Who killed cụ H....???

darkhoodseto

Gió lạnh đầu buồi
Hai ông họ Lê mưu sát Nguyễn Ái Quốc ( nghi vấn ? )



bài dưới dài dòng, rảnh thì tham khảo cho vui:

Sáng ngày 2-9-1969, trời miền Bắc Việt Nam u ám, nhiều mây, có mưa nhẹ lác đác nhiều nơi. Người dân nôn nao đón chờ “thông điệp Quốc Khánh” của Hồ Chí Minh. Không khí chính trị ngột ngạt do sự leo thang chiến tranh của tân tổng thống Mỹ Nixon càng làm cho cán bộ đảng viên và thường dân miền Bắc hoang mang khi nghe bài diễn văn vắn tắt, tầm thường–nếu không muốn nói là nặïng mùi tử khí– của Phạm Văn Đồng báo hiệu một biến cố bất thường đã xảy ra. Người ta xầm xì: “Hồ Chí Minh đã bị giết?”

Sau đó ít lâu, nhà cầm quyền mới thông báo “Hồ Chủ Tịch đã mất ngày mồng 3 tháng 9.” Mãi hàng chục năm sau người ta mới dám nói thực là ông Hồ đã chết vào đúng ngày “Quốc Khánh 1969”.

Hai năm cuối đời ông Hồ thường đau yếu luôn và hay sang Trung Quốc để cho các danh y của Cộng Đảng xứ này chữa trị. Ông ta cũng mừng sinh nhật cuối cùng (19-5-1969) ở đây luôn, có người cho rằng ông ta muốn qua những tháng ngày cuối đời tại miền đất mà ông đã có những kỷ niệm “tình cảm đầy tính con người” vào những năm 20 và 30 khi ông hoạt động gián điệp cho quốc tế ******** và cho việc thành lập và đào tạo đảng ******** VN sau này. Nói trắng ra là ông muốn sống lại những giờ phút ái ân với những người đẹp trong dĩ vãng. Sử gia Mỹ William Duiker thuật lại rằng nhân chuyến đi chữa bệnh này, ông Hồ còn ngỏ lời với một cán bộ cao cấp địa phương muốn ông này tìm cho một phụ nữ Trung Hoa thật trẻ và đẹp, có lẽ để ông dùng làm thuốc trì hoãn sự lão hóa và đẩy lùi thần chết. Đồng chí nước bạn và cũng là chỗ tâm giao của ông hỏi “sao đồng chí không lấy một cô Việt Nam có phải dễ dàng không” thì ông bảo: thiếu nữ Việt đều coi ông là Bác cả, khó lắm. Thế là bạn ông đem trình sự việc với thủ tướng Chu Ân Lai. Ông này phán rằng việc hôn nhân của lãnh tụ V.N. phải hỏi ý kiến bộ chính trị Việt Nam. Có lẽ nhóm Lê Duẫn không tán thành, nên chuyện đó chưa đi đến đâu thì ông Hồ đã chết trong sự ngờ vực của người dân miền Bắc. Nhưng rồi chìến cuộc với hàng trăm biến cố khác đã làm cho những chuyện đó rơi vào quên lãng. Cho đến nay không ai còn đặt lại câu hỏi ai giết ông Hồ nữa.


Tuy nhiên kẻ viết bài này có thể khẳng định: ông Hồ, — như một số người thường mô tả là một “nhà ái quốc”, một “anh hùng dân tộc”, thậm chí “một nhà văn hóa lớn” (1)– đã bị giết rồi. Và ngưòi thủ tiêu họ Hồ không ai khác hơn là “nhà văn hóa” Trần Dân Tiên, tác giả “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, hoàn tất vào mùa xuân năm 1948 (2).

Hơn hai chục năm không ai biết tác giả Trần Dân Tiên là ai. Cho đến khi chiến tranh kết thúc “đảng ta” mới xác nhận đó là “Bác”.

Đây là một chuyện hy hữu trong lịch sử văn học và chính trị thế giới: Một lãnh tụ chính trị, chủ tịch một nước viết hồi ký để tự ca tụng chính mình. Vũ Thư Hiên, trong cuốn “Đêm Giữa Ban Ngày” cho rằng đây là một việc “thừa và ngớ ngẩn”.

