua bèn trở thành một nghi án, để lại cho người đời sau phán xét.

Mười năm sau khi cuộc chiến Hy Ninh kết thúc, vào năm 1085, chiến sự của quân Tống chống lại Tây Hạ thất bại. Tin tức truyền về, Tống Thần Tông chịu kích động lớn về mặt tinh thần. Vị đế vương từng lập chí biến pháp đồ cường, tái lập thời Hán Đường này, khi nhận ra lý tưởng của mình đã tan vỡ, liền rơi vào cảnh u uất suốt ngày.

Cùng năm đó, Tống Thần Tông qua đời ở tuổi 38 cùng với lý tưởng của mình. Sự ra đi của Tống Thần Tông cũng vĩnh viễn mang đi dã tâm thu phục Giao Chỉ của Đại Tống.
Thêm thằng ngu này, t ghi sót 1 số 0, là 2000, và tô giám thủ thành đc 42 ngày
 
T ghi thiếu 1 số 0, 2000 lính, m có thể tra gg


Thêm thằng ngu này, t ghi sót 1 số 0, là 2000, và tô giám thủ thành đc 42 ngày
Ngay chính bọn TQ nó còn ghi số lượng quân gấp đôi của mày !

Tháng 12 năm đó, 8 vạn quân Giao Chỉ bao vây thành Ung Châu, Tri phủ Ung Châu là Tô Giám dẫn dắt dân chúng chống trả, đồng thời chiêu mộ hơn 4000 người trong thành để chia nhau trấn giữ các nơi hiểm yếu. Do chênh lệch quân số quá lớn, các đồn lũy xung quanh thành Ung Châu lần lượt sụp đổ, Tô Giám cùng thuộc hạ tắm máu tử chiến, nhưng chung cuộc vẫn không tránh khỏi vận mệnh thành vỡ sau 42 ngày đêm kiên trì.
 
T có thắc mắc Vn thì khí hậu ôn hòa, nông lâm sản nhiều, lúa nước 3 vụ, lại tiếp giáp biển, nhưng bọn TQ đéo coi trọng xem là mandi khác tộc nhưng dân bách việt còn giống dân hán hơn đám phương bắc. Sao đéo thôn tính đồng hóa và biến thành dân hán luôn nhỉ ?
Chính việc coi thường man di chỉ chăm chăm vơ vét chắc cũng phân hạng như thời nhà Nguyên nên dân ta cứ vùng lên đòi độc lập, chứ đối xử công bằng thì chắc đéo có chuyện đòi thoát đô hộ thường xuyên vậy đâu.
 
T có thắc mắc Vn thì khí hậu ôn hòa, nông lâm sản nhiều, lúa nước 3 vụ, lại tiếp giáp biển, nhưng bọn TQ đéo coi trọng xem là mandi khác tộc nhưng dân bách việt còn giống dân hán hơn đám phương bắc. Sao đéo thôn tính đồng hóa và biến thành dân hán luôn nhỉ ?
Chính việc coi thường man di chỉ chăm chăm vơ vét chắc cũng phân hạng như thời nhà Nguyên nên dân ta cứ vùng lên đòi độc lập, chứ đối xử công bằng thì chắc đéo có chuyện đòi thoát đô hộ thường xuyên vậy đâu.
Vì vốn dĩ nó coi là mandi, mọi rợ thì sao đối xử ngang hàng đc, giờ kinh thượng cùng 1 nước mà còn khinh miệt phân biệt nhau như chó mà đòi bọn hoa hạ đối xu tốt vs dân nam
 
