darkhoodseto
Gió lạnh đầu buồi
Hai ông họ Lê mưu sát Nguyễn Ái Quốc ( nghi vấn ? )
bài dưới dài dòng, rảnh thì tham khảo cho vui:
Sáng ngày 2-9-1969, trời miền Bắc Việt Nam u ám, nhiều mây, có mưa nhẹ lác đác nhiều nơi. Người dân nôn nao đón chờ “thông điệp Quốc Khánh” của Hồ Chí Minh. Không khí chính trị ngột ngạt do sự leo thang chiến tranh của tân tổng thống Mỹ Nixon càng làm cho cán bộ đảng viên và thường dân miền Bắc hoang mang khi nghe bài diễn văn vắn tắt, tầm thường–nếu không muốn nói là nặïng mùi tử khí– của Phạm Văn Đồng báo hiệu một biến cố bất thường đã xảy ra. Người ta xầm xì: “Hồ Chí Minh đã bị giết?”
Sau đó ít lâu, nhà cầm quyền mới thông báo “Hồ Chủ Tịch đã mất ngày mồng 3 tháng 9.” Mãi hàng chục năm sau người ta mới dám nói thực là ông Hồ đã chết vào đúng ngày “Quốc Khánh 1969”.
Hai năm cuối đời ông Hồ thường đau yếu luôn và hay sang Trung Quốc để cho các danh y của Cộng Đảng xứ này chữa trị. Ông ta cũng mừng sinh nhật cuối cùng (19-5-1969) ở đây luôn, có người cho rằng ông ta muốn qua những tháng ngày cuối đời tại miền đất mà ông đã có những kỷ niệm “tình cảm đầy tính con người” vào những năm 20 và 30 khi ông hoạt động gián điệp cho quốc tế ******** và cho việc thành lập và đào tạo đảng ******** VN sau này. Nói trắng ra là ông muốn sống lại những giờ phút ái ân với những người đẹp trong dĩ vãng. Sử gia Mỹ William Duiker thuật lại rằng nhân chuyến đi chữa bệnh này, ông Hồ còn ngỏ lời với một cán bộ cao cấp địa phương muốn ông này tìm cho một phụ nữ Trung Hoa thật trẻ và đẹp, có lẽ để ông dùng làm thuốc trì hoãn sự lão hóa và đẩy lùi thần chết. Đồng chí nước bạn và cũng là chỗ tâm giao của ông hỏi “sao đồng chí không lấy một cô Việt Nam có phải dễ dàng không” thì ông bảo: thiếu nữ Việt đều coi ông là Bác cả, khó lắm. Thế là bạn ông đem trình sự việc với thủ tướng Chu Ân Lai. Ông này phán rằng việc hôn nhân của lãnh tụ V.N. phải hỏi ý kiến bộ chính trị Việt Nam. Có lẽ nhóm Lê Duẫn không tán thành, nên chuyện đó chưa đi đến đâu thì ông Hồ đã chết trong sự ngờ vực của người dân miền Bắc. Nhưng rồi chìến cuộc với hàng trăm biến cố khác đã làm cho những chuyện đó rơi vào quên lãng. Cho đến nay không ai còn đặt lại câu hỏi ai giết ông Hồ nữa.
Tuy nhiên kẻ viết bài này có thể khẳng định: ông Hồ, — như một số người thường mô tả là một “nhà ái quốc”, một “anh hùng dân tộc”, thậm chí “một nhà văn hóa lớn” (1)– đã bị giết rồi. Và ngưòi thủ tiêu họ Hồ không ai khác hơn là “nhà văn hóa” Trần Dân Tiên, tác giả “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, hoàn tất vào mùa xuân năm 1948 (2).
Hơn hai chục năm không ai biết tác giả Trần Dân Tiên là ai. Cho đến khi chiến tranh kết thúc “đảng ta” mới xác nhận đó là “Bác”.
Đây là một chuyện hy hữu trong lịch sử văn học và chính trị thế giới: Một lãnh tụ chính trị, chủ tịch một nước viết hồi ký để tự ca tụng chính mình. Vũ Thư Hiên, trong cuốn “Đêm Giữa Ban Ngày” cho rằng đây là một việc “thừa và ngớ ngẩn”.
Riêng người viết không nghĩ thế. Đặt sự việc vào bối cảnh chính trị nước nhà trong thời gian ông Hồ cặm cụi nắn nót cho ra đời cuốn sách vô tiền khoáng hậu này thì sẽ thấy ông ta có lý do để làm việc đó. Ông biết rõ đàn em của ông và những tay văn nô dù có khả năng đến mấy cũng không thể làm việc này thay ông được. Là bởi vì trong số các cán bộ ******** Việt nam lúc ấy chỉ có ông là người đã được học đến nơi đến chốn và có kinh nghiệm thực hành nhuần nhuyễn nghệ thuật tuyên truyền và khuấy động quần chúng. Ông muốn đem ngón nghề chuyên môn của mình ra làm những công việc sau đây trong kiệt tác tuyên truyền này.
