Hôm qua có đọc bài viết này trên xàm
Định nghĩa
Kiến trúc cảnh quan là nghệ thuật, lập kế hoạch phát triển, thiết kế, quản lý, bảo tồn và phục chế lại cảnh quan của khu vực và địa điểm xây dựng của con người. Phạm vi hoạt động của kiến trúc cảnh quan liên quan đến thiết kế kiến trúc, thiết kế tổng mặt bằng, phát triển bất động sản.
Nếu cảnh quan là bức tranh tái hiện lại quan cảnh thiên nhiên, địa hình thì kiến trúc cảnh quan là sắp đặt và mô phỏng phong cảnh. KTS thiết kế cảnh quan sẽ phải tạo ra một khung cảnh mỹ lệ trên một vùng đất nhất định.
Và đương nhiên phần tự nhiên là phần không thể thiếu. Việc thiết lập và cải tạo môi trường vật, tổ chức nghệ thuật kiến trúc là mang lại sự hài hòa giữa 3 yếu tố: Thiên nhiên - Con người - Kiến trúc.
Tầm quan trọng
Tầm quan trọng của kiến trúc cảnh quan mang lại những ý nghĩa không nhỏ với các dự án, công trình:
-Lợi ích với môi trường: Chất lượng cuộc sống đi lên nhờ một phần không nhỏ vào sự hòa hợp với thiên nhiên với môi trường sống trong lành, nâng cao sức khỏe con người, giảm thiểu các vấn đề về ô nhiễm môi trường, tác động lên hiệu ứng nhà kính sẽ giảm đi
-Lợi ích xã hội: Những công trình kiến trúc cảnh quan tạo nên một không gian sống khá lý tưởng cho con người. Những kiến trúc mang tính kế thừa truyền thống dân tộc sẽ tạo ra một môi trường xã hội thẩm mỹ cao. Không chỉ để lại tinh hoa cho những thế hệ tương lại mà còn đem lại những hiện mạo mới, diện mạo mới lại trong quá trình hội nhập và phát triển ngành kiến trúc cảnh quan
-Lợi ích kinh tế: Việc vận dụng công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến của con người vào việc xây dựng cảnh quan hiện đại đã sản sinh ra nhiều nguồn năng lượng tự nhiên. Nhờ vậy mà có thể giảm điện năng tiêu thụ, tối ưu hóa các tiện ích xã hội góp phần thúc đẩy ngành kinh tế liên quan phát triển mạnh mẽ
Phân loại
Thiết kế cảnh quan tạo nên sự cân bằng của các khu vực tự nhiên và xây dựng. Theo đó, KTCQ được chia làm 2 loại như sau:
-Cảnh quan tự nhiên: Bao gồm những yếu tố tự nhiên không có sự tác động của con người Cảnh quan ngoại thất, cảnh quan thiên nhiên bao gồm địa hình, địa mạo, phong cảnh, cây xanh, khí hậu không có sự tác động của con người…tất cả đóng vai trò như một phong nền, thậm chí như một nguồn gốc của sự cảm hứng, một bộ phận hữu cơ của cơ thể kiến trúc.
-Cảnh quan nhân tạo: Là cảnh quan thiên nhiên dưới sự tác động con người, tạo nên những cảnh quan mới độc đáo hơn.
Lịch Sử phát triển của kiến trúc cảnh quan
-Mặc dù cảnh quan đóng 1 vai trò ko hề nhỏ trong Kiến trúc và quy hoạch từ rất lâu trước đó nhưng thuật ngữ “Kiến trúc cảnh quan” (Landscape Architecture) mới chính thức trở thành một ngành nghề sau khi được nhắc đến bởi KTS Frederick Law Olmsted (1822-1903). Từ thời điểm ông thiết kế Công viên Trung tâm ở New York - Mỹ khoảng năm 1865.
-Đây là ngành học nghiên cứu và thiết kế, tổ chức không gian theo các yêu cầu về giá trị thẩm mỹ, môi trường và văn hóa. Không chỉ là thiết kế kiến trúc, ngành này còn quy hoạch không gian và tạo ra giá trị sử dụng cho không gian đó. Những không gian mở được thiết kế còn mang yếu tố hài hòa với thiên nhiên, thuận lợi sử dụng.