Toàn tướng thủ nhà, mà như tụi mày đã biết, nếu 2 bên sức mạnh tương đương nhau thì bên thủ nhà luôn lợi thế gấp 5 lần bên đi công.
1 số tướng tài trong việc chinh phạt thì chỉ có cỡ Lý Thường Kiệt-cầm 10 vạn quân đánh cái thành có 2000 lính trong 1 tháng mới đổ, thiệt mất mấy vạn quân. Case này thì vui vì củ hành đc thằng Tống, chứ về mặt quân sự thì quá phèn.
Thứ 2 là Lê Thánh Tông trong chiến dịch bình chiêm, đem 25 vạn quân tinh nhuệ (chắc là tính cả phu vì sử việt toàn cộng gộp) lương thảo và vũ khí, nón giáp trang bị tận răng đánh với thằng chiêm hậu thời Chế Bồng Nga quân vừa ít (tầm 10 vạn) mà trang bị còn ko đầy đủ do nghèo, quân cũng kém tinh nhuệ hơn hẳn quân đại việt, dù trận này đích thân Lê Thánh Tông cầm quân chinh phạt nhưng nói thẳng là tương quan sức mạnh 2 bên quá chênh lệch nên cũng chưa tỏ rõ tài năng gì ở đây. Nhưng dù sao thì đây cũng là lần chinh phạt hiển hách nhất trong lịch sử VN rồi, đại việt tiêu diệt gần hết lính chính quy Chiêm Thành, bắt 30k nô lệ chiêm thành mang về, phá hủy kinh đô chà bàn và nhiều khu sầm uất của chiêm thành, khiến chiêm từ đó về sau ko thể hồi phục lại đc. Lê Thánh Tông còn có cả chiến dịch đánh tiêu diệt Bồn Man và Lan Xang bằng 18 vạn quân, nhưng cũng dùng chênh lệch quân sự đè bẹp là chính, và chiến dịch này ko hiển hách bằng chiến dịch đánh chiêm
Dù công tâm thì có thể khẳng định Lê Thánh Tông vẫn là top 1 chinh phạt của nước ta, nhưng những chiến công này thì cũng là nhờ chênh lệch quốc lực và sức mạnh quân đội 2 bên quá lớn chứ cũng chưa nói lên tài năng cầm quân cho lắm
Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, lực lượng nghĩa quân đã giành quyền kiểm soát cả Hợp Phố. Vì vậy, trong sử liệu Việt Nam, Hợp Phố được coi là một phần lãnh thổ mà Hai Bà Trưng đã khôi phục độc lập. Về mặt địa lý hiện nay, Hợp Phố thuộc Khựa. Nhưng trong bối cảnh lịch sử đầu Công nguyên, nó là một quận nằm trong hệ thống cai trị của nhà Hán ở đất Việt cổ. Sau khi nhà Hán thôn tính Nam Việt (năm 111 TCN) thì Nam Việt bị chia thành các quận trong đó có Hợp Phố. Về mặt hành chính, Hợp Phố thuộc hệ thống quận huyện của Khựa cổ. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Hợp Phố trở thành một phần lãnh thổ được giải phóng.
 
Thế mà lên toktok tụi nó cứ so sánh với hạng vũ và triệu tử long trong khi sử nhà toàn bịa, cũng đéo thấy trận đánh thực tế nào
Triệu Tử Long chỉ là tổ trưởng tổ vệ sĩ chứ có phải tướng đéo đâu. Tuổi gì so sánh với Hạng Vũ và các tướng cầm quân được.
Cũng may nhờ vậy mà Triệu Vân được lưu danh sử sách, chứ đi cầm quân đánh trận chính quy thì tên tuổi nát bét rồi.
 
Chịu, đéo hiểu nó kiếm cái số liệu 10 vạn quân đánh thành có 200 lính ở đâu? Đến bản thân tụi TQ cũng không xàm lồng đến vậy. Chi tiết bối cảnh dưới góc nhìn của bọn nó đây:

"Việt Nam cổ đại vốn luôn là một nước thuộc quốc (chư hầu) của Trung Quốc, đối nội tự xưng là "Hoa Hạ", đối ngoại danh xưng là "Nam Thiên Tiểu Trung Hoa" (Tiểu Trung Hoa phương Nam).

Tuy nhiên, "Tiểu Trung Hoa" nằm nép mình ở bán đảo Đông Dương này không phải lúc nào cũng cam tâm tình nguyện làm "đàn em". Nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam cổ đại có diện tích đất đai và dân số vô cùng hạn chế. Để mở rộng thế lực dưới hệ thống Hoa Hạ của Đông Á lúc bấy giờ, dù là tiến về phía Nam hay lên phía Bắc, họ đều không thể tránh khỏi việc thách thức trực diện vương triều Trung Nguyên.