1. Tạo cho quần chúng Việt Nam một thần tượng để ông có thể nhân danh thần tượng này đẩy toàn dân vào chỗ đạn lửa hòng ông đạt được mục tiêu cuối cùng là nắm trọn quyền bính trong tay.
2. Loại trừ tận gốc rễ những phần tử đối nghịch dám chống lại ông và đảng của ông như các đảng Đại Việt, Việt Cách, Việt Quốc.
3. Che giấu bộ mặt thật của ông là một gián điệp quôc tế, tay sai của Quốc Tế ********, tức Liên Xô và Trung Cộng.
Nhưng ông khôn mà không ngoan. Gian xảo qủy quyệt quá thành ra để lòi đuôi cáo, khiến cho tiếng tăm về lòng ái quôc giả đối của ông bị tiêu ma từ đây.
Chúng ta thử xem về chi tiét từng điểm vừa nêu.
A.
Trong một nước Á Đông mà dân trí còn thấp như Việt Nam, vai trò của lãnh tụ, của “minh chủ” rất quan trọng. Nhất là trong chiến tranh thì nó càng quan trọng hơn nữa. Ông Hồ biết rõ nhu cầu đó. Ở Trung Quốc ông đã thấy thần tượng Mao Trạch Đông làm nên đại sự. Ngay ở Liên Xô, một nước thấm nhuần văn minh phương Tây từ lâu mà vai trò của thần tượng Lênin rồi Stalin cũng còn quyết định sự thành bại của cuộc “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Huống chi ở Việt Nam.
Ông cũng hiểu hơn ai hết rằng lịch sử đã chứng minh mỗi lần có biến, dân nước phải đối đầu với cuộc xâm lăng từ phương Bắc, luôn có một anh hùng trở thành thần tượng cho quân sĩ và nhân dân tôn thờ hòng tuân lệnh xông vào lửa đạn để cứu nước. Đinh Bộ Lĩnh, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v….Ông cũng biết ông không có được những đức tính của những anh hùng dân tộc đích thực như các vị trên, vì ông chỉ là một cán bộ của quốc tế ********, có sứ mạng truyền bá chủ nghĩa ********, tranh đấu cho một cuộc cách mạng vô sản trên khắp thế giới, chứ không phải cho nền độc lập quốc gia thực sự. Lênin đã dậy ông, Stalin cũng luôn nhắc lại cho ông rằng cách mạng vô sản thế giới mới là cứu cánh, kháng chiến chống thực dân, dành độc lập quốc gia chỉ là sách lược giai đọan, do nhu cầu của “thoái trào hay tiến trào cách mạng”. Và cũng nhờ đã tiếp xúc với những nhà ái quốc như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường…ông đã biết cách tuyên truyền thế nào để kích động lòng yêu nước của toàn dân hòng chiến thắng.
Khi gặp sự chống đối của quốc tế (thế giới tự do) và các phần tử, đảng phái quôc gia, vì ông trót để lộ tung tích làm gián điệp cho quốc tế 3 (********), ngày 5-11-1945 ông đã cho lệnh giải tán đảng ******** mà ông đã theo lệnh Liên xô thành lập và thống nhất vào ngày 3-2-1930. Ông biến nó thành hội nghiên cứu Mác Xít. Đồng thời ông cũng thay đổi hẳn thái độ, cốù tạo cho mình một bộ mặt quốc gia.
Mặc dầu vậy, các đảng phái quốc gia, được sự ủng hộ của Pháp và thế giới tự do, vẫn viện dẫn lý do ông là ******** để chống đối.
Mục đích chính của tập sách ông viết dưới bút hiệu Trần Dân Tiên là làm cho đại chúng, quần chúng, nhân dân Việt Nam thấy được “lòng yêu nước, thương dân phi phàm” của ông, thấy được những cử chỉ thái độ bình dân, giản dị, thấy được những đức tính đáng yêu của một nhà cách mạng, biết sống như thường dân, biết chia sẻ những nỗi khổ cực của dân nghèo, để rồi mến yêu ông, tôn thờ ông, sẵn sàng nghe theo lời ông “Vì đảng, vì “Bác” tiến lên” xông vào chỗ chết, hết lớp này đến lớp khác. Lúc ấy ông bắt đàn em không được hô “Vì đảng”, mà phải hô “vì tổ quốc”, để đánh lừa một số người.