KTS Frederick Law Olmsted (1822-1903)
-Kiến trúc cảnh quan xuất hiện ở khắp mọi nơi xung quanh chúng ta. Chỉ cần bước ra đường là thấy, từng lối đi, khuôn viên, con phố, vị trí các tòa nhà, cây xanh, hồ nước… Cách mà chúng phân bố, được sắp xếp ra sao chính là kết quả của kiến trúc cảnh quan. Mục tiêu mà nó hướng tới là sự thuận tiện, nét đẹp trong không gian sống. Hơn nữa là vấn đề bảo vệ môi trường.
Cảnh quan Công viên Trung tâm New York từ cuối thế kỷ 19 đến nay
-Thời kỳ phong kiến phương Tây.
Đặc điểm phát triển cảnh quan thời kỳ này bắt đầu từ sự cải tạo và làm đẹp cảnh quan ở các khu nông trang của tầng lớp quý tộc phong kiến để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của tự nhiên và thể hiện vị thế trong xã hội. Nghệ thuật tranh phong cảnh, thơ phong cảnh đã được vận dụng vào trong xây dựng vườn cảnh. Đương nhiên, sự hưởng thụ những tác phẩm cảnh quan này chỉ dành riêng cho các tầng lớp quý tộc và nó được vây quanh bởi các bức tường rào. Đặc điểm cảnh quan nổi bật trong các khu vườn thời kỳ này là thể hiện cái đẹp hình thức, các tường rào cây xanh được cắt tỉa tạo hình tỉ mỉ, các bồn hoa thiết kế mô phỏng các dạng hoa văn trang trí. Chủ nhà là người sáng tác và quyết định chính cho các công trình, người làm nghề vườn cảnh dù có tài giỏi đến đâu chỉ đóng vai trò thứ yếu - “bảy phần chủ, ba phần thợ”. Qua đó có thể thấy, trong tư tưởng xây dựng cảnh quan của tầng lớp quý tộc phong kiến trước đây vẫn không thoát ly khỏi tư tưởng tiểu nông.
Cảnh quan cung điện Versaille (Pháp) một công trình cảnh quan tiêu biểu cho thời kỳ xã hội phong kiến phương Tây
-Thời kỳ cách mạng công nghiệp
Cách mạng công nghiệp bắt nguồn từ nước Anh lan tỏa ra nhiều nước trên thế giới. Nó đã mang lại những thay đổi to lớn trong xã hội, phong trào công nhân và giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ. Các đô thị không chỉ còn là nơi ở dành cho giới quý tộc mà còn là nơi ở và làm việc của đại bộ phận giai cấp công nhân. Một đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là cư dân tập trung đông đúc trong các đô thị và nhu cầu cần có những không gian xanh cảnh quan, phục vụ nghỉ ngơi giải trí, tái tạo sức lao động bắt đầu xuất hiện.
KTS Frederick Law Olmsted đã từng nói: “Văn minh con người không ngừng chế tạo ra các loại thuốc để chiến thắng bệnh tật, nhưng tâm bệnh làm tổn hại sức khỏe, sự hạnh phúc của họ cũng đang ngày càng nghiêm trọng và chưa có thuốc chữa, chỉ có luyện tập trong môi trường ôn hòa và dưới ánh sáng tự nhiên mới có thể làm cân bằng tuần hoàn khí huyết, thư giãn đầu óc, khiến con người được hồi sinh sức khỏe, được khỏe mạnh và vui vẻ”. Những nơi thích hợp nhất để có thể đạt được điều này là những khu vườn, nông trang với địa hình cao thấp, có thảm cỏ, đám cây, mặt nước gợn sóng vẫy gọi sẽ có tác dụng tốt cho việc cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta.
Cảnh quan Đại học Stanford một công trình khác của KTS Frederick Law Olmsted
Kiến trúc cảnh quan và quy hoạch đô thị tại Việt Nam
-Ở Việt Nam, từ xưa đến nay thiên nhiên trở thành cái nền cho kiến trúc. Thiên nhiên bao giờ cũng đẹp mà kiến trúc thì không phải bao giờ cũng thế. Thiên nhiên luôn chứa đựng trong nó sự đa dạng phong phú và khả năng sáng tạo đến vô cùng, vô tận… Trong khi tất cả những gì Kiến trúc làm được vẫn chỉ là những ngôi nhà vuông vắn, ngay ngắn… Ngay cả lăng tẩm, đền đài kỳ vĩ lớn lao và phức tạp nhất cũng không thể sánh được với vẻ tinh xảo đa dạng và kỳ bí mà thiên nhiên ban tặng. Ý thức được điều này, con người đã sớm biết cách sử dụng thiên nhiên, lợi dụng thiên nhiên để tô điểm thêm cho các sáng tạo nghệ thuật của mình.