Năm 979, Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa tự mình dẫn binh đánh bại Bắc Hán, cục diện Ngũ Đại Thập Quốc chấm dứt, đại bộ phận đất nước được thống nhất.

Thống nhất đất nước luôn là công trạng lưu danh thiên cổ của các bậc đế vương, nhưng Triệu Quang Nghĩa vẫn mang nặng tâm bệnh. Đại Tống lúc bấy giờ tuy đất đai bao la, nhưng "phía Bắc không được U Châu Kế Châu, phía Tây không được Tây Hạ, phía Nam không được Giao Chỉ". Các cuộc chiến tranh xoay quanh ba vùng đất này gần như là chủ âm xuyên suốt toàn bộ các cuộc chiến đối ngoại của triều Tống.

Trong đó, vùng Giao Chỉ ở phương Nam là đáng chú ý hơn cả. Trước nhà Tống, nơi đây là quận huyện của Trung Quốc trong một thời gian dài: nhà Hán đặt chức Giao Chỉ thứ sử, nhà Đường lập Giao Châu tổng quản. Nhưng khi Đại Đường bị phân rã bởi các phiên trấn, Trung Nguyên rơi vào cục diện phân liệt Ngũ Đại Thập Quốc, Giao Chỉ đã thừa cơ độc lập một phương. Đại Tống vốn tự coi mình là chính thống đương nhiên không muốn thừa nhận nền độc lập của Giao Chỉ, luôn xem Giao Chỉ là quận huyện, và coi sự tồn tại của Giao Chỉ như một vấn đề lịch sử để lại từ nạn cát cứ phiên trấn cuối thời Đường.

Tuy nhiên, Bắc Tống lúc đó định đô ở Biện Kinh, nằm ở Trung Nguyên, cách Giao Chỉ hơn 1500 km (chính xác là 1740km theo đường chim bay), quả thực là roi dài không tới (bất lực vì quá xa xôi). Ngược lại, chỉ cách biên giới Đại Liêu hơn 400 km, cường địch phương Bắc mới là thanh kiếm sắc treo lơ lửng trên đầu Đại Tống. Hơn nữa, lúc này triều đình nhà Tống còn nhận được một tin vui — tân quân của Đại Liêu, một đứa trẻ mới 12 tuổi sắp kế vị, và người nhiếp chính đứng sau là Tiêu Thái hậu.

Triệu Quang Nghĩa dĩ nhiên cực kỳ hứng thú với cặp mẹ góa con côi này, đây rất có thể là cơ hội cuối cùng trong đời vị hoàng đế này để thu phục Mười sáu châu Yến Vân.

Năm 986, Triệu Quang Nghĩa hạ lệnh cho ba đạo đại quân của Đại Tống đánh thẳng vào Đại Liêu, nhưng không ngờ lại bị Đại Liêu phản sát. Quân Tống bị cắt lương thảo và bao vây, buộc phải tháo chạy hỗn loạn. Cuối cùng đất không thu hồi được, quân Liêu còn dùng xác quân Tống xếp thành đống lớn để đắp "kinh quán" (gò xác người) nhằm uy hiếp Đại Tống.

Tin bại trận truyền về, Triệu Quang Nghĩa khóc lớn, đấm ngực giậm chân, chịu kích động nặng nề. Từ đó về sau, ông không còn chút hào hứng nào với việc binh đao nữa. Khi biết tin Giao Chỉ đang thừa cơ đục nước béo cò ở biên giới phương Nam, đốt phá cướp bóc, ông cũng chẳng còn sức lực để phản công, chỉ đành áp dụng chính sách vỗ về an ủi, và vào năm 993 đã sắc phong cho Lê Hoàn — người đang thực tế thống trị Giao Chỉ lúc bấy giờ — làm Giao Chỉ Quận vương.

Nhưng phong một Quận vương sao mà đủ, đối nội người ta vẫn tự xưng là Hoàng đế kia mà.
Lê Hoàn sau khi được sắc phong, tuy bề ngoài thần phục Đại Tống, nhưng vẫn liên tục tìm cớ quấy nhiễu vùng duyên hải phía Nam của Đại Tống.