Riêng người viết không nghĩ thế. Đặt sự việc vào bối cảnh chính trị nước nhà trong thời gian ông Hồ cặm cụi nắn nót cho ra đời cuốn sách vô tiền khoáng hậu này thì sẽ thấy ông ta có lý do để làm việc đó. Ông biết rõ đàn em của ông và những tay văn nô dù có khả năng đến mấy cũng không thể làm việc này thay ông được. Là bởi vì trong số các cán bộ ******** Việt nam lúc ấy chỉ có ông là người đã được học đến nơi đến chốn và có kinh nghiệm thực hành nhuần nhuyễn nghệ thuật tuyên truyền và khuấy động quần chúng. Ông muốn đem ngón nghề chuyên môn của mình ra làm những công việc sau đây trong kiệt tác tuyên truyền này.

1. Tạo cho quần chúng Việt Nam một thần tượng để ông có thể nhân danh thần tượng này đẩy toàn dân vào chỗ đạn lửa hòng ông đạt được mục tiêu cuối cùng là nắm trọn quyền bính trong tay.

2. Loại trừ tận gốc rễ những phần tử đối nghịch dám chống lại ông và đảng của ông như các đảng Đại Việt, Việt Cách, Việt Quốc.

3. Che giấu bộ mặt thật của ông là một gián điệp quôc tế, tay sai của Quốc Tế ********, tức Liên Xô và Trung Cộng.

Nhưng ông khôn mà không ngoan. Gian xảo qủy quyệt quá thành ra để lòi đuôi cáo, khiến cho tiếng tăm về lòng ái quôc giả đối của ông bị tiêu ma từ đây.


Chúng ta thử xem về chi tiét từng điểm vừa nêu.

A.

Trong một nước Á Đông mà dân trí còn thấp như Việt Nam, vai trò của lãnh tụ, của “minh chủ” rất quan trọng. Nhất là trong chiến tranh thì nó càng quan trọng hơn nữa. Ông Hồ biết rõ nhu cầu đó. Ở Trung Quốc ông đã thấy thần tượng Mao Trạch Đông làm nên đại sự. Ngay ở Liên Xô, một nước thấm nhuần văn minh phương Tây từ lâu mà vai trò của thần tượng Lênin rồi Stalin cũng còn quyết định sự thành bại của cuộc “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Huống chi ở Việt Nam.

Ông cũng hiểu hơn ai hết rằng lịch sử đã chứng minh mỗi lần có biến, dân nước phải đối đầu với cuộc xâm lăng từ phương Bắc, luôn có một anh hùng trở thành thần tượng cho quân sĩ và nhân dân tôn thờ hòng tuân lệnh xông vào lửa đạn để cứu nước. Đinh Bộ Lĩnh, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v….Ông cũng biết ông không có được những đức tính của những anh hùng dân tộc đích thực như các vị trên, vì ông chỉ là một cán bộ của quốc tế ********, có sứ mạng truyền bá chủ nghĩa ********, tranh đấu cho một cuộc cách mạng vô sản trên khắp thế giới, chứ không phải cho nền độc lập quốc gia thực sự. Lênin đã dậy ông, Stalin cũng luôn nhắc lại cho ông rằng cách mạng vô sản thế giới mới là cứu cánh, kháng chiến chống thực dân, dành độc lập quốc gia chỉ là sách lược giai đọan, do nhu cầu của “thoái trào hay tiến trào cách mạng”. Và cũng nhờ đã tiếp xúc với những nhà ái quốc như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường…ông đã biết cách tuyên truyền thế nào để kích động lòng yêu nước của toàn dân hòng chiến thắng.

Khi gặp sự chống đối của quốc tế (thế giới tự do) và các phần tử, đảng phái quôc gia, vì ông trót để lộ tung tích làm gián điệp cho quốc tế 3 (********), ngày 5-11-1945 ông đã cho lệnh giải tán đảng ******** mà ông đã theo lệnh Liên xô thành lập và thống nhất vào ngày 3-2-1930. Ông biến nó thành hội nghiên cứu Mác Xít. Đồng thời ông cũng thay đổi hẳn thái độ, cốù tạo cho mình một bộ mặt quốc gia.

Mặc dầu vậy, các đảng phái quốc gia, được sự ủng hộ của Pháp và thế giới tự do, vẫn viện dẫn lý do ông là ******** để chống đối.

Mục đích chính của tập sách ông viết dưới bút hiệu Trần Dân Tiên là làm cho đại chúng, quần chúng, nhân dân Việt Nam thấy được “lòng yêu nước, thương dân phi phàm” của ông, thấy được những cử chỉ thái độ bình dân, giản dị, thấy được những đức tính đáng yêu của một nhà cách mạng, biết sống như thường dân, biết chia sẻ những nỗi khổ cực của dân nghèo, để rồi mến yêu ông, tôn thờ ông, sẵn sàng nghe theo lời ông “Vì đảng, vì “Bác” tiến lên” xông vào chỗ chết, hết lớp này đến lớp khác. Lúc ấy ông bắt đàn em không được hô “Vì đảng”, mà phải hô “vì tổ quốc”, để đánh lừa một số người.