-Điều này có thể thấy rõ nét nhất ở những cung điện, lăng tẩm ở Huế (hay còn sót lại ở diện mạo nhiều Thành phố khác). Ở Huế, sự khéo léo thông minh về tạo dựng cảnh quan của ông cha đã tạo nên nét đẹp thơ mộng, mỗi góc phố, mỗi cung đường đều chứa đầy sức cuốn hút.
Đại nội kinh thành Huế là nơi ở của nhiều đời vua nhà Nguyễn, với tổng diện tích lên tới 36 ha, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy mật độ xây dựng rất thấp (dưới 10%) còn lại rất chú trọng cảnh quan với những hồ nước, thảm cỏ, cây xanh tạo không gian sống rất tuyệt vời.
Cảnh quan Kinh thành Huế
-Đến giai đoạn thực dân Pháp cai trị. Sau khi Pháp chiếm Hà Nội lần thứ 2 (1882), cảnh quan đô thị Hà Nội được thay đổi. Đặc biệt, quy hoạch Hà Nội được tiến hành mạnh mẽ khi hòa ước Harmand (1883) và Patennotrê (1884) được ký kết, triều đình Huế chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp.Với mong muốn biến Hà Nội trở thành một thành phố châu Âu, quy hoạch đường phố Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc có nhiều dấu ấn và điểm nhấn. Các quy hoạch này vẫn còn nhiều được lưu giữ và sử dụng đến ngày nay.
Khi bắt đầu xây dựng Hà Nội, thực dân Pháp chú trọng vào việc cải tạo, mở rộng và mở thêm nhiều con phố, đặc biệt là những con phố trung tâm, nay được biết đến với cái tên “HN 36 phố phường”.
Trục đường nối Tràng Thi và Hoàng thành cũ – nơi đặt trụ sở của bộ máy chỉ huy quân sự là con đường đầu tiên được mở. Các phố Tràng Tiền, Hàng Khay nằm trên trục đường này đã được chính quyền thực dân chú trọng đầu tư ngay từ những năm 1884 - 1886, và đã trở thành trục trung tâm thương nghiệp và dịch vụ, mở đầu thời kỳ xây dựng khu phố Pháp ở Hà Nội.
Bản đồ Quy hoạch Hà Nội 1882
Năm 1886, toàn bộ nhà cũ bị phá bỏ. Các con phố cũ được mở rộng, rải nhựa đường. Cửa hiệu buôn bán và dịch vụ mở ra ở hai bên mặt phố. Các phố Hàng Trống, Bà Triệu, Hàng Bài ngày nay được mở mới. Đây là hệ thống đường phố đầu tiên được đầu tư kỹ lưỡng ở Hà Nội, cũng là cơ sở cho sự phát triển khu trung tâm hành chính sau này. Các phố Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo ngày nay được phát triển tiếp theo sau đó.
Điểm cần nhắc đến trong việc quy hoạch đường phố Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc là quy hoạch đô thị theo mô hình hiện đại ô bàn cờ. Đây là mô hình quy hoạch được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Mô hình này được ưa chuộng vì tính thuận tiện của nó. Quy hoạch bàn cờ giúp các con đường ở Hà Nội thông nhau, cư dân dễ dàng định vị vị trí của mình, giúp việc tìm đường dễ dàng và tính chính xác khoảng cách điểm đến cần đi.
Giao thông của Hà Nội sau theo quy hoạch ô bàn cờ cũng thuận lợi hơn, giảm thiểu tình trạng các con phố ngoằng nghèo nhiều ngõ cụt so với thời kỳ trước đó. Những can thiệp về việc quy hoạch đường phố của người Pháp đã làm thay đổi toàn bộ đường xá và giao thông của Hà Nội xưa. Các tuyến đường rộng rãi, vuông góc, tạo thành mạng lưới giao thông thuận tiện cho người dân. Nhờ có giao thông phát triển, các cửa hiệu, cửa hàng buôn bán, dịch vụ cũng bắt đầu được xây dựng ở hai bên đường phố. Đô thị Hà Nội bắt đầu phát triển và sầm uất hơn.