Vào năm Chí Đạo, Lê Hoàn nhiều lần ra lệnh cho hơn 100 chiến thuyền và hơn 5000 người kéo đến biên giới Đại Tống để cướp bóc nhân khẩu và vật tư. Đại Tống không dám khinh suất động binh, bèn phái sứ giả đến gặp Lê Hoàn. Người Giao Chỉ lúc này vẫn hiểu rất rõ rằng, dù có thể xưng bá một thời ở phương Nam, nhưng nếu thực sự giao tranh với Đại Tống thì vẫn chịu thiệt, bèn biện minh rằng đây là do hải tặc làm, không liên quan gì đến Giao Chỉ, xin sứ giả trở về nói đỡ vài lời trước mặt hoàng đế.

Nhưng lời nói này còn có vế sau đầy ẩn ý: Nếu Giao Chỉ muốn phản lại Đại Tống, nhất định sẽ đánh Phiên Ngung (nay là vùng Quảng Châu) trước, sau đó chiếm gọn hai tỉnh Mân Việt (Quảng Đông, Phúc Kiến), chứ không thèm thỏa mãn với việc cướp bóc vài nơi nhỏ lẻ.

Năm 1005, Lê Hoàn băng hà, sau một cuộc nội chiến giành ngôi, con trai ông ta là Lê Long Đĩnh kế vị. Theo quy định, Lê Long Đĩnh phải đến trước mặt hoàng đế Đại Tống "trình diện" để xin sắc phong thì mới danh chính ngôn thuận. Kết quả là Lê Long Đĩnh vừa mới khuất bóng không lâu, Đại hiệu úy Lý Công Uẩn ở lại Giao Chỉ đã bèn soán ngôi, lại còn "hốt trọn ổ" cả nhà Lê Long Đĩnh.

Vương triều họ Triệu một lần nữa áp dụng thái độ không can thiệp, chỉ truyền đạt tin tức, bày ra tư thế khoanh tay đứng nhìn. Và không lâu sau đó, Đại Tống đã sắc phong Lý Công Uẩn làm Giao Chỉ Quận vương.

Kịch bản quen thuộc, hương vị quen thuộc. Vị Giao Chỉ Quận vương mới "quả nhiên" lại đi vào con đường đào chân tường của Đại Tống. Nhiều lần phái người đến Khâm Châu (nay thuộc Quảng Tây) và những nơi khác để cướp người cướp của. Triệu đình Đại Tống sau khi biết chuyện, trong cơn thịnh nộ... vẫn chọn cách nhẫn nhịn. Không lâu sau đó, Lý Công Uẩn còn được Đại Tống thăng phong làm Nam Bình vương.

Có thể nói nhà Lý do Lý Công Uẩn khai sáng có ý nghĩa vô cùng trọng đại, tồn tại kéo dài hơn 200 năm, và khai sáng truyền thống chính trị của quốc gia Việt Nam trên nhiều phương diện. Nếu ví nhà Lê (Tiền Lê) như nhà Tần, thì nhà Lý tương tự như nhà Hán.

Phạm tội mà lại được ban thưởng, điều này đã "khích lệ" mạnh mẽ vương triều nhà Lý ở Giao Chỉ. Sau khi Lý Công Uẩn qua đời, các con trai ông ta kế vị, sự quấy nhiễu của Giao Chỉ đối với nhà Tống liên tục leo thang, phát triển từ việc cướp người cướp của ban đầu thành tranh giành địa bàn. Đến thời Lý Thánh Tông tại vị, mối quan hệ giữa nhà Tống và Giao Chỉ đã mấp mé bên bờ vực sụp đổ, chỉ cần một mồi lửa là sẽ hoàn toàn bị kích nổ.

Người châm ngòi cho mồi lửa này chính là Vương An Thạch.

Sau "Biến pháp Vương An Thạch", cục diện tài chính và quân sự của Bắc Tống được cải thiện, Tống Thần Tông và Vương An Thạch bắt đầu áp dụng chính sách cứng rắn đối với Giao Chỉ. Vương An Thạch đề bạt Thẩm Khởi làm Tri châu Quế Châu (Quế Lâm), không lâu sau Lưu Di kế nhiệm. Hai vị này người sau còn cứng rắn hơn người trước, không chỉ chiêu mộ binh lính, huấn luyện thủy quân ở vùng Quế Châu (Quế Lâm), mà Lưu Di còn cắt đứt hoàn toàn giao thương với Giao Chỉ.