Quá trình đấu tranh gian khổ của ông, vào tù ra khám nhiều lần, thoát chết nhiều lần, có lần đã bị loan báo chết mà không chết, càng làm cho những lời lẽ ông viết ra trong sách có tính thuyết phục. Mấy người biết được rằng những cực khổ hy sinh đó là vì một lý tưởng khác, –cách mạng vô sản thế giới, theo lệnh quốc tế 3 (********)–, chứ không phải vì lý tưởng quốc gia dân tộc thuần túy.

Những ví dụ đầy rẫy trong cuốn sách 167 trang này. Ở đây chúng tôi chỉ xin trích một vài đoạn nhỏ để thấy rõ tác giả đã khéo léo tô điểm cho hình ảnh một lãnh tụ, một thần tượng Hồ Chí Minh như thế nào:

(Trang 129):

Ngày 2-9-1945. Ngày chính phủ Hồ Chí Minh ra mắt nhân dân. Hồ chủ tịch sửa soạn đi dự lễ. Cụ Hồ chợt thấy mình không có quần áo.

Về việc quần áo có hai việc đáng kể: (chỉ kể 1. MV)

Vừa mới ở rừng về đến Hà Nội, một võ quan ngoại quôc đến chào Hồ Chủ tịch, võ quan này bận quần ka-ki và áo bằng vải dù. Võ quan thú thật là không có áo nào khác. Lập tức chủ tịch cởi áo khoác ngơài và biếu người võ quan ấy (…..) Và người võ quan đi ra với bộ quần áo đầy đủ, còn chủ tịch thì suốt ngày mặc áo sơ mi. (….)

Trong rừng, Hồ chủ tịch cũng như các chiến sĩ du kích, ai cũng quen bận quần đùi và ở trần. Về Hà Nội Hồ chủ tịch cũng giữ nguyên bộ quần áo khi ở trong rừng. (2 câu này khiến người đọc hiểu rằng ông Hồ về Hà Nội vẫn mặc quần đùi và ở trần!)

Người ta đến các hàng tìm kiếm. Cuối cùng người ta tìm thấy một bộ quần áo ka-ki và đôi dép cao su cho Hồ chủ tịch. Ăn mặc như thế, chủ tịch ra mắt đồng bào. (…) một vị chủ tịch khác thường.
 
(Trang 131):

“Nhưng cảm động hơn cả, là khi nhân dân thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đến, người mà nhân dân hằng mến yêu, khâm phục và kính trọng, và lần đầu tiên nhân dân mới được thấy.” (Thực ra lúc ấy chẳng mấy người biết Hồ Chí Minh là ai, chứ đừng nói “hằng mến yêu, khâm phục và kính trọng” MV)

(Trang 132):

“Trông thấy Chủ tịch đến, nhân dân nhận thấy Hồ chủ tịch giản dị thân mật như một người cha hiền về với đám con. (…)

…Chủ tịch trở thành “Cha Hồ” của dân tộc Việt Nam.

(Trang 143):

“99% cử tri ở Hà Nội đã đi bỏ phiếu. Toàn thể bỏ phiếu cho danh sách ứng cử do Hồ chủ tịch đứng đầu. Và gồm có: một kỹ sư thuộc đảng Dân Chủ, một vị học giả, một bác sĩ và một bà, đều không có đảng phái.”

Câu cuối cho thấy ông Hồ cố hết sức mình chứng minh ông là người vì chủ nghĩa dân tộc, nên được đảng Dân Chủ (phi ********) các nhà trí thức, học giả uyên thâm, và nữ giới, toàn những người không đảng phái ủng hộ đứng chung danh sách với ông. Nhưng sẽ thấy ngay đó chỉ là lời nói xạo, nếu biết được rằng đảng Dân Chủ (của Dương Đức Hiền, cử nhân luật mới ra trường, Nghiêm Xuân Yêm, kỹ sư), cũng như đảng Xã Hội (của Nguyễn Xiển, kỹ sư khí tượng) lúc ấy chỉ là bình phong của đảng ********. Những người đứng đầu đảng như các ông Dương Đức Hiền, Trần Đăng Khoa, hay Nghiêm Xuân Yêm, đều chỉ biết tuân lệnh của những cán bộ ******** nòng cốt, tuy bề ngoài chỉ nắm vai phụ, nhưng bên trong lại giữ vai chủ động, như Phạm Hồng rồi Nguyễn Việt Nam, Phạm Tuấn Khanh…Những lời tuyên bố hay bài nói bài viết của họ đều bị những tên này duyệt trước.