Giai đoạn sau 1975
Giai đoạn sau giải phóng, chính quyền VN không thừa hưởng được những tinh hoa trước đó về quy hoạch và cảnh quan từ thời nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc để lại. Quy hoạch đô thị chồng chéo, nệ cộ, đường xá được xây dựng không có lộ trình dài hơi, bạ đâu xây đấy. Dẫn đến bức tranh toàn cảnh rất xấu cho bộ mặt đô thị. Vấn đề cảnh quan ko đc coi trọng đúng mức. Những dự án công viên cây xanh, hồ điều hòa thường rất nhỏ so với tầm vóc của các khu đô thị, chủ yếu tập trung tối đa diện tích vào xây dựng dân dụng cơ bản.
Ví dụ: Công viên Nhân Chính tại Hà Nội.
Dự án này Công ty CP Tập đoàn Vina Megastar được UBND Thành phố Hà Nội giao là chủ đầu tư nghiên cứu quy hoạch chi tiết Công viên Nhân Chính tại văn bản số 578/UBND-KH&ĐT ngày 23/8/2008 và giao làm chủ đầu tư thực hiện dự án đầu tư xây dựng Công viên Nhân Chính tại văn bản số 1965/UBND-XD ngày 11/3/2009 theo phương thức xã hội hoá. Lên dự án từ những năm 2008-2009, nhưng nằm đắp chiếu đến tận năm 2016 mới chính thức khởi công và đến tháng 9/2018 mới hoàn thành và đi vào hoạt động. Không hiểu các đời lãnh đạo ăn chia kiểu gì mà 1 cái công viên chỉ rộng 13,2 ha, với mức đầu tư 300 tỷ đồng (không quá lớn) lại kéo dài gần 10 năm. Hơn nữa, đây là công trình quan trọng của quận Thanh Xuân và Cầu Giấy, là lá phổi xanh nằm giữa khu vực có mật độ nhà cao tầng thuộc dạng lớn nhất Hà Nội. Nhìn lại hơn 100 năm trước, thực dân Pháp quy hoạch cơ bản toàn Hà Nội cũng chỉ mất có 14 năm.
Công viên Nhân Chính
-Vị trí địa lý của HN được thiên nhiên ưu đãi ban tặng 1 con sông rất đẹp, đó là sông Hồng, nhưng gần 50 năm qua HN đã không thể xây dựng và quy hoạch một thành phố ven sông đáng sống. Với điều kiện tự nhiên như vậy nếu ở các nước phát triển kiểu gì cũng có những khu đô thị ven sông đẳng cấp, nhưng đến nay khu vực ven 2 bờ sông Hồng chẳng khác gì những khu ổ chuột. Về mặt này HN kém xa Đà Nẵng, một thành phố vừa có sông lớn vừa có biển.
Quy hoạch Đà Nẵng
Vấn đề cảnh quan đô thị chồng chéo, chật hẹp đã đành, nhưng cảnh quan dân dụng còn tệ hại hơn nguyên nhân chính là tư duy của đa số người VN còn rất hạn hẹp. Với những thành phố lớn, đất chật người đông, đa phần người dân chỉ sống trong những căn nhà hộp kín bưng hoặc chung cư chật hẹp, coi như ko có cảnh quan. Còn lại một số ít những người có điều kiện cũng ko có đủ kiến thức về xây dựng & kiến trúc. Những căn nhà đc cho là biệt thự (villa) mọc lên ko theo những quy chuẩn về xây dựng. Nhà xây rất to, hoành tráng, thiết kế rất cầu kỳ nhưng không gian sân vườn phụ trợ lại rất nhỏ và ko có tính thẩm mỹ... Những công trình như vậy chủ yếu khoe mẽ mà chưa thực sự đc gọi là tận hưởng cuộc sống. Chủ yếu người ta tập trung vào căn nhà mà ko quan tâm đến cảnh quan xung quanh. Nhiều ngôi nhà thậm chí chẳng ăn nhập gì với cảnh quan và môi trường khiến cho góc nhìn thẩm mỹ trở nên kệch cỡm...
Dưới đây là 1 vài ví dụ.