Nội bộ vương triều nhà Lý ở Giao Chỉ tranh luận gay gắt, người áp đảo quần thần là một hoạn quan — Lý Thường Kiệt, nhân vật lẫy lừng trong lịch sử Việt Nam. Người này xuất thân hiển hách, cha là Thái úy Giao Chỉ, thuộc hàng "con quan", không chỉ có tướng mạo anh tuấn, hiên ngang mà còn tinh thông binh pháp, cưỡi ngựa bắn cung, kế thừa nghiệp cha làm quân quan.

Về sau không rõ vì lý do gì, ông ta tịnh thân trở thành thái giám... nhưng điều đó không ảnh hưởng đến việc ông ta cầm quân đánh trận. Sau khi Giao Chỉ bắt được tín hiệu chuẩn bị chiến tranh của Đại Tống, Lý Thường Kiệt cho rằng, thay vì ngồi chờ bị đánh, chi bằng tiên phát chế nhân (ra tay trước để giành thế chủ động).

Vào tháng 11 năm Hy Ninh thứ 8 (1075), 10 vạn đại quân Giao Chỉ dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt chia làm hai đường tiến đánh Đại Tống: một đường đánh chiếm Khâm Châu và Liêm Châu (nay là Hợp Phố, Quảng Tây), đường còn lại đâm thẳng vào Ung Châu (nay là Nam Ninh, Quảng Tây).

Tuy nhiên, lúc này Đại Tống trên danh nghĩa vẫn là tông chủ của Giao Chỉ, việc phản binh không thể danh bất chính ngôn bất thuận. Thế là quân đội Giao Chỉ giương cao ngọn cờ "Thanh quân trắc" (dẹp kẻ gian cạnh vua), tuyên bố rằng phép Thanh Miêu của Vương An Thạch hại dân hại nước, Giao Chỉ đây là thay trời hành đạo. Triều đình Bắc Tống hoàn toàn không ngờ tới nước cờ này, phương Nam thiếu sự phòng bị nghiêm ngặt, chưa đầy mười ngày Khâm Châu và Liêm Châu thất thủ, hàng vạn người bị thảm sát. (tụi TQ thường nói là hơn 58.000 binh lính và thường dân)

Tháng 12 năm đó, 8 vạn quân Giao Chỉ bao vây thành Ung Châu, Tri phủ Ung Châu là Tô Giám dẫn dắt dân chúng chống trả, đồng thời chiêu mộ hơn 4000 người trong thành để chia nhau trấn giữ các nơi hiểm yếu. Do chênh lệch quân số quá lớn, các đồn lũy xung quanh thành Ung Châu lần lượt sụp đổ, Tô Giám cùng thuộc hạ tắm máu tử chiến, nhưng chung cuộc vẫn không tránh khỏi vận mệnh thành vỡ sau 42 ngày đêm kiên trì.

Trong trận chiến này, Thông phán Đường Tử Chính trận vong, Tri phủ Tô Giám bị thương nặng, ông đã tổ chức cho toàn bộ nam đinh trong gia đình tử chiến báo quốc, còn bản thân thì tự thiêu mà chết.

Hành vi bạo ngược của người Giao Chỉ và tình hình chiến sự thảm khốc ở Ung Châu truyền về Biện Kinh, triều dã Đại Tống chấn động. Năm 1076, triều đình ban bố 《Thảo Việt Nam sắc dụ》, điều động 10 vạn cấm quân tinh nhuệ đang trấn thủ ở vùng Sơn Tây, Thiểm Tây Nam hạ. Vào tháng thứ hai sau khi Ung Châu thất thủ, toán quân Tống đầu tiên đặt chân đến nơi, không lâu sau đó đã tập kết được 30 vạn quân cả nước tiến thẳng về Ung Châu để phản công.

Tướng quân Giao Chỉ là Lý Thường Kiệt hiểu rất rõ rằng việc sa lầy vào một cuộc chiến tranh toàn diện với Đại Tống sẽ bất lợi cho mình, bèn đề xuất thả những người dân Tống bị bắt làm tù binh để cầu hòa, đồng thời từng bước rút quân về nước.