Quá trình đấu tranh gian khổ của ông, vào tù ra khám nhiều lần, thoát chết nhiều lần, có lần đã bị loan báo chết mà không chết, càng làm cho những lời lẽ ông viết ra trong sách có tính thuyết phục. Mấy người biết được rằng những cực khổ hy sinh đó là vì một lý tưởng khác, –cách mạng vô sản thế giới, theo lệnh quốc tế 3 (********)–, chứ không phải vì lý tưởng quốc gia dân tộc thuần túy.
Những ví dụ đầy rẫy trong cuốn sách 167 trang này. Ở đây chúng tôi chỉ xin trích một vài đoạn nhỏ để thấy rõ tác giả đã khéo léo tô điểm cho hình ảnh một lãnh tụ, một thần tượng Hồ Chí Minh như thế nào:
(Trang 129):
Ngày 2-9-1945. Ngày chính phủ Hồ Chí Minh ra mắt nhân dân. Hồ chủ tịch sửa soạn đi dự lễ. Cụ Hồ chợt thấy mình không có quần áo.
Về việc quần áo có hai việc đáng kể: (chỉ kể 1. MV)
Vừa mới ở rừng về đến Hà Nội, một võ quan ngoại quôc đến chào Hồ Chủ tịch, võ quan này bận quần ka-ki và áo bằng vải dù. Võ quan thú thật là không có áo nào khác. Lập tức chủ tịch cởi áo khoác ngơài và biếu người võ quan ấy (…..) Và người võ quan đi ra với bộ quần áo đầy đủ, còn chủ tịch thì suốt ngày mặc áo sơ mi. (….)
Trong rừng, Hồ chủ tịch cũng như các chiến sĩ du kích, ai cũng quen bận quần đùi và ở trần. Về Hà Nội Hồ chủ tịch cũng giữ nguyên bộ quần áo khi ở trong rừng. (2 câu này khiến người đọc hiểu rằng ông Hồ về Hà Nội vẫn mặc quần đùi và ở trần!)
Người ta đến các hàng tìm kiếm. Cuối cùng người ta tìm thấy một bộ quần áo ka-ki và đôi dép cao su cho Hồ chủ tịch. Ăn mặc như thế, chủ tịch ra mắt đồng bào. (…) một vị chủ tịch khác thường.
bài dưới dài dòng, rảnh thì tham khảo cho vui:
Sáng ngày 2-9-1969, trời miền Bắc Việt Nam u ám, nhiều mây, có mưa nhẹ lác đác nhiều nơi. Người dân nôn nao đón chờ “thông điệp Quốc Khánh” của Hồ Chí Minh. Không khí chính trị ngột ngạt do sự leo thang chiến tranh của tân tổng thống Mỹ Nixon càng làm cho cán bộ đảng viên và thường dân miền Bắc hoang mang khi nghe bài diễn văn vắn tắt, tầm thường–nếu không muốn nói là nặïng mùi tử khí– của Phạm Văn Đồng báo hiệu một biến cố bất thường đã xảy ra. Người ta xầm xì: “Hồ Chí Minh đã bị giết?”
Sau đó ít lâu, nhà cầm quyền mới thông báo “Hồ Chủ Tịch đã mất ngày mồng 3 tháng 9.” Mãi hàng chục năm sau người ta mới dám nói thực là ông Hồ đã chết vào đúng ngày “Quốc Khánh 1969”.
Hai năm cuối đời ông Hồ thường đau yếu luôn và hay sang Trung Quốc để cho các danh y của Cộng Đảng xứ này chữa trị. Ông ta cũng mừng sinh nhật cuối cùng (19-5-1969) ở đây luôn, có người cho rằng ông ta muốn qua những tháng ngày cuối đời tại miền đất mà ông đã có những kỷ niệm “tình cảm đầy tính con người” vào những năm 20 và 30 khi ông hoạt động gián điệp cho quốc tế ******** và cho việc thành lập và đào tạo đảng ******** VN sau này. Nói trắng ra là ông muốn sống lại những giờ phút ái ân với những người đẹp trong dĩ vãng. Sử gia Mỹ William Duiker thuật lại rằng nhân chuyến đi chữa bệnh này, ông Hồ còn ngỏ lời với một cán bộ cao cấp địa phương muốn ông này tìm cho một phụ nữ Trung Hoa thật trẻ và đẹp, có lẽ để ông dùng làm thuốc trì hoãn sự lão hóa và đẩy lùi thần chết. Đồng chí nước bạn và cũng là chỗ tâm giao của ông hỏi “sao đồng chí không lấy một cô Việt Nam có phải dễ dàng không” thì ông bảo: thiếu nữ Việt đều coi ông là Bác cả, khó lắm. Thế là bạn ông đem trình sự việc với thủ tướng Chu Ân Lai. Ông này phán rằng việc hôn nhân của lãnh tụ V.N. phải hỏi ý kiến bộ chính trị Việt Nam. Có lẽ nhóm Lê Duẫn không tán thành, nên chuyện đó chưa đi đến đâu thì ông Hồ đã chết trong sự ngờ vực của người dân miền Bắc. Nhưng rồi chìến cuộc với hàng trăm biến cố khác đã làm cho những chuyện đó rơi vào quên lãng. Cho đến nay không ai còn đặt lại câu hỏi ai giết ông Hồ nữa.
Tuy nhiên kẻ viết bài này có thể khẳng định: ông Hồ, — như một số người thường mô tả là một “nhà ái quốc”, một “anh hùng dân tộc”, thậm chí “một nhà văn hóa lớn” (1)– đã bị giết rồi. Và ngưòi thủ tiêu họ Hồ không ai khác hơn là “nhà văn hóa” Trần Dân Tiên, tác giả “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, hoàn tất vào mùa xuân năm 1948 (2).
Hơn hai chục năm không ai biết tác giả Trần Dân Tiên là ai. Cho đến khi chiến tranh kết thúc “đảng ta” mới xác nhận đó là “Bác”.
Đây là một chuyện hy hữu trong lịch sử văn học và chính trị thế giới: Một lãnh tụ chính trị, chủ tịch một nước viết hồi ký để tự ca tụng chính mình. Vũ Thư Hiên, trong cuốn “Đêm Giữa Ban Ngày” cho rằng đây là một việc “thừa và ngớ ngẩn”.
Riêng người viết không nghĩ thế. Đặt sự việc vào bối cảnh chính trị nước nhà trong thời gian ông Hồ cặm cụi nắn nót cho ra đời cuốn sách vô tiền khoáng hậu này thì sẽ thấy ông ta có lý do để làm việc đó. Ông biết rõ đàn em của ông và những tay văn nô dù có khả năng đến mấy cũng không thể làm việc này thay ông được. Là bởi vì trong số các cán bộ ******** Việt nam lúc ấy chỉ có ông là người đã được học đến nơi đến chốn và có kinh nghiệm thực hành nhuần nhuyễn nghệ thuật tuyên truyền và khuấy động quần chúng. Ông muốn đem ngón nghề chuyên môn của mình ra làm những công việc sau đây trong kiệt tác tuyên truyền này.
1. Tạo cho quần chúng Việt Nam một thần tượng để ông có thể nhân danh thần tượng này đẩy toàn dân vào chỗ đạn lửa hòng ông đạt được mục tiêu cuối cùng là nắm trọn quyền bính trong tay.
2. Loại trừ tận gốc rễ những phần tử đối nghịch dám chống lại ông và đảng của ông như các đảng Đại Việt, Việt Cách, Việt Quốc.
3. Che giấu bộ mặt thật của ông là một gián điệp quôc tế, tay sai của Quốc Tế ********, tức Liên Xô và Trung Cộng.
Nhưng ông khôn mà không ngoan. Gian xảo qủy quyệt quá thành ra để lòi đuôi cáo, khiến cho tiếng tăm về lòng ái quôc giả đối của ông bị tiêu ma từ đây.
Chúng ta thử xem về chi tiét từng điểm vừa nêu.
A.
Trong một nước Á Đông mà dân trí còn thấp như Việt Nam, vai trò của lãnh tụ, của “minh chủ” rất quan trọng. Nhất là trong chiến tranh thì nó càng quan trọng hơn nữa. Ông Hồ biết rõ nhu cầu đó. Ở Trung Quốc ông đã thấy thần tượng Mao Trạch Đông làm nên đại sự. Ngay ở Liên Xô, một nước thấm nhuần văn minh phương Tây từ lâu mà vai trò của thần tượng Lênin rồi Stalin cũng còn quyết định sự thành bại của cuộc “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Huống chi ở Việt Nam.
Ông cũng hiểu hơn ai hết rằng lịch sử đã chứng minh mỗi lần có biến, dân nước phải đối đầu với cuộc xâm lăng từ phương Bắc, luôn có một anh hùng trở thành thần tượng cho quân sĩ và nhân dân tôn thờ hòng tuân lệnh xông vào lửa đạn để cứu nước. Đinh Bộ Lĩnh, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v….Ông cũng biết ông không có được những đức tính của những anh hùng dân tộc đích thực như các vị trên, vì ông chỉ là một cán bộ của quốc tế ********, có sứ mạng truyền bá chủ nghĩa ********, tranh đấu cho một cuộc cách mạng vô sản trên khắp thế giới, chứ không phải cho nền độc lập quốc gia thực sự. Lênin đã dậy ông, Stalin cũng luôn nhắc lại cho ông rằng cách mạng vô sản thế giới mới là cứu cánh, kháng chiến chống thực dân, dành độc lập quốc gia chỉ là sách lược giai đọan, do nhu cầu của “thoái trào hay tiến trào cách mạng”. Và cũng nhờ đã tiếp xúc với những nhà ái quốc như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường…ông đã biết cách tuyên truyền thế nào để kích động lòng yêu nước của toàn dân hòng chiến thắng.
Khi gặp sự chống đối của quốc tế (thế giới tự do) và các phần tử, đảng phái quôc gia, vì ông trót để lộ tung tích làm gián điệp cho quốc tế 3 (********), ngày 5-11-1945 ông đã cho lệnh giải tán đảng ******** mà ông đã theo lệnh Liên xô thành lập và thống nhất vào ngày 3-2-1930. Ông biến nó thành hội nghiên cứu Mác Xít. Đồng thời ông cũng thay đổi hẳn thái độ, cốù tạo cho mình một bộ mặt quốc gia.
Mặc dầu vậy, các đảng phái quốc gia, được sự ủng hộ của Pháp và thế giới tự do, vẫn viện dẫn lý do ông là ******** để chống đối.
Mục đích chính của tập sách ông viết dưới bút hiệu Trần Dân Tiên là làm cho đại chúng, quần chúng, nhân dân Việt Nam thấy được “lòng yêu nước, thương dân phi phàm” của ông, thấy được những cử chỉ thái độ bình dân, giản dị, thấy được những đức tính đáng yêu của một nhà cách mạng, biết sống như thường dân, biết chia sẻ những nỗi khổ cực của dân nghèo, để rồi mến yêu ông, tôn thờ ông, sẵn sàng nghe theo lời ông “Vì đảng, vì “Bác” tiến lên” xông vào chỗ chết, hết lớp này đến lớp khác. Lúc ấy ông bắt đàn em không được hô “Vì đảng”, mà phải hô “vì tổ quốc”, để đánh lừa một số người.
Quá trình đấu tranh gian khổ của ông, vào tù ra khám nhiều lần, thoát chết nhiều lần, có lần đã bị loan báo chết mà không chết, càng làm cho những lời lẽ ông viết ra trong sách có tính thuyết phục. Mấy người biết được rằng những cực khổ hy sinh đó là vì một lý tưởng khác, –cách mạng vô sản thế giới, theo lệnh quốc tế 3 (********)–, chứ không phải vì lý tưởng quốc gia dân tộc thuần túy.
Những ví dụ đầy rẫy trong cuốn sách 167 trang này. Ở đây chúng tôi chỉ xin trích một vài đoạn nhỏ để thấy rõ tác giả đã khéo léo tô điểm cho hình ảnh một lãnh tụ, một thần tượng Hồ Chí Minh như thế nào:
(Trang 129):
Ngày 2-9-1945. Ngày chính phủ Hồ Chí Minh ra mắt nhân dân. Hồ chủ tịch sửa soạn đi dự lễ. Cụ Hồ chợt thấy mình không có quần áo.
Về việc quần áo có hai việc đáng kể: (chỉ kể 1. MV)
Vừa mới ở rừng về đến Hà Nội, một võ quan ngoại quôc đến chào Hồ Chủ tịch, võ quan này bận quần ka-ki và áo bằng vải dù. Võ quan thú thật là không có áo nào khác. Lập tức chủ tịch cởi áo khoác ngơài và biếu người võ quan ấy (…..) Và người võ quan đi ra với bộ quần áo đầy đủ, còn chủ tịch thì suốt ngày mặc áo sơ mi. (….)
Trong rừng, Hồ chủ tịch cũng như các chiến sĩ du kích, ai cũng quen bận quần đùi và ở trần. Về Hà Nội Hồ chủ tịch cũng giữ nguyên bộ quần áo khi ở trong rừng. (2 câu này khiến người đọc hiểu rằng ông Hồ về Hà Nội vẫn mặc quần đùi và ở trần!)
Người ta đến các hàng tìm kiếm. Cuối cùng người ta tìm thấy một bộ quần áo ka-ki và đôi dép cao su cho Hồ chủ tịch. Ăn mặc như thế, chủ tịch ra mắt đồng bào. (…) một vị chủ tịch khác thường.