Kết luận:
Có lẽ cảnh quan nói riêng và kiến trúc xây dựng nói chung của Việt Nam đi sau thế giới khoảng 200 năm. Để nâng cao tầm nhìn và tư duy có lẽ cần rất nhiều thời gian nữa, chưa kể cơ chế tại VN chưa tạo điều kiện tối đa để phát triển xây dựng
https://xamvn.com/r/nha-lau-dai-xay-het-10-ty-khong-a.603232/
Tao muốn viết vài dòng về kiến trúc cảnh quan, một vấn đề khá quan trọng nhưng chưa được nhìn nhận đúng mực tại VN.Định nghĩa
Kiến trúc cảnh quan là nghệ thuật, lập kế hoạch phát triển, thiết kế, quản lý, bảo tồn và phục chế lại cảnh quan của khu vực và địa điểm xây dựng của con người. Phạm vi hoạt động của kiến trúc cảnh quan liên quan đến thiết kế kiến trúc, thiết kế tổng mặt bằng, phát triển bất động sản.
Nếu cảnh quan là bức tranh tái hiện lại quan cảnh thiên nhiên, địa hình thì kiến trúc cảnh quan là sắp đặt và mô phỏng phong cảnh. KTS thiết kế cảnh quan sẽ phải tạo ra một khung cảnh mỹ lệ trên một vùng đất nhất định.
Và đương nhiên phần tự nhiên là phần không thể thiếu. Việc thiết lập và cải tạo môi trường vật, tổ chức nghệ thuật kiến trúc là mang lại sự hài hòa giữa 3 yếu tố: Thiên nhiên - Con người - Kiến trúc.
Tầm quan trọng
Tầm quan trọng của kiến trúc cảnh quan mang lại những ý nghĩa không nhỏ với các dự án, công trình:
-Lợi ích với môi trường: Chất lượng cuộc sống đi lên nhờ một phần không nhỏ vào sự hòa hợp với thiên nhiên với môi trường sống trong lành, nâng cao sức khỏe con người, giảm thiểu các vấn đề về ô nhiễm môi trường, tác động lên hiệu ứng nhà kính sẽ giảm đi
-Lợi ích xã hội: Những công trình kiến trúc cảnh quan tạo nên một không gian sống khá lý tưởng cho con người. Những kiến trúc mang tính kế thừa truyền thống dân tộc sẽ tạo ra một môi trường xã hội thẩm mỹ cao. Không chỉ để lại tinh hoa cho những thế hệ tương lại mà còn đem lại những hiện mạo mới, diện mạo mới lại trong quá trình hội nhập và phát triển ngành kiến trúc cảnh quan
-Lợi ích kinh tế: Việc vận dụng công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến của con người vào việc xây dựng cảnh quan hiện đại đã sản sinh ra nhiều nguồn năng lượng tự nhiên. Nhờ vậy mà có thể giảm điện năng tiêu thụ, tối ưu hóa các tiện ích xã hội góp phần thúc đẩy ngành kinh tế liên quan phát triển mạnh mẽ
Phân loại
Thiết kế cảnh quan tạo nên sự cân bằng của các khu vực tự nhiên và xây dựng. Theo đó, KTCQ được chia làm 2 loại như sau:
-Cảnh quan tự nhiên: Bao gồm những yếu tố tự nhiên không có sự tác động của con người Cảnh quan ngoại thất, cảnh quan thiên nhiên bao gồm địa hình, địa mạo, phong cảnh, cây xanh, khí hậu không có sự tác động của con người…tất cả đóng vai trò như một phong nền, thậm chí như một nguồn gốc của sự cảm hứng, một bộ phận hữu cơ của cơ thể kiến trúc.
-Cảnh quan nhân tạo: Là cảnh quan thiên nhiên dưới sự tác động con người, tạo nên những cảnh quan mới độc đáo hơn.
Lịch Sử phát triển của kiến trúc cảnh quan
-Mặc dù cảnh quan đóng 1 vai trò ko hề nhỏ trong Kiến trúc và quy hoạch từ rất lâu trước đó nhưng thuật ngữ “Kiến trúc cảnh quan” (Landscape Architecture) mới chính thức trở thành một ngành nghề sau khi được nhắc đến bởi KTS Frederick Law Olmsted (1822-1903). Từ thời điểm ông thiết kế Công viên Trung tâm ở New York - Mỹ khoảng năm 1865.
-Đây là ngành học nghiên cứu và thiết kế, tổ chức không gian theo các yêu cầu về giá trị thẩm mỹ, môi trường và văn hóa. Không chỉ là thiết kế kiến trúc, ngành này còn quy hoạch không gian và tạo ra giá trị sử dụng cho không gian đó. Những không gian mở được thiết kế còn mang yếu tố hài hòa với thiên nhiên, thuận lợi sử dụng.