Trong thực tế, khoảng cách từ Quế Châu đến tiếp viện Ung Châu tương đương với khoảng cách từ Thăng Long đánh tới Ung Châu. Phía nhà Lý gặp nhiều khó khăn hơn về mặt địa hình, trong khi nhà Tống phải vận chuyển nhiều tài nguyên từ phương Bắc đến Quế Châu trước. Áp lực hậu cần của cả hai bên đều vô cùng lớn.

Phía quân Tống, sau khi trải qua một vài lần điều chỉnh tướng lĩnh, đã hình thành nên một bộ chỉ huy cốt lõi với Quách Quỳ và Triệu Tiết làm trung tâm, truy kích quân Giao Chỉ đang rút lui, liên tiếp thu phục lại Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu, sĩ khí dâng cao.

Cuối năm 1076, sau khi chỉnh đốn và tập kết lực lượng, quân Tống phản công vào đất Giao Chỉ, tiến thẳng đến sông Phú Lương (nay là sông Hồng) để tiến hành trận quyết chiến. Tuy nhiên, dù là Giao Chỉ hay Đại Tống, các ghi chép về trận Phú Lương Giang đều có sự khác biệt rất lớn, chi tiết chỉ có thể khôi phục phần nào từ tài liệu lịch sử của hai nước Trung - Việt.

Vào tháng 12 năm đó, Quách Quỳ dẫn quân Tống tiếp cận hệ thống sông Phú Lương, trong đó sông Như Nguyệt thuộc hệ thống này là chiến tuyến tranh chấp chủ lực của đôi bên. Đối mặt với quân Tống đang muốn vượt sông, Lý Thường Kiệt chỉ huy hơn 400 chiến thuyền Giao Chỉ phòng thủ và mai phục dọc tuyến. Quân Tống bị thủy quân Giao Chỉ chiếm ưu thế địa lợi tấn công, thương vong hơn một ngàn người, buộc phải rút lui.

Hương vị chiến thắng khiến Lý Thường Kiệt vô cùng phấn chấn, để cổ vũ sĩ khí, ông đã đặc biệt ngâm bài thơ: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư, tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."

Lý Thường Kiệt có lẽ không ngờ rằng, bài thơ ông ngâm năm ấy sau này lại được hậu thế tôn vinh là "Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của Việt Nam". Sau khi đề xuất chiến lược "Xoay trục sang châu Á - Thái Bình Dương", Obama đã đến thăm Việt Nam và đặc biệt đọc bài thơ này trong bài phát biểu để lấy lòng người dân Việt Nam.

Trở lại năm xưa, quân Giao Chỉ sau khi nghe xong bài thơ quả nhiên sĩ khí tăng vọt, suốt đêm vượt sông tập kích doanh trại quân Tống, quấy nhiễu quân Tống. Sau nhiều lần bị quấy rối, Quách Quỳ hạ lệnh cho quân Tống từng bước lui binh, dụ quân Giao Chỉ vào vòng vây nhằm tránh đối đầu trực diện gây tổn thất quá lớn.

Lý Thường Kiệt quả nhiên trúng kế, thấy quân Tống rút lui liền điều động đại quân thừa thắng truy kích, nhưng không ngờ lại bị quân Tống mai phục trong rừng núi bắn tên lạnh tập kích bất ngờ. Quân Giao Chỉ chịu thương vong thảm trọng bên sông Phú Lương, tàn quân phải rút về bờ Nam, quân Tống ép sát bờ Bắc, thiên hiểm sông Phú Lương trở thành ranh giới chung của hai quân.

Quân Tống nhanh chóng chuyển sang tác chiến vượt sông. Tuy nhiên, do phần lớn binh lính Tống đến từ phương Bắc, không hợp khí hậu và bị thủy thổ bất phục nghiêm trọng tại Việt Nam, cộng thêm việc nội bộ quân Tống thường xuyên xảy ra tình trạng tướng soái bất hòa, văn võ không hòa thuận dẫn đến đấu đá lẫn nhau, sức chiến đấu thực sự đã bị ảnh hưởng. Hơn nữa, việc hành quân từ Trung Nguyên đến Giao Chỉ khiến tuyến cung ứng quá dài, quân Tống lúc này đã ở vào thế "nỏ mạnh hết đà", sau vài phen cường công không hạ được thành cũng chỉ đành rút binh.