(Trang 162):
 
“Nhân dân VN muôn người như một nghe theo lời Hồ chủ tịch, vì họ hoàn toàn tin tưởng ở Hồ chủ tịch. Không có gì so sánh được với lòng dân VN kính mến tin tưởng lãnh tụ Hồ Chí Minh”

(Trang 164):

“Chủ tịch không bao giờ nghĩ đến mình. Người chỉ nghĩ tới người khác, nghĩ đến nhân dân.”

Tất cả 2 trang 163 và 164 ông chỉ dành để viết những lời tự ca tụng tương tự như thế, rồi đến cuối trang 166 là trang áp chót ông hạ một câu xanh rờn:

“Nhân dân gợi chủ tịch là Cha già của dân tộc,”

Nếu để ý thời điểm mà cuốn sách được viết xong là mùa xuân năm 1948, thì thấy lúc đó chưa có những tác phẩm ca tụng họ Hồ, như những cuốn của Trường Chinh (3), Phạm Văn Đồng (4), Võ Nguyên Giáp (5), Văn Tiến Dũng (6), Hồng Hà (7), để chỉ nêu mấy tên tuổi quan trọng trong số đàn em của ông Hồ. Về các tác giả ngoại quốc, cũng chưa có những cuốn hồi ký hay tiểu sử do các nhà báo hay sử gia tên tuổi viết, chẳng hạn Jean Lacouture, Jean Sainteny, Devillers, Shaplen, Stanley Karnow, David Halberstam, Neil Sheehan, W. Duiker v.v….

Điều đó cho thấy gì? Nó chứng tỏ Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh là người mở đầu cho việc sùng bái cá nhân ông, và những kẻ viết sau về đề tài này đã lấy hứng và theo tài liệu của ông mà viết. Kể cả những tác giả ngoại quốc nổi tiếng sau này.

B.

Về các đoàn thể tổ chức và đảng phái chống Việt Minh lúc đầu (1945-46) tác giả có nói qua đến chính phủ trần Trọng Kim mà ông bảo được Nhật “sai tổ chức chính phủ và quân dôïi bù nhìn để đi với quân đội Nhật đánh Việt Minh.” (trang 116) và “cùng với phát xít Nhật tuyên truyền kịch liệt chống Việt Minh” (tr.. 117).

Riêng đối với các tổ chức Việt Cách của Nguyễn Hải Thần và Đại Việt hay Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Tường Tam thì Trần Dân Tiên đã dùng những lời lẽ nặng nề thô bỉ nhất. Có lẽ vì các tổ chức chính trị này đã lên án Việt Minh là ******** và đã có những hành động chống đối quyết liệt nhất. Và cũng vì họ tố cáo một cách hữu hiệu nhất tính chất lệ thuộc của Việt Minh vào hệ thống quốc tế 3 (********). Vì vậy ông ta cố hạ uy tín và làm nhục đích danh hai lãnh tụ Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam với những lời lẽ như sau:

(trang 116):

“Lúc đó bọn Nguyễn Tường Tam theo Nhật, ngược đãi người Pháp (8) sát hại Việt Minh và bắt cóc, đi tống tiền”

(Trang 160):

“Bô-la-e tìm những tên thân Nhật: Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Văn Sâm, giúp bọn này tổ chức “mặt trận quốc gia” để chống chính phủ Hồ Chí Minh”. Nhưng âm mưu của Bô-la-e đã thất bại vì ba “ngài” này đã nổi tiếng là thành tích bất hảo”

(Ở hai đoạn vừa nêu xin lưu ý mấy tiếng tống tiền và thành tích bất hảo. Có chỗ tác giả còn tố cáo Nguyễn Tường Tam bỏ trốn mang theo quỹ của bộ (ngoại giao) MV)

(Trang 141, đặc biệt chú ý trang này):

“Hồ chủ tịch đã tìm ra một giải pháp: nhường cho Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam bảy mươi (70) ghế mà chúng sẽ chia nhau hoặc bán cho người nào xuất tiền mua. (xin lưu ý mấy chữ bán và mua và tiền. MV)

“Đối với bọn này, nhân dân rất khinh bỉ. Người ta hỏi tại sao lại để cho những hạng người này ở trong quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam? Đây là một sự nhục nhã cho chế dộ dân chủ mới v.v…Hồ chủ tịch rất hiểu lòng tức tối của nhân dân đối với các “nghị viên” này.

“Hồ chủ tịch giải thích cho nhân dân một cách rất giản đơn. Chủ tịch nói: “Muốn giồng khoai, giồng lúa, người ta phải dùng phân. Muốn đi đến dân chủ mà tất cả chúng ta đều muốn, đôi khi chúng ta phải làm những việc chúng ta không vui lòng làm”.

(Nói như vậy chẳng khác gì HCM bảo Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam và “đồng bọn” chỉ là những cục phân! MV)

Thật không còn lời lẽ nào để hạ nhục đối phương hơn. Cá nhân kẻ viết bài này vốn mến văn tài của Nhất Linh, nhất là trong những tác phẩm ông viết chung với Khái Hưng, và khâm phục lòng yêu nước của lãnh tụ Nguyễn Tường Tam. Nhưng tôi bắt buộc phải mạn phép vong linh ông để nói lên điều sau đây.

Khi chính quyền đệ nhất Cộng Hòa có ý định đem ông ra tòa về tội âm mưu lật đổ chính quyền, ông đã tuyên bố một câu đi vào lịch sử: “Chỉ có lịch sử xét xử được tôi.”, rồi tự tử. Bác sĩ Trần Kim Tuyến và giáo sư Cao Thế Dung, trong tác phẩm “Làm thế nào để giết một tổng thống” đã viết rằng khi nghe tin ông Nguyễn Tường Tam tự tử, tổng thống Ngô Đình Diệm đã hết sức buồn rầu suy tư nên đã phải lên Đa Lạt nghĩ nhiều ngày cho khuây khỏa. Vì nói cho cùng tổng thống chỉ muốn sự việc được đưa ra ánh sáng công lý chứ không muốn hãm hại Nhất Linh. Trong những nhà trí thức bị tình nghi là mưu phản sau này có ai bị xử tử hay bi án nặng đâu. Ngay kẻ mưu sát tổng thống tại hội chợ Ban Mê Thuột bị bắt quả tang mà ông còn tha mà. Tên này sau khi Sài Gòn thất thủ đã nghiễm nhiên trở lại với cương vị một cán bộ ******** trong hàng lãnh đạo tỉnh Tây Ninh như nhiều người biết.

Nếu thần tượng Hồ Chí Minh còn đó để cho các nhà viết sử của kẻ chiến thắng cứ tiếp tục như hiện nay, với những hàng chữ nhục mạ các lãnh tụ quốùc gia như tên Trần Dân Tiên, tức Hồ Chí Minh này đã làm đối với Nguyễn Tường Tam, thì rồi con cháu ta về sau sẽ nghĩ gì về Nguyễn Tường Tam và các lãnh tụ quốc gia khác? Vì vậy thiết nghĩ những đồng chí của Nguyễn Tường Tam trong các đảng Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng (và nói chung cả những ai tự nghĩ mình là ngưòi quốc gia, chống cộng) hãy tập trung nỗ lực vào việc lột mặt nạ ái quốc của Hồ Chí Minh, thay vì cứ các nhà lãnh đạo quốc gia không đồng chính kiến với mình mà vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết, bôi nhọ lẫn nhau.

Của đáng tội, công bình mà nói, trong việc thành lập chính phủ liên hiệp đầu tiên, một số đảng phái quốc gia đã mắc mưu của ông Hồ, ngửa tay nhận lấy 70 ghế ngồi trong “quốc hội” mà không được bầu, trong khi các đại biểu của Việt Minh thì lại được bầu (dù cho cuôc bầu cử đã bị cán bộ ******** sắp xếp và gian lận). Nhờ thế ông Hồ mới có cớ xỉ nhục mà đối phương đành im lặng. Những ghế trong chính phủ cũng được “chia” cho các đảng phái quốc gia trong âm mưu đó.

Và cũng phải công nhận người đã dám cương quyết từ chối không chịu nhận chức bộ trưởng nội vụ trong cái chính phủ đó là ông Ngô Đình Diệm được coi như khôn ngoan, sáng suốt, vì sớm hiểu rõ bản chất và mưu mô xảo quyệt của ******** ngay từ đầu. Tiếc rằng con người hiếm hoi am hiểu ******** đó đã phải hy sinh oan uổng, khiến cho hàng ngũ quốc gia suy yếu rồi thất bại.

Trước khi sang đoạn 3, chúng tôi đề nghị những ai còn ngưỡng mộ nhà văn Nhất Linh và cụ Nguyễn Hải Thần hãy nghĩ tới những dòng chữ trên của Trần Dân Tiên, tức Hồ Chí Minh mà đừng vô tình hay hữu ý gián tiếp tiếp tay cho luận điệu tuyên truyền của ******** rằng “Hồ Chí Minh là đại anh hùng dân tộc”, như một số cơ quan truyền thông ở Quận Cam và Houston vừa làm khi cho đăng nguyên văn (mà không bình luận ) bài “Huyền Thoại Hồ Chí Minh” của Lữ Phương (tháng 10- và 11-2001).

C.

Điểm 3, mà cũng là điểm chính, chúng tôi có ý bàn ở đây là HCM đã cố gắng núp dưới một bút hiệu vô danh tiểu tốt để cố làm cho quần chúng nghĩ rằng ông chỉ một lòng vì tổ quốc, vì dân, vì nước, chứ không phải vì quyền lợi cá nhân, hay chịu sự chi phối của Liên Xô, tranh đấu cho lý tưởng quốc tế vô sản nào khác. Và ông có đạt được mục đích này không?

Trước hết phải công nhận bước đầu ông đã thành công, khi chưa ai khám phá ra Trần Dân Tiên chính là ông. Đọc Trần Dân Tiên, người dân chất phác liền tin HCM là người yêu nước. TDT không nói gì đến liên hệ mật thiết giữa Nguyễn Ái Quốc với quốc tế 3, tức sau này là Liên Xô. TDT có nói đến việc Nguyễn Aùi Quốc ca tụng Liên Xô, “tuy chưa phải là thiên đàng cho mọi người, nhưng quả thực là thiên đường cho thiếu nhi” (trang 68). Nguyễn Ái Quốc không ca tụng nhiều mà chỉ nói phớt qua mấy hàng về chế độ xã hội của nước Nga rồi viết: “Đây là một chế độ rất hay”. (tr. 64). Nhưng chỉ có thế. Ông không bàn kỹ về chế độ ******** hay chủ thuyết Mác. Trái lại còn có chỗ ông thú nhận mình chẳng hiểu biết nhiều về chủ nghĩa này. (tr…49.), thậm chí nơi trang 35 TDT còn mượn lời một người quen của “ông Nguyễn” để xác quyết: “Lúc ấy ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì tổ quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng.”

TDT đã bênh vực HCM nhiều nhất, khi viết rằng ông Nguyễn bỏ phiếu cho Quốc Tế 3 mà không bỏ phiếu cho Quốc Tế 2 chỉ vì QT3 có nói đến vấn đề thuộc địa (trang 52). Nghĩa là Nguyễn Aùi Quốc, tức HCM vào đảng ******** chỉ vì thấy đảng đó tranh đấu cho quyền lợi các dân tộc sống dưới ách thực dân. Còn luận cứ nào hùng hồn hơn để chứng minh Nguyễn Ái Quốc là người yêu nước? Nhất là khi tác giả cố tình bỏ qua không nhắc tới những liên hệ khác của NAQ với đảng ******** LX và đảng c.s.. Trung Quốc.

Khi mà ******** xua quân vào chiếm Saigon đặt cả nước dưới sự thống trị của họ, thì ta mới hiểu HCM đã thành công đến mức nào trong âm mưu che giấu lý lịch và bộ mặt thật của ông.

Nhưng khi đã biết TDT là chính HCM thì những âm mưu thầm kín nhất của ông dân dần bị phơi bầy. Dĩ nhiên với điều kiện chúng ta phải dựa vào những lời của ông trong tập sách này và đối chiếu nó với những tài liệu chính thống khác, gồm những lời phát biểu của ông, những sử sách ghi lại hành động của ông, nhất là của chính những cán bộ trung thành với ông vô tình tiết lộ trong các tác phẩm của họ, như Hồng Hà, Hoàng Văn Hoan vân vân…. Trong khuôn khổ một bài báo, chúng tôi sẻ chỉ xin dẫn chứng của hai nhân vật này một cách tượng trưng.

Có một điều rất buồn cười khi đọc Trần Dân Tiên, là rất nhiều chỗ ông ta nói đến “bí mật” và “mất tích”, “mất đầu mối”. Nhưng nếu suy nghĩ thì thấy không buồn cười được mà phải tự hỏi: “Có âm mưu gì đây?” vì những chỗ mất tích và bí mật đó thường trùng hợp vào thời gian hành tung của HCM lệ thuộc vào Liên Xô cần được giấu nhẹm.

Nếu TDT là người khác HCM thì có thể chấp nhận là chuyện đó anh ta không biết thực. Nhưng đã là HCM viết tiểu sử của mình thì không thể không biết. Đối với chính mình thì sao lại bí mật, sao lại mất đầu mối được, nếu không phải là lúc đó tác giả (HCM) muốn giấu một cái gì không tốt đẹp cho việc thần thánh hóa bản thân?

Hãy chỉ nêu vài ví dụ:

TDT viết Quấc đến Matxcơva lần đầu để được gặp Lênin và sửng sốt khi biết tin Lênin đã chết, không còn gặp được. Nhưng Hồng Hà, một tay viết sử chính thức của “Đảng ta” thì viết rõ NAQ đến đó là để dự đại hội Nông Dân, lúc ấy Lênin hãy còn sống. Trang 24, HH viết: “Anh (Quấc) ra ga xe lửa, đáp tầu đi Mát-xcơ-va, và nhiệm vụ mới đang chờ anh: chuẩn bị dự hội nghị Quốc Tế nông dân được triệu tập theo sáng kiến của Lênin.”
 
Khi Lênin chết, NAQ đã đang có mặt ở LX, trong khách sạn Luých (Luxe): Trang 80 Hồng Hà viết: “…Như mọi đồng chí khác, anh (Nguyễn) bỏ dở bữa ăn. Các tầng gác trong khách sạn trầm lặng hẳn đi….”

Và còn không biết bao nhiêu việc khác tại LX và Trung Quốc, TDT đã lờ hẳn đi không hề nhắc tới chỉ vì nó có lên hệ đến công tác mật của một cán bộ Quốc Tế c.s.. Ví dụ TDT không nói gì đến việc Quốc là cán bộ của bộ Phương Đông, thuộc Quốc Tế ********. Nhưng trong sách của Hồng Hà (“Bác Hồ trên đất nước Lênin”), trang 107 có phóng ảnh của giấy chứng nhận do Pê Tơ Rốp, bí thư của bộ này ký xác nhận rằng “Đồng Chí Nguyễn Ái Quốc là cán bộ của bộ Phương Đông, ban chấp hành Quốc Tế ********”..

Trang 128 và 129 SĐD còn có ảnh NAQ với lời ghi : “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại đại hội 5 Quốc Tế c.s.” và ảnh giấy mời đ/c NAQ dự hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành QT c.s. mở rộng 1924..

Về việc ông làm việc cho phái bộ Borodin của Liên Xô cạnh Quốc Dân Đảng Trung Quốc, TDT đã nói dối như sau: (trang 69 và 71)

“Bây giờ ông Nguyễn ở Trung Quốc, ông bắt đầu đi bán thuốc lá và bán báo để sống…(….)

“Đọc quảng cáo trên tờ “Quảng Châu nhật báo”, ông tìm đến làm phiên dịch cho ông Bô Rô Đin, cố vấn chính trị của bác sĩ Tôn Dật Tiên và của chính phủ Quảng Châu….”

Nhưng Hồng Hà thì lại viết (trang 148 SĐD):

“Cương vị của anh trong Quốc Tế c.s. và nhiệm vụ công tác của anh ở Quảng Châu chỉ có Borodin và vợ là đ/c Pha Nhị A Xê Mê Nô Vô Na Borodina biết. Về công khai (nghĩa là có mặt bí mật. MV), anh là cố vấn riêng và người phiên dịch của đ/c Borodin, đồng thời là phóng viên của hãng Roxta. Trong cơ quan của Borodin, phủ đại soái LX hoặc lãnh sự quán LX, làm việc giữa tập thể các đồng chí chuyên gia Xô Viết, anh Nguyễn mang thêm một tên Nga là Ni-Lốp-Xky. Nhưng các bạn quen gọi anh là đồng chí Lý” (tắt của Lý Thụy. MV).

Việc thành lập và thống nhất đảng ******** Đông Dương hết sức quan trọng đối với mọi đảng viên. Nhưng trong cuốn sách của ông dưới bút hiệu TDT ông Hồ đã chỉ nói phớt qua vài hàng và nhắc lại như chính ông là ngưòi hô hào thống nhất, chứ không phải do chỉ thị của Quốc Tế c.s. (trang 86). Oâng còn cẩn thận nhắc lại chính cương của đảng là “Dân tộc độc lập, Nhân dân tự do, Dân chúng hạnh phúc” na ná như chủ nghĩa tam dân của bác sĩ Tôn Dật Tiên người sáng lập Trung Hoa Quốc Dân Đảng nữa. Nhưng ta hãy xem Hồng Hà thuật lại việc thống nhất đảng ra sao và ông Hồ đã nói gì trong dịp này (tr.237):

“Anh xúc động mở đầu lời kêu gọi nhân dịp thành lập đảng: “Nhận chỉ thị của Quốc Tế c.s. giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và thấy có nhiệm vụ phải gửi tới anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này….Đảng c.s.VN đã được thành lập. Đó là đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng VN đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chi em bị áp bức, bóc lột.”(Đáng chú ý là ông Hồ không nói gì đến dân tộc đang bị ách đô hộ của thục dân .MV)

Trong dịp này (18 năm trước khi ông viết hồi ký với bút hiệu TDT) ông đã xác nhận ông theo chỉ thị của QT c.s., tức Đệ Tam Quốc Tế, lúc ấy đã do Liên Xô dưới thời Stalin hoàn toàn chi phối. Trong cuốn “Bước Ngoặt Vĩ Đại của lịch sử đảng c.s. VN của Lưu Qúy Kỳ xuất bản cuối thập niên 50, hay đầu thập niên 60, còn có in cả phóng ảnh bức thư viết bằng tiếng Pháp của QTCS.

Nếu cứ tin TDT thì ông Hồ chỉ muốn lập một đảng cách mạng quốc gia, có thể lấy tên gì cũng được chẳng hạn “Hội VN thanh niên cách mạng đồng chí” như trước hoặc “Đảng c.s.” như ngày nay”…(nguyên văn)

Trong “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch”, ông Hồ dưới bút hiệu TDT đã mô tả ông như người yêu nước muốn đoàn kết mọi thành phần quốc gia dân tộc chống thực dân. Nhưng Hồng Hà trong “Bác Hồ trên đất nước Lênin” đã trưng lại nguyên văn lời lẽ của ông nhắn Nguyễn Thị Minh Khai và Tú Hưu phải tiêu diệt bọn Tờ Rốt Kít:

“Hai là, khắp nơi và cả ở VN, bọn Tờ Rốt Kít đã bộc lộ chân tướng phản động của chúng. Đảng ta phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa Phát Xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị. Không được có thỏa hiệp nào, nhượng bộ nào với chúng.” (SĐD trang 314)

Chính vì cái chủ trương đó mà về sau những Phan Văn Hùm, TrầnVăn Thạch, Tạ Thu Thâu và rồi cả Dương Bạch Mai là những người có xu hướng đệ tứ (tức thuộc nhóm Tờ Rốt Kít) đều bị chết thảm.

Ai cũng biết Trốt Xky là một trong những lãnh tụ ******** lớn nhất thời Lênin. Sau khi Lênin chết thì ông trở thành đối thủ của Stalin và đã bị Stalin trục xuất rồi cho người ám sát. Khi Nguyễn Ái Quốc chủ trương tiêu diệt (về chính trị?) những người thuộc nhóm này, chính là vì ông ta đã lệ thuộc hoàn toàn vào chính sách đàn áp dã man của Stalin. Không có cách gì chạy tội được.

Tuy về đảng ******** VN trần Dân Tiên chỉ nói phớt qua và không cho biết ông Hồ nắm chức vụ gì quan trọng trong đó. Nhưng về mặt trận Việt Minh (là một tổ chức ngoại vi của đảng ********, phát xuất từ tổ chức yêu nước của ông Hồ học Lãm với danh xưng “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh hội”, và chính ông HHL đã gọi tắt là Việt Minh, như sẽ nói kỹ sau đây) thì được TDT nói đến nhiều hơn và còn xác định ông Hồ là lãnh tụ Việt Minh (trang 103)
 
Nguyễn Ái Quốc là bút danh của nhóm hoạt động yêu nước VN tại Pháp (nhóm này đứng đầu là cụ Phan Châu Trinh) Đảng và HỒ chó Minh nhận vơ danh xưng Nguyễn Ái Quốc.!
ĐM có thông tin chính thằng Sinh Cung chỉ điểm Pháp bắt cụ Phan Châu Trinh lấy tiền thưởng.
Cái NV này có thật, mà thông tin về nv này nó loạn vãi lúc thế này lúc thế kia :tire:
 
Top