KTS Frederick Law Olmsted (1822-1903)
-Kiến trúc cảnh quan xuất hiện ở khắp mọi nơi xung quanh chúng ta. Chỉ cần bước ra đường là thấy, từng lối đi, khuôn viên, con phố, vị trí các tòa nhà, cây xanh, hồ nước… Cách mà chúng phân bố, được sắp xếp ra sao chính là kết quả của kiến trúc cảnh quan. Mục tiêu mà nó hướng tới là sự thuận tiện, nét đẹp trong không gian sống. Hơn nữa là vấn đề bảo vệ môi trường.
Cảnh quan Công viên Trung tâm New York từ cuối thế kỷ 19 đến nay
-Thời kỳ phong kiến phương Tây.
Đặc điểm phát triển cảnh quan thời kỳ này bắt đầu từ sự cải tạo và làm đẹp cảnh quan ở các khu nông trang của tầng lớp quý tộc phong kiến để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của tự nhiên và thể hiện vị thế trong xã hội. Nghệ thuật tranh phong cảnh, thơ phong cảnh đã được vận dụng vào trong xây dựng vườn cảnh. Đương nhiên, sự hưởng thụ những tác phẩm cảnh quan này chỉ dành riêng cho các tầng lớp quý tộc và nó được vây quanh bởi các bức tường rào. Đặc điểm cảnh quan nổi bật trong các khu vườn thời kỳ này là thể hiện cái đẹp hình thức, các tường rào cây xanh được cắt tỉa tạo hình tỉ mỉ, các bồn hoa thiết kế mô phỏng các dạng hoa văn trang trí. Chủ nhà là người sáng tác và quyết định chính cho các công trình, người làm nghề vườn cảnh dù có tài giỏi đến đâu chỉ đóng vai trò thứ yếu - “bảy phần chủ, ba phần thợ”. Qua đó có thể thấy, trong tư tưởng xây dựng cảnh quan của tầng lớp quý tộc phong kiến trước đây vẫn không thoát ly khỏi tư tưởng tiểu nông.
Cảnh quan cung điện Versaille (Pháp) một công trình cảnh quan tiêu biểu cho thời kỳ xã hội phong kiến phương Tây
-Thời kỳ cách mạng công nghiệp
Cách mạng công nghiệp bắt nguồn từ nước Anh lan tỏa ra nhiều nước trên thế giới. Nó đã mang lại những thay đổi to lớn trong xã hội, phong trào công nhân và giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ. Các đô thị không chỉ còn là nơi ở dành cho giới quý tộc mà còn là nơi ở và làm việc của đại bộ phận giai cấp công nhân. Một đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là cư dân tập trung đông đúc trong các đô thị và nhu cầu cần có những không gian xanh cảnh quan, phục vụ nghỉ ngơi giải trí, tái tạo sức lao động bắt đầu xuất hiện.
KTS Frederick Law Olmsted đã từng nói: “Văn minh con người không ngừng chế tạo ra các loại thuốc để chiến thắng bệnh tật, nhưng tâm bệnh làm tổn hại sức khỏe, sự hạnh phúc của họ cũng đang ngày càng nghiêm trọng và chưa có thuốc chữa, chỉ có luyện tập trong môi trường ôn hòa và dưới ánh sáng tự nhiên mới có thể làm cân bằng tuần hoàn khí huyết, thư giãn đầu óc, khiến con người được hồi sinh sức khỏe, được khỏe mạnh và vui vẻ”. Những nơi thích hợp nhất để có thể đạt được điều này là những khu vườn, nông trang với địa hình cao thấp, có thảm cỏ, đám cây, mặt nước gợn sóng vẫy gọi sẽ có tác dụng tốt cho việc cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta.
Cảnh quan Đại học Stanford một công trình khác của KTS Frederick Law Olmsted
Kiến trúc cảnh quan và quy hoạch đô thị tại Việt Nam
-Ở Việt Nam, từ xưa đến nay thiên nhiên trở thành cái nền cho kiến trúc. Thiên nhiên bao giờ cũng đẹp mà kiến trúc thì không phải bao giờ cũng thế. Thiên nhiên luôn chứa đựng trong nó sự đa dạng phong phú và khả năng sáng tạo đến vô cùng, vô tận… Trong khi tất cả những gì Kiến trúc làm được vẫn chỉ là những ngôi nhà vuông vắn, ngay ngắn… Ngay cả lăng tẩm, đền đài kỳ vĩ lớn lao và phức tạp nhất cũng không thể sánh được với vẻ tinh xảo đa dạng và kỳ bí mà thiên nhiên ban tặng. Ý thức được điều này, con người đã sớm biết cách sử dụng thiên nhiên, lợi dụng thiên nhiên để tô điểm thêm cho các sáng tạo nghệ thuật của mình.