Mặc dù cuối cùng quân Tống rút lui, nhưng Giao Chỉ đã phải chịu tổn thất nặng nề. Trong đó, Thái tử Giao Chỉ trận vong. Việc Thái tử tử trận khiến người đang thống trị Giao Chỉ là Lý Càn Đức (Lý Nhân Tông) nhận ra không thể tiếp tục đánh nhau như vậy được nữa, cuối cùng đã dâng biểu tạ tội với nhà Tống. Về phía nhà Tống, cân nhắc đến sức chiến đấu của bản thân cũng đã cạn kiệt, lại thêm mối đe dọa phương Bắc luôn rình rập, cuối cùng Đại Tống đã chấp nhận biểu tạ tội của vương triều nhà Lý, hai bên nghị hòa và rút quân.

Trận chiến này ai thắng ai thua bèn trở thành một nghi án, để lại cho người đời sau phán xét.

Mười năm sau khi cuộc chiến Hy Ninh kết thúc, vào năm 1085, chiến sự của quân Tống chống lại Tây Hạ thất bại. Tin tức truyền về, Tống Thần Tông chịu kích động lớn về mặt tinh thần. Vị đế vương từng lập chí biến pháp đồ cường, tái lập thời Hán Đường này, khi nhận ra lý tưởng của mình đã tan vỡ, liền rơi vào cảnh u uất suốt ngày.

Cùng năm đó, Tống Thần Tông qua đời ở tuổi 38 cùng với lý tưởng của mình. Sự ra đi của Tống Thần Tông cũng vĩnh viễn mang đi dã tâm thu phục Giao Chỉ của Đại Tống.
Đụ đĩ mẹ, nếu nội dung TML đưa là đúng, thì chỉ chứng tỏ cái bản chất Cối Tộc này xưa giờ đã vậy rồi:
- Lưu manh bá zơ
- Đục nước béo cò
- Thượng đội hạ đạp
Có chăng là giờ thêm cái tật thích ngạo nghễ sục cặc thôi... :vozvn (1):
 
Ngu vkl, 4000 đó là phu, tống sử nó chép đéo đến 3000 lính, tống sử nó cũng chép tô giám bỏ tiền túi ra mộ phu
Ờ, chính xác là 2800 lính + dân phu tráng đinh do Tô Giám mộ. Nhưng nếu tao không đào sâu chẳng phải mày đã mặc định ở con sô 2000 ư? Mà phải nói thêm dân phu tráng đinh tuy đéo phải lính nhưng chúng nó đều được phát áo giáp + vũ khí, cũng đứng trên tường thành ném đá, đổ dầu sôi... thủ thành chứ đéo phải đứng làm cảnh như không khí nhé ml !

Đụ đĩ mẹ, nếu nội dung TML đưa là đúng, thì chỉ chứng tỏ cái bản chất Cối Tộc này xưa giờ đã vậy rồi:
- Lưu manh bá zơ
- Đục nước béo cò
- Thượng đội hạ đạp
Có chăng là giờ thêm cái tật thích ngạo nghễ sục cặc thôi... :vozvn (1):
Nội dung hoàn toàn do bọn TQ viết, tao không thêm bớt để chúng mày xem góc nhìn của tụi nó thế nào!
 
Ờ, chính xác là 2800 lính + dân phu tráng đinh do Tô Giám mộ. Nhưng nếu tao không đào sâu chẳng phải mày đã mặc định ở con sô 2000 ư? Mà phải nói thêm dân phu tráng đinh tuy đéo phải lính nhưng chúng nó đều được phát áo giáp + vũ khí, cũng đứng trên tường thành ném đá, đổ dầu sôi... thủ thành chứ đéo phải đứng làm cảnh như không khí nhé ml !


Nội dung hoàn toàn do bọn TQ viết, tao không thêm bớt để chúng mày xem góc nhìn của tụi nó thế nào!
Rồi kee cả đúng 2800 như mày nói thì 10 vạn đánh 2800 trong 42 ngày ms hạ thành đc thì trình cầm quân chắc bá lắm hay sao?
 
Đụ đĩ mẹ, nếu nội dung TML đưa là đúng, thì chỉ chứng tỏ cái bản chất Cối Tộc này xưa giờ đã vậy rồi:
- Lưu manh bá zơ
- Đục nước béo cò
- Thượng đội hạ đạp
Có chăng là giờ thêm cái tật thích ngạo nghễ sục cặc thôi... :vozvn (1):

Trong quyển của Tâm lý dân tộc An Nam của Paul Giran đã nói rõ rồi

q4ovvPbVVC.webp
 
Toàn tướng thủ nhà, mà như tụi mày đã biết, nếu 2 bên sức mạnh tương đương nhau thì bên thủ nhà luôn lợi thế gấp 5 lần bên đi công.
1 số tướng tài trong việc chinh phạt thì chỉ có cỡ Lý Thường Kiệt-cầm 10 vạn quân đánh cái thành có 2000 lính trong 1 tháng mới đổ, thiệt mất mấy vạn quân. Case này thì vui vì củ hành đc thằng Tống, chứ về mặt quân sự thì quá phèn.
Thứ 2 là Lê Thánh Tông trong chiến dịch bình chiêm, đem 25 vạn quân tinh nhuệ (chắc là tính cả phu vì sử việt toàn cộng gộp) lương thảo và vũ khí, nón giáp trang bị tận răng đánh với thằng chiêm hậu thời Chế Bồng Nga quân vừa ít (tầm 10 vạn) mà trang bị còn ko đầy đủ do nghèo, quân cũng kém tinh nhuệ hơn hẳn quân đại việt, dù trận này đích thân Lê Thánh Tông cầm quân chinh phạt nhưng nói thẳng là tương quan sức mạnh 2 bên quá chênh lệch nên cũng chưa tỏ rõ tài năng gì ở đây. Nhưng dù sao thì đây cũng là lần chinh phạt hiển hách nhất trong lịch sử VN rồi, đại việt tiêu diệt gần hết lính chính quy Chiêm Thành, bắt 30k nô lệ chiêm thành mang về, phá hủy kinh đô chà bàn và nhiều khu sầm uất của chiêm thành, khiến chiêm từ đó về sau ko thể hồi phục lại đc. Lê Thánh Tông còn có cả chiến dịch đánh tiêu diệt Bồn Man và Lan Xang bằng 18 vạn quân, nhưng cũng dùng chênh lệch quân sự đè bẹp là chính, và chiến dịch này ko hiển hách bằng chiến dịch đánh chiêm
Dù công tâm thì có thể khẳng định Lê Thánh Tông vẫn là top 1 chinh phạt của nước ta, nhưng những chiến công này thì cũng là nhờ chênh lệch quốc lực và sức mạnh quân đội 2 bên quá lớn chứ cũng chưa nói lên tài năng cầm quân cho lắm
Nghèo hèn hơn thì lấy lồng gì trinh phạt, có đất Lào - Miên còn lấy đéo xong, ở nam bộ còn bị Miên nó đưa chim vô tận trong 1 khúc
 
Rồi kee cả đúng 2800 như mày nói thì 10 vạn đánh 2800 trong 42 ngày ms hạ thành đc thì trình cầm quân chắc bá lắm hay sao?
Mày thấy chữ nào tao viết khen ổng bá à ml? Tao chỉ nghĩ đơn giản yêu hay ghét cũng phải nói cho chuẩn. Ngay bản thân thằng TQ cũng đéo vô liêm sỉ đến mức gạt bỏ sự hiện diện của đám dân phu !
 
Mày thấy chữ nào tao viết khen ổng bá à ml? Tao chỉ nghĩ đơn giản yêu hay ghét cũng phải nói cho chuẩn. Ngay bản thân thằng TQ cũng đéo vô liêm sỉ đến mức gạt bỏ sự hiện diện của đám dân phu !
Occho, t nói gì đeo chuẩn, hiểu từ lính và từ quân khác nhau thế nào k?
 

Có thể bạn quan tâm

Top