-Điều này có thể thấy rõ nét nhất ở những cung điện, lăng tẩm ở Huế (hay còn sót lại ở diện mạo nhiều Thành phố khác). Ở Huế, sự khéo léo thông minh về tạo dựng cảnh quan của ông cha đã tạo nên nét đẹp thơ mộng, mỗi góc phố, mỗi cung đường đều chứa đầy sức cuốn hút.
Đại nội kinh thành Huế là nơi ở của nhiều đời vua nhà Nguyễn, với tổng diện tích lên tới 36 ha, nhưng có thể dễ dàng nhận thấy mật độ xây dựng rất thấp (dưới 10%) còn lại rất chú trọng cảnh quan với những hồ nước, thảm cỏ, cây xanh tạo không gian sống rất tuyệt vời.
Cảnh quan Kinh thành Huế
-Đến giai đoạn thực dân Pháp cai trị. Sau khi Pháp chiếm Hà Nội lần thứ 2 (1882), cảnh quan đô thị Hà Nội được thay đổi. Đặc biệt, quy hoạch Hà Nội được tiến hành mạnh mẽ khi hòa ước Harmand (1883) và Patennotrê (1884) được ký kết, triều đình Huế chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp.Với mong muốn biến Hà Nội trở thành một thành phố châu Âu, quy hoạch đường phố Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc có nhiều dấu ấn và điểm nhấn. Các quy hoạch này vẫn còn nhiều được lưu giữ và sử dụng đến ngày nay.
Khi bắt đầu xây dựng Hà Nội, thực dân Pháp chú trọng vào việc cải tạo, mở rộng và mở thêm nhiều con phố, đặc biệt là những con phố trung tâm, nay được biết đến với cái tên “HN 36 phố phường”.
Trục đường nối Tràng Thi và Hoàng thành cũ – nơi đặt trụ sở của bộ máy chỉ huy quân sự là con đường đầu tiên được mở. Các phố Tràng Tiền, Hàng Khay nằm trên trục đường này đã được chính quyền thực dân chú trọng đầu tư ngay từ những năm 1884 - 1886, và đã trở thành trục trung tâm thương nghiệp và dịch vụ, mở đầu thời kỳ xây dựng khu phố Pháp ở Hà Nội.
Bản đồ Quy hoạch Hà Nội 1882
Năm 1886, toàn bộ nhà cũ bị phá bỏ. Các con phố cũ được mở rộng, rải nhựa đường. Cửa hiệu buôn bán và dịch vụ mở ra ở hai bên mặt phố. Các phố Hàng Trống, Bà Triệu, Hàng Bài ngày nay được mở mới. Đây là hệ thống đường phố đầu tiên được đầu tư kỹ lưỡng ở Hà Nội, cũng là cơ sở cho sự phát triển khu trung tâm hành chính sau này. Các phố Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo ngày nay được phát triển tiếp theo sau đó.
Điểm cần nhắc đến trong việc quy hoạch đường phố Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc là quy hoạch đô thị theo mô hình hiện đại ô bàn cờ. Đây là mô hình quy hoạch được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Mô hình này được ưa chuộng vì tính thuận tiện của nó. Quy hoạch bàn cờ giúp các con đường ở Hà Nội thông nhau, cư dân dễ dàng định vị vị trí của mình, giúp việc tìm đường dễ dàng và tính chính xác khoảng cách điểm đến cần đi.
Giao thông của Hà Nội sau theo quy hoạch ô bàn cờ cũng thuận lợi hơn, giảm thiểu tình trạng các con phố ngoằng nghèo nhiều ngõ cụt so với thời kỳ trước đó. Những can thiệp về việc quy hoạch đường phố của người Pháp đã làm thay đổi toàn bộ đường xá và giao thông của Hà Nội xưa. Các tuyến đường rộng rãi, vuông góc, tạo thành mạng lưới giao thông thuận tiện cho người dân. Nhờ có giao thông phát triển, các cửa hiệu, cửa hàng buôn bán, dịch vụ cũng bắt đầu được xây dựng ở hai bên đường phố. Đô thị Hà Nội bắt đầu phát triển và sầm uất hơn.
Giai đoạn sau 1975
Giai đoạn sau giải phóng, chính quyền VN không thừa hưởng được những tinh hoa trước đó về quy hoạch và cảnh quan từ thời nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc để lại. Quy hoạch đô thị chồng chéo, nệ cộ, đường xá được xây dựng không có lộ trình dài hơi, bạ đâu xây đấy. Dẫn đến bức tranh toàn cảnh rất xấu cho bộ mặt đô thị. Vấn đề cảnh quan ko đc coi trọng đúng mức. Những dự án công viên cây xanh, hồ điều hòa thường rất nhỏ so với tầm vóc của các khu đô thị, chủ yếu tập trung tối đa diện tích vào xây dựng dân dụng cơ bản.
Ví dụ: Công viên Nhân Chính tại Hà Nội.
Dự án này Công ty CP Tập đoàn Vina Megastar được UBND Thành phố Hà Nội giao là chủ đầu tư nghiên cứu quy hoạch chi tiết Công viên Nhân Chính tại văn bản số 578/UBND-KH&ĐT ngày 23/8/2008 và giao làm chủ đầu tư thực hiện dự án đầu tư xây dựng Công viên Nhân Chính tại văn bản số 1965/UBND-XD ngày 11/3/2009 theo phương thức xã hội hoá. Lên dự án từ những năm 2008-2009, nhưng nằm đắp chiếu đến tận năm 2016 mới chính thức khởi công và đến tháng 9/2018 mới hoàn thành và đi vào hoạt động. Không hiểu các đời lãnh đạo ăn chia kiểu gì mà 1 cái công viên chỉ rộng 13,2 ha, với mức đầu tư 300 tỷ đồng (không quá lớn) lại kéo dài gần 10 năm. Hơn nữa, đây là công trình quan trọng của quận Thanh Xuân và Cầu Giấy, là lá phổi xanh nằm giữa khu vực có mật độ nhà cao tầng thuộc dạng lớn nhất Hà Nội. Nhìn lại hơn 100 năm trước, thực dân Pháp quy hoạch cơ bản toàn Hà Nội cũng chỉ mất có 14 năm.
Công viên Nhân Chính
-Vị trí địa lý của HN được thiên nhiên ưu đãi ban tặng 1 con sông rất đẹp, đó là sông Hồng, nhưng gần 50 năm qua HN đã không thể xây dựng và quy hoạch một thành phố ven sông đáng sống. Với điều kiện tự nhiên như vậy nếu ở các nước phát triển kiểu gì cũng có những khu đô thị ven sông đẳng cấp, nhưng đến nay khu vực ven 2 bờ sông Hồng chẳng khác gì những khu ổ chuột. Về mặt này HN kém xa Đà Nẵng, một thành phố vừa có sông lớn vừa có biển.
Quy hoạch Đà Nẵng
Vấn đề cảnh quan đô thị chồng chéo, chật hẹp đã đành, nhưng cảnh quan dân dụng còn tệ hại hơn nguyên nhân chính là tư duy của đa số người VN còn rất hạn hẹp. Với những thành phố lớn, đất chật người đông, đa phần người dân chỉ sống trong những căn nhà hộp kín bưng hoặc chung cư chật hẹp, coi như ko có cảnh quan. Còn lại một số ít những người có điều kiện cũng ko có đủ kiến thức về xây dựng & kiến trúc. Những căn nhà đc cho là biệt thự (villa) mọc lên ko theo những quy chuẩn về xây dựng. Nhà xây rất to, hoành tráng, thiết kế rất cầu kỳ nhưng không gian sân vườn phụ trợ lại rất nhỏ và ko có tính thẩm mỹ... Những công trình như vậy chủ yếu khoe mẽ mà chưa thực sự đc gọi là tận hưởng cuộc sống. Chủ yếu người ta tập trung vào căn nhà mà ko quan tâm đến cảnh quan xung quanh. Nhiều ngôi nhà thậm chí chẳng ăn nhập gì với cảnh quan và môi trường khiến cho góc nhìn thẩm mỹ trở nên kệch cỡm...
Dưới đây là 1 vài ví dụ.
Kết luận:
Có lẽ cảnh quan nói riêng và kiến trúc xây dựng nói chung của Việt Nam đi sau thế giới khoảng 200 năm. Để nâng cao tầm nhìn và tư duy có lẽ cần rất nhiều thời gian nữa, chưa kể cơ chế tại VN chưa tạo điều kiện tối đa để phát triển xây dựng
Sửa lần cuối:



