Công Hầu Bá Tử Nam. Phân phong tước vị

1-Tước vị thời phong kiến
-Thời kỳ phong kiến phân quyền của Trung Quốc cổ đại, cụ thể, rõ nét nhất là thời nhà Chu. Sau khi phạt Trụ, chấm dứt triều đại nhà Thương. Chu Vũ Vương - Cơ Phát lên ngôi, áp dụng cách cai trị và điều hành đất nước bằng việc chia nhỏ lãnh thổ của mình thành nhiều tiểu quốc (các quốc gia nhỏ hơn). Sau đó chọn 1 người với danh nghĩa Chư hầu để cai quản các tiểu quốc đó. Người được chọn làm chư hầu có thể là họ hàng thân thích của vua Chu, có thể là công thần được vua Chu tín nhiệm, cũng có thể là các già làng, trưởng bản tại địa phương, đức cao vọng trọng.
-Vua Chu lúc này chỉ yên vị tại kinh đô Cảo, điều hành từ xa. Còn các Chư hầu cai quản địa phận mình được phân, hàng năm cống nạp lên triều đình. Giống như hiện nay, ông chủ tịch nước ngồi ở Thủ Đô, mỗi tỉnh lại có 1 ông chủ tịch tỉnh quản lý, hàng năm đóng thuế về ngân sách nhà nước.

-Chư hầu thời xưa có 5 cấp bậc, còn được gọi là Ngũ đẳng, thứ tự từ cao xuống thấp bao gồm: Công-Hầu-Bá-Tử-Nam (公 侯 伯 子 男)
Ngày bé xem phim Tàu, tao ko rõ nghĩa của từ Chư Hầu lắm, sau này nghiên cứu mới hiểu nôm na như này:
-Chư là từ chỉ số nhiều, một từ Hán cổ hay dùng thời phong kiến, ví dụ ông minh chủ võ lâm tổ chức 1 event gọi là Đại hội võ lâm, mời các cao thủ đến dự. Đứng phát biểu khai mạc hay nói câu, Mời chư vị anh hùng, nó tương đương với nghĩa: mời các vị anh hùng (từ thường dùng ngày nay)
-Hầu là tước vị Hầu, các vị lãnh chúa được vua ban tước vị trong ngũ đẳng thì tước Hầu là tước phổ biến nhất, nên người ta dùng từ Hầu để thay mặt cho cả 5 tước vị trên.
-Vì vậy, chư hầu chính là từ chỉ những người đứng đầu các tiểu quốc thần phục vua Chu.

tcceO.jpeg


tWPWO.jpeg


-Lợi ích của chư hầu là được phân 1 vùng đất tự cai quản, tước vị càng cao thì vùng đất cai quản càng rộng và đc hưởng nhiều quyền lợi hơn. Một số nguồn có ghi chép lại như sau:
Theo Thông Điển – Chức Quan – Phong tước 通典 - 职官 - 封爵 có nói:
Thời Hoàng Đế, chế ra vạn dặm, làm vạn quốc, mỗi quốc 100 dặm.
Thời Đường Ngu, Hạ: kiến quốc có 5 bậc: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.
Thời Ân có 3 bậc: Công, Hầu, Bá. Công 100 dặm, Hầu 70 dăm, Bá 50 dặm.
Thời Chu có 5 bậc: Công, Hầu Bá, tử, Nam. Công và Hầu 100 dặm, Bá 70 dặm, Tử và Nam 50 dặm. Chu Công cải chế, Công 500 dặm, Hầu 400 dặm, Bá 300 dặm, Tử 200 dặm, Nam 100 dặm.
Trong Mạnh Tử - Vạn Chương 孟子 - 万章 có nói:
Thiên tử một, Công một, Hầu một, Bá một, Tử và Nam là một, tất cả là 5 bậc.
Quân một, Khanh một, Đại phu một, Thượng sĩ một, Trung sĩ một, Hạ sĩ một, tổng cộng là 6 bậc.
Theo chế độ, đất của thiên tử vuông ngàn dặm, đất của tước Công và tước Hầu đều 100 dặm, đất của tước Bá là 70 dặm, đất của tước Tử và tước Nam 50 dặm, tổng cộng có 4 bậc.
Nước chưa đến 50 dặm thì không triều cống thiên tử, mà là phụ thuộc vào một chư hầu nên gọi là nước phụ dung. Quan Khanh của thiên tử nhận đất phong ngang bằng với tước Hầu, Đại phu nhận đất phong ngang bằng với tước Bá, quan Sĩ nhận đất phong ngang bằng với tước Tử, tước Nam.

Sau thời nhà Chu, chế độ phong kiến phân quyền kết thúc, chuyển sang phong kiến tập quyền. Chư hầu được hiểu theo nghĩa rộng hơn, ám chỉ cả những thế lực quân phiệt cát cứ 1 vùng. Ví dụ thời Đông Hán: có Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Biểu, Tôn Kiên, Tào Tháo... cũng đc gọi là chư hầu.
-Các tước vị này cũng giống như vua (thiên tử) có quyền chuyển tước vị cho người kế tục, theo kiểu cha truyền con nối. Chư hầu đứng đầu 1 vùng có thể coi như 1 ông vua con trong phạm vi mình cai quản. Con cháu truyền đời đc hưởng bổng lộc.
-Trong các tước vị của Ngũ Đẳng thì tước Công và tước Hầu đứng cao nhất, nên địa vị vô cùng danh giá.
Thời Tam Quốc khi Trương Phi và Mã Siêu giao chiến tại Ích Châu. Trương Phi võ mồm ra oai: Mã Nhi, người có nhận ra Trương Phi người nước Yên hay ko? Mã Siêu cười khẩy đáp lời: Nhà ta mấy đời công hầu, sao biết loại thất phu như ngươi. Thế là Trương Phi cay cú cầm xà mâu phi lên. Có thể nói xuất thân của Mã Siêu vô cùng danh giá, là con cháu của Mã Viện, nhiều đời được phong công hầu, Mã Siêu khinh thường xuất thân của Trương Phi, chỉ là 1 tên thất phu bán thịt lợn.


-Trong xã hội phong kiến phương tây cũng tồn tại chế độ tước phong như thế cho các lãnh chúa, quý tộc, nhưng những danh từ “Công tước”, “Bá tước” này có lẽ Trung Quốc dựa theo thuật ngữ văn hoá Hán ngữ mà phiên dịch qua. Ví dụ lấy chế độ tước vị của nước Anh, chế độ ngũ tước bao gồm:
+Công tước (Duke)
+Hầu tước (Marquess)
+Bá tước (Earl)
+Tử tước (Viscount)
+Nam tước (Baron)
Có thể thấy chế độ phong tước “Công Hầu Bá Tử Nam” trước triều Chu đã tồn tại rộng rãi, phương tây cũng tồn tại chế độ phong tước, nhưng giữa chúng không tồn tại quan hệ truyền thừa mà chỉ là sự trùng hợp.

tWeRQ.jpeg


tWuAd.jpeg


2-Quyền lực, danh vọng, tiền tài
-Như đã đề cập ở trên, những quý tộc, lãnh chúa được phong tước trong ngũ đẳng ko khác gì 1 ông vua con, kể cả về sau này trong thời kỳ phong kiến tập quyền. Dù là tước vị nào: Công- Hầu- Bá- Tử- Nam cũng đều cao quý hơn quan lại trong triều, dù là quan nhất phẩm. Gia tộc được phong tước thì con cháu truyền đời được hưởng bổng lộc vua ban. Có những dòng dõi thế tập sống trong những triều đại phong kiến kéo dài, con cháu hưởng bổng lộc mấy trăm năm liền, chỉ có ăn chơi phè phỡn...
-Một số triều đại, các quý tộc này còn có quân đội riêng, cát cứ 1 vùng thế lực tuyệt đối. Họ còn có quyền ban chức vụ cho quan lại trong địa phận mình cai quản.

-Thời phong kiến, quyền lực, luật pháp đều trong tay tầng lớp cai trị. Tao là luật, luật là tao, người dân ko khác gì nô lệ của tầng lớp cai trị. Các chư hầu, khanh tướng, quý tộc... thâu tóm hết ruộng đất, người dân phải thuê lại đất của giới quý tộc, làm quần quật cả năm nhưng tiền công dc trả rất ít ỏi, sưu thuế lại rất cao, làm ko đủ ăn. Thời đó chưa có nhiều ngành nghề như bây giờ, nếu ko làm ruộng thì chỉ có vào nhà quan lại, quý tộc làm culi. Nam thì làm nô bộc, nữ thì làm nô tì, em nào đẹp thì đc làm tì thiếp. Đàn bà trong thiên hạ bị giới cai trị thâu tóm gần hết. Quan lại thì 5 thê 7 thiếp, Quý tộc có thể có cả trăm vợ bé, nhiều ko nhớ nổi tên. Đàn ông bình dân thì nhiều người ko lấy được vợ vì đàn bà đã bị giới quý tộc vơ hết.

tWlLs.jpeg


-Các chư hầu, khanh tướng lắm tiền nhiều của còn nuôi rất nhiều môn khách trong nhà. Môn khách hay còn gọi là tân khách hoặc thực khách, đều là những người có học được giới quý tộc nuôi để xây dựng vây cánh, thế lực, ra kế sách giúp chủ nhân làm việc lớn. Ví dụ: Điền Hoành nuôi 500 môn khách, Mạnh Thường Quân nuôi 3000 môn khách, Câu Tiễn nuôi đến 6000 môn khách...
-Thi sĩ Tô Đông Pha (thời Tống) cực lực phản đối việc nuôi môn khách. Ông viết: Khanh tướng, chư hầu tranh nhau nuôi kẻ sĩ, nhìn qua sử sách thì thấy cái đám ấy đông hơn cả quan lại, đó đều là bọn gian tà làm hại nước, hại dân. Dân làm sao nuôi nổi, mà nước làm sao chịu được. Làm quan làm tướng triều đình mà hàng ngày nuôi mấy nghìn miệng ăn thì tất nhiên phải tham ô, vơ vét, nhũng loạn chứ tài sản ở đâu ra mà chu cấp cho đủ. Huống chi để nuôi vài nghìn người lại phải thuê thêm bao nhiêu gia nhân nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp... nên cực kì tốn kém.

-> Có thể nói tầng lớp cai trị thời phong kiến có quyền lực, địa vị, tiền tài cực kỳ lớn, làm mất cân bằng xã hội, đó cũng là lý do chế độ phong kiến dù trải qua hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn sụp đổ...

Còn những câu chuyện nào hay về tầng lớp quý tộc phân phong nào nữa, mời các đồng dâm cùng chia sẻ và bình loạn
@congarung1988 @CoNguyetPhuongNguyen @Sự trở lại của Lee tony @Ăn Chơi Dính Bệnh Tật @Cuppid
 
Sửa lần cuối:
Triển huynh định nghĩa thế nào là tước vị? Tiểu đệ thiển kiến cho rằng, một số nhiều mang tính tượng trưng, như chết rồi mới truy tặng thuỵ hiệu?
 
Sửa lần cuối:
Triển huynh viết :
Trong Mạnh Tử - Vạn Chương
孟子 - 万章 có nói:
Thiên tử một, Công một, Hầu một, Bá một, Tử và Nam là một, tất cả là 5 bậc.

Tiểu đệ bổ sung :
Nhưng đồng thời trong Mạnh Tử cũng nói "Kỳ tường bất khả đắc văn dã”. Cũng tức đưa ra sự hoài nghi về loại chế độ phân tước ngũ đẳng này. Bởi vì văn hiến ghi lại ngũ đẳng tước là từ cuối Xuân Thu mới rạch ròi, lúc này Tây Chu đã cách xa 500-600 năm(?)

Vì theo logic, quy luật phát triển chế độ chính trị, sẽ từ thô thiển phát triển đến tinh vi, từ hỗn loạn phát triển đến nghiêm chỉnh, mà Tây Chu có chế độ phân 5 tước phải nói rất quy phạm nghiêm chỉnh, nên Mạnh Tử mới hoài nghi nó có thực sự tồn tại hay không?!
 
Triển huynh định nghĩa thế nào là tước vị? Tiểu đệ thiển kiến cho rằng, một số nhiều mang tính tượng trưng, như chết rồi mới truy tặng thuỵ hiệu?
Phải, kể cả thời nhà Chu hay Châu Âu luôn. Không phải tước thấp thì phục tùng tước lớn. Nếu mạnh lên tiêu diệt và sát nhập nhiều nước thì nhà Chu xưng vương, Châu Âu xưng hoàng đế La Mã hay xưng vương. :embarrassed:
 
1-Tước vị thời phong kiến
-Thời kỳ phong kiến phân quyền của Trung Quốc cổ đại, cụ thể, rõ nét nhất là thời nhà Chu. Sau khi phạt Trụ, chấm dứt triều đại nhà Thương. Chu Vũ Vương - Cơ Phát lên ngôi, áp dụng cách cai trị và điều hành đất nước bằng việc chia nhỏ lãnh thổ của mình thành nhiều tiểu quốc (các quốc gia nhỏ hơn). Sau đó chọn 1 người với danh nghĩa Chư hầu để cai quản các tiểu quốc đó. Người được chọn làm chư hầu có thể là họ hàng thân thích của vua Chu, có thể là công thần được vua Chu tín nhiệm, cũng có thể là các già làng, trưởng bản tại địa phương, đức cao vọng trọng được tín nhiệm.
-Vua Chu lúc này chỉ yên vị tại kinh đô Cảo, điều hành từ xa. Còn các Chư hầu cai quản địa phận mình được phân, hàng năm cống nạp lên triều đình. Giống như hiện nay, ông chủ tịch nước ngồi ở Thủ Đô, mỗi tỉnh lại có 1 ông chủ tịch tỉnh quản lý, hàng năm đóng thuế về ngân sách nhà nước.

-Chư hầu thời xưa có 5 cấp bậc, còn được gọi là Ngũ đẳng, thứ tự từ cao xuống thấp bao gồm: Công-Hầu-Bá-Tử-Nam (公 侯 伯 子 男)
Ngày bé xem phim Tàu, tao ko rõ nghĩa của từ Chư Hầu lắm, sau này nghiên cứu mới hiểu nôm na như này:
-Chư là từ chỉ số nhiều, từ Hán cổ hay dùng thời phong kiến, ví dụ ông minh chủ võ lâm tổ chức 1 event gọi là Đại hội võ lâm, mời các cao thủ đến dự. Đứng phát biểu khai mạc hay nói câu, Mời chư vị anh hùng, nó tương đương với nghĩa: mời các vị anh hùng (từ thường dùng ngày nay)
-Hầu là tước vị Hầu, các vị lãnh chúa được vua ban tước vị trong ngũ đẳng thì tước Hầu là tước phổ biến nhất, nên người ta dùng từ Hầu để thay mặt cho cả 5 tước vị trên.
-Vì vậy, chư hầu chính là từ chỉ những người đứng đầu các tiểu quốc thần phục vua Chu.

tcceO.jpeg


tWPWO.jpeg


-Lợi ích của chư hầu là được phân 1 vùng đất tự cai quản, tước vị càng cao thì vùng đất cai quản càng rộng và đc hưởng nhiều quyền lợi hơn. Một số nguồn có ghi chép lại như sau:
Theo Thông Điển – Chức Quan – Phong tước 通典 - 职官 - 封爵 có nói:
Thời Hoàng Đế, chế ra vạn dặm, làm vạn quốc, mỗi quốc 100 dặm.
Thời Đường Ngu, Hạ: kiến quốc có 5 bậc: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.
Thời Ân có 3 bậc: Công, Hầu, Bá. Công 100 dặm, Hầu 70 dăm, Bá 50 dặm.
Thời Chu có 5 bậc: Công, Hầu Bá, tử, Nam. Công và Hầu 100 dặm, Bá 70 dặm, Tử và Nam 50 dặm. Chu Công cải chế, Công 500 dặm, Hầu 400 dặm, Bá 300 dặm, Tử 200 dặm, Nam 100 dặm.
Trong Mạnh Tử - Vạn Chương 孟子 - 万章 có nói:
Thiên tử một, Công một, Hầu một, Bá một, Tử và Nam là một, tất cả là 5 bậc.
Quân một, Khanh một, Đại phu một, Thượng sĩ một, Trung sĩ một, Hạ sĩ một, tổng cộng là 6 bậc.
Theo chế độ, đất của thiên tử vuông ngàn dặm, đất của tước Công và tước Hầu đều 100 dặm, đất của tước Bá là 70 dặm, đất của tước Tử và tước Nam 50 dặm, tổng cộng có 4 bậc.
Nước chưa đến 50 dặm thì không triều cống thiên tử, mà là phụ thuộc vào một chư hầu nên gọi là nước phụ dung. Quan Khanh của thiên tử nhận đất phong ngang bằng với tước Hầu, Đại phu nhận đất phong ngang bằng với tước Bá, quan Sĩ nhận đất phong ngang bằng với tước Tử, tước Nam.

Sau thời nhà Chu, chế độ phong kiến phân quyền kết thúc, chuyển sang phong kiến tập quyền. Chư hầu được hiểu theo nghĩa rộng hơn, ám chỉ cả những thế lực quân phiệt cát cứ 1 vùng. Ví dụ thời Đông Hán: có Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Biểu, Tôn Kiên, Tào Tháo... cũng đc gọi là chư hầu.
-Các tước vị này cũng giống như vua (thiên tử) có quyền chuyển tước vị cho người kế tục, theo kiểu cha truyền con nối. Chư hầu đứng đầu 1 vùng có thể coi như 1 ông vua con trong phạm vi mình cai quản. Con cháu truyền đời đc hưởng bổng lộc.
-Trong các tước vị của Ngũ Đẳng thì tước Công và tước Hầu đứng cao nhất, nên địa vị vô cùng danh giá.
Thời Tam Quốc khi Trương Phi và Mã Siêu giao chiến tại Ích Châu. Trương Phi võ mồm ra oai: Mã Nhi, người có nhận ra Trương Phi người nước Yên hay ko? Mã Siêu cười khẩy đáp lời: Nhà ta mấy đời công hầu, sao biết loại thất phu như ngươi. Thế là Trương Phi cay cú cầm xà mâu phi lên. Có thể nói xuất thân của Mã Siêu vô cùng danh giá, là con cháu của Mã Viện, nhiều đời được phong công hầu, Mã Siêu khinh thường xuất thân của Trương Phi, chỉ là 1 tên thất phu bán thịt lợn.


-Trong xã hội phong kiến phương tây cũng tồn tại chế độ tước phong như thế cho các lãnh chúa, quý tộc, nhưng những danh từ “Công tước”, “Bá tước” này có lẽ Trung Quốc dựa theo thuật ngữ văn hoá Hán ngữ mà phiên dịch qua. Ví dụ lấy chế độ tước vị của nước Anh, chế độ ngũ tước bao gồm:
+Công tước (Duke)
+Hầu tước (Marquess)
+Bá tước (Earl)
+Tử tước (Viscount)
+Nam tước (Baron)
Có thể thấy chế độ phong tước “Công Hầu Bá Tử Nam” trước triều Chu đã tồn tại rộng rãi, phương tây cũng tồn tại chế độ phong tước, nhưng giữa chúng không tồn tại quan hệ truyền thừa mà chỉ là sự trùng hợp.

tWeRQ.jpeg


tWuAd.jpeg


2-Quyền lực, danh vọng, tiền tài
-Như đã đề cập ở trên, những quý tộc, lãnh chúa được phong tước trong ngũ đẳng ko khác gì 1 ông vua con, kể cả về sau này trong thời kỳ phong kiến tập quyền. Dù là tước vị nào: Công- Hầu- Bá- Tử- Nam cũng đều cao quý hơn quan lại trong triều, dù là quan nhất phẩm. Gia tộc được phong tước thì con cháu truyền đời được hưởng bổng lộc vua ban. Có những dòng dõi thế tập sống trong những triều đại phong kiến kéo dài, con cháu hưởng bổng lộc mấy trăm năm liền, chỉ có ăn chơi phè phỡn...
-Một số triều đại, các quý tộc này còn có quân đội riêng, cát cứ 1 vùng thế lực tuyệt đối. Họ còn có quyền ban chức vụ cho quan lại địa phương mình cai quản.

-Thời phong kiến, quyền lực, luật pháp đều trong tay tầng lớp cai trị. Tao là luật, luật là tao, người dân ko khác gì nô lệ của tầng lớp cai trị. Các chư hầu, khanh tướng, quý tộc... thâu tóm hết ruộng đất, người dân phải thuê lại đất của giới quý tộc, làm quần quật cả năm nhưng tiền công dc trả rất ít ỏi, sưu thuế lại rất cao, làm ko đủ ăn. Thời đó chưa có nhiều ngành nghề như bây giờ, nếu ko làm ruộng thì chỉ có vào nhà quan lại, quý tộc làm culi. Nam thì làm nô bộc, nữ thì làm nô tì, em nào đẹp thì đc làm tì thiếp. Đàn bà trong thiên hạ bị giới cai trị thâu tóm gần hết. Quan lại thì 5 thê 7 thiếp, Quý tộc có thể có cả trăm vợ bé, nhiều ko nhớ nổi tên. Đàn ông bình dân thì nhiều người ko lấy được vợ vì đàn bà đã bị giới quý tộc vơ hết.

tWlLs.jpeg


-Các chư hầu, khanh tướng lắm tiền nhiều của còn nuôi rất nhiều môn khách trong nhà. Môn khách hay còn gọi là tân khách hoặc thực khách, đều là những người có học được giới quý tộc nuôi để xây dựng vây cánh, thế lực, ra kế sách giúp chủ nhân làm việc lớn. Ví dụ: Điền Hoành nuôi 500 môn khách, Mạnh Thường Quân nuôi 3000 môn khách, Câu Tiễn nuôi đến 6000 môn khách...
-Thi sĩ Tô Đông Pha (thời Tống) cực lực phản đối việc nuôi môn khách. Ông viết: Khanh tướng, chư hầu tranh nhau nuôi kẻ sĩ, nhìn qua sử sách thì thấy cái đám ấy đông hơn cả quan lại, đó đều là bọn gian tà làm hại nước, hại dân. Dân làm sao nuôi nổi, mà nước làm sao chịu được. Làm quan làm tướng triều đình mà hàng ngày nuôi mấy nghìn miệng ăn thì tất nhiên phải tham ô, vơ vét, nhũng loạn chứ tài sản ở đâu ra mà chu cấp cho đủ. Huống chi để nuôi vài nghìn người lại phải thuê thêm bao nhiêu gia nhân nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp...

-> Có thể nói tầng lớp cai trị thời phong kiến có quyền lực, địa vị, tiền tài cực kỳ lớn, làm mất cân bằng xã hội, đó cũng là lý do chế độ phong kiến dù trải qua hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn sụp đổ...

Còn những câu chuyện nào hay về tầng lớp quý tộc phân phong nào nữa, mời các đồng dâm cùng chia sẻ và bình loạn
@congarung1988 @CoNguyetPhuongNguyen @Sự trở lại của Lee tony @Ăn Chơi Dính Bệnh Tật @Cuppid
quý tộc Anh còn thiếu knight và quý tộc châu âu còn có: đại công tước, thân vương, tuyển hầu tước, đại vương công
 
Triển huynh định nghĩa thế nào là tước vị? Tiểu đệ thiển kiến cho rằng, một số nhiều mang tính tượng trưng, như chết rồi mới truy tặng thuỵ hiệu?
Theo tại hạ, tước vị là thứ để vua ban cho giới quý tộc (chư hầu) , tước vị bao hàm cả lợi ích kinh tế (đất đai, bổng lộc) và danh dự. Vì tầng lớp quý tộc chỉ kém vua, tất cả hàng ngũ quan lại dù cao đến đâu cũng ko bằng quý tộc.
Tầng lớp quý tộc có đặc quyền giống vua là trao tước kiểu cha truyền con nối, đời đời hưởng lộc, hiểu đơn giản là dòng dõi thế tập
Quan lại thì ko có đặc quyền đó
 
Triển huynh viết :
Trong Mạnh Tử - Vạn Chương
孟子 - 万章 có nói:
Thiên tử một, Công một, Hầu một, Bá một, Tử và Nam là một, tất cả là 5 bậc.

Tiểu đệ bổ sung :
Nhưng đồng thời trong Mạnh Tử cũng nói "Kỳ tường bất khả đắc văn dã”. Cũng tức đưa ra sự hoài nghi về loại chế độ phân tước ngũ đẳng này. Bởi vì văn hiến ghi lại ngũ đẳng tước là từ cuối Xuân Thu mới rạch ròi, lúc này Tây Chu đã cách xa 500-600 năm(?)

Vì theo logic, quy luật phát triển chế độ chính trị, sẽ từ thô thiển phát triển đến tinh vi, từ hỗn loạn phát triển đến nghiêm chỉnh, mà Tây Chu có chế độ phân 5 tước phải nói rất quy phạm nghiêm chỉnh, nên Mạnh Tử mới hoài nghi nó có thực sự tồn tại hay không?!
Thực sự vấn đề này cần phải tìm hiểu thêm, chờ các chuyên gia lịch sử vào cho kiến giải. @congarung1988
Những sự kiện quá xa thì tính chính xác cũng ko biết đc bao nhiêu %
 
Hình như bên Châu Âu, tử tước và nam tước không có đất phong thì phải ? :embarrassed:
có đất hết chỉ có knight k có đất phong. Nhưng lại là chư hầu của lãnh chúa to và chư hầu trồng chéo hơn ví dụ: nam tước chư hầu của bá tước, bá tước đó lại là chư hầu của công tước, công tước lại là chư hầu của vua. Cũng có thế chư hầu thẳng cho vua hay công tước.
 
Thực sự vấn đề này cần phải tìm hiểu thêm, chờ các chuyên gia lịch sử vào cho kiến giải. @congarung1988
Những sự kiện quá xa thì tính chính xác cũng ko biết đc bao nhiêu %
Thật ra cũng k có gì là chính xác cả. Thời tây chu phân phong chư hầu thì tao thấy có vua nhà chu xưng vương (王),dưới là công - hầu - bá - tử - nam. Gọi chung là Ngũ Đẳng.
Ngũ đẳng tước ban đầu mang ý nghĩa liên quan tới đất phong rộng hay hẹp, quân đội nhiều hay ít - thiên tử đất vuông vạn dặm, có vạn cỗ xe. Công - hầu có ngàn dặm vuông, ngàn cỗ xe, bá - bảy chục dặm vuông, tử - nam được 50 dặm. Thật ra chỉ là chia cho có trật tự chứ chả có nhiều ý nghĩa. Vì thời đó quyền lực của vua rất nhỏ chỉ quản lý quanh khu vực ngày nay là miền Quan Trung. Một số chư hầu lớn là Công thần con cháu Hoàng tộc được ông ta phong đất cho. Đám còn lại đa phần là các tù trưởng bộ lạc cha truyền con nối được ông ta hợp pháp hóa một chức danh. Còn thực tế họ chiếm bao nhiêu đất nhà nước không quản được vì vốn dĩ chế độ phong kiến thời nhà Chu là chế độ cát cứ địa phương. Hơn nữa chiến tranh, liên miên nên lãnh thổ thay đổi liên tục. Nước Tề chỉ là hầu, nhưng diệt nước Kỷ 纪,nước Lai 莱, thì đất rộng gấp nhiều lần nước Lỗ tước Công.
Các vua chư hầu thời Xuân Thu đa phần đều là tước công (公), thật ra không chuẩn. Ví dụ nước Tề, nước Tần chỉ được phong là hầu, nước Lỗ được phong công (公), nước Tống cũng vậy. Vua nước Việt, nước Ngô xưng vương nhưng chỉ là tử (子). Công ( 公) mà họ xưng mang ý nghĩa là ông chủ, người có địa vị cao, k hẳn là tước công trong ngủ đẳng

Do năm tháng lâu xa, không khảo cứu được. Sách sử chép thời kỳ ấy (như kinh Xuân Thu của khổng tử) đa số là Ngụy thư viết sau giai đoạn đốt sách chôn nho, nên chỉ là đọc cho vui.

Về sau, Cách định tước hiệu này kéo dài đến thời Minh, Thanh vẫn còn. Ví dụ như đám Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân...được phong quốc công (国公),Lưu Bá Ôn được phong Thành Ý Bá (成懿伯).. Tuy nhiên áp dụng ntn tùy thời. Ví dụ nhà Hán bỏ công, bá, tử, nam. Vua là Hoàng đế, con cháu ông ta đc phong vương (王), dưới là chư hầu. Thì tất cả là hầu (候)hết -huyện hầu, hương hầu, đình hầu. Ae đọc Tam Quốc thấy nhiều người được phong là đình hầu - cấp thấp nhất của hầu (Phí Đình Hầu chẳng hạn). Thời Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều đến thời Tống, Kim vẫn áp dụng như vậy. Không quay lại "5 bậc quận huyện" nữa.
 
Phương Tây phức tạp hơn rất nhiều. Ví dụ, vua (emperor) của Thánh chế La Mã nhưng k có quyền áp đặt vs chư hầu (công tước, đại công tước, bá tước...) Nhưng vẫn ông đó khi đứng trên tước hiệu khác (Hoàng đế Áo) thì lại nắm quyền lực tuyệt đối. Đúng nghĩa vua chuyên chế
Mai tao viết tiếp...
 
Thật ra cũng k có gì là chính xác cả. Thời tây chu phân phong chư hầu thì tao thấy có vua nhà chu xưng vương (王),dưới là công - hầu - bá - tử - nam. Gọi chung là Ngũ Đẳng.
Ngũ đẳng tước ban đầu mang ý nghĩa liên quan tới đất phong rộng hay hẹp, quân đội nhiều hay ít - thiên tử đất vuông vạn dặm, có vạn cỗ xe. Công - hầu có ngàn dặm vuông, ngàn cỗ xe, bá - bảy chục dặm vuông, tử - nam được 50 dặm. Thật ra chỉ là chia cho có trật tự chứ chả có nhiều ý nghĩa. Vì thời đó quyền lực của vua rất nhỏ chỉ quản lý quanh khu vực ngày nay là miền Quan Trung. Một số chư hầu lớn là Công thần con cháu Hoàng tộc được ông ta phong đất cho. Đám còn lại đa phần là các tù trưởng bộ lạc cha truyền con nối được ông ta hợp pháp hóa một chức danh. Còn thực tế họ chiếm bao nhiêu đất nhà nước không quản được vì vốn dĩ chế độ phong kiến thời nhà Chu là chế độ cát cứ địa phương. Hơn nữa chiến tranh, liên miên nên lãnh thổ thay đổi liên tục. Nước Tề chỉ là hầu, nhưng diệt nước Kỷ 纪,nước Lai 莱, thì đất rộng gấp nhiều lần nước Lỗ tước Công.
Các vua chư hầu thời Xuân Thu đa phần đều là tước công (公), thật ra không chuẩn. Ví dụ nước Tề, nước Tần chỉ được phong là hầu, nước Lỗ được phong công (公), nước Tống cũng vậy. Vua nước Việt, nước Ngô xưng vương nhưng chỉ là tử (子). Công ( 公) mà họ xưng mang ý nghĩa là ông chủ, người có địa vị cao, k hẳn là tước công trong ngủ đẳng

Do năm tháng lâu xa, không khảo cứu được. Sách sử chép thời kỳ ấy (như kinh Xuân Thu của khổng tử) đa số là Ngụy thư viết sau giai đoạn đốt sách chôn nho, nên chỉ là đọc cho vui.

Về sau, Cách định tước hiệu này kéo dài đến thời Minh, Thanh vẫn còn. Ví dụ như đám Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân...được phong quốc công (国公),Lưu Bá Ôn được phong Thành Ý Bá (成懿伯).. Tuy nhiên áp dụng ntn tùy thời. Ví dụ nhà Hán bỏ công, bá, tử, nam. Vua là Hoàng đế, con cháu ông ta đc phong vương (王), dưới là chư hầu. Thì tất cả là hầu (候)hết -huyện hầu, hương hầu, đình hầu. Ae đọc Tam Quốc thấy nhiều người được phong là đình hầu - cấp thấp nhất của hầu (Phí Đình Hầu chẳng hạn). Thời Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều đến thời Tống, Kim vẫn áp dụng như vậy. Không quay lại "5 bậc quận huyện" nữa.
Đại ca thật cao nhân vậy, cùng tiểu đệ ta không mưu mà hợp.

Khả năng chỉ có tước "Hầu" - các chư hầu chấn thủ biên cương, mới là chân chính phù hợp với tước vị mà @TrjenChieu huynh định nghĩa.

Các tước khác, e là nhiều lúc chỉ là đại từ xưng hô mang tính mục đích mà thôi
 
Mà "Bá" khả năng cũng giống giống tước vị, càng cổ xưa và cao hơn công - hầu, có thể là thủ lĩnh một bộ lạc, như Tây Bá Chu Văn Vương.

Vào Tam Quốc, Tôn Quyền muốn xưng vương, các đại thần thảo luận nên xưng thế nào, có vị đề nghị Tôn Quyền tự xưng "Cửu Châu Bá", Cửu Châu tức Tàu, bá tức bá chủ cõi Tàu.

Nhưng cuối cùng do danh hiệu này quá lâu, cổ đại cũng không có ai dùng Cửu Châu làm tôn hiệu, cuối cùng mới quyết định tiếp danh "Ngô vương" của Tào Nguỵ trao cho.
 
Mà "Bá" khả năng cũng giống giống tước vị, càng cổ xưa và cao hơn công - hầu, có thể là thủ lĩnh một bộ lạc, như Tây Bá Chu Văn Vương.

Vào Tam Quốc, Tôn Quyền muốn xưng vương, các đại thần thảo luận nên xưng thế nào, có vị đề nghị Tôn Quyền tự xưng "Cửu Châu Bá", Cửu Châu tức Tàu, bá tức bá chủ cõi Tàu.

Nhưng cuối cùng do danh hiệu này quá lâu, cổ đại cũng không có ai dùng Cửu Châu làm tôn hiệu, cuối cùng mới quyết định tiếp danh "Ngô vương" của Tào Nguỵ trao cho.
Cái này có trong phong thần diễn nghĩa, nhà Thương ở giữa. Xung quanh là 4 nước chư hầu, 4 nước chư hầu này sẽ thay mặt nhà Thương quản lý các nước chư hầu nhỏ hơn. Và thời nhà Thương có đến mấy trăm nước chư hầu. 1 trong 4 chư hầu lớn này là Tây Bá Hầu Cơ Xương. Sau này Tây Bá Hầu Cơ Xương vì có thù với Trụ Vương, vua nhà Thương. Vì Trụ Vương đã giam cầm Cơ Xương 7 năm ở kinh đô nhà Thương và giết bá ấp khảo, con trưởng của Cơ Xương. Nên Cơ Xương đã tiến hành khởi nghĩa lật đổ Trụ Vương trả thù. :embarrassed:
Nhưng trong truyện cũng viết các vương gia là anh em ruột, hay anh em họ hàng của vua nhà Thương như Tỷ Can, Hoàng Phi Hổ sống tại kinh thành nhà Thương và có quyền lực hơn 4 đại chư hầu. :embarrassed:
 
Mà "Bá" khả năng cũng giống giống tước vị, càng cổ xưa và cao hơn công - hầu, có thể là thủ lĩnh một bộ lạc, như Tây Bá Chu Văn Vương.

Vào Tam Quốc, Tôn Quyền muốn xưng vương, các đại thần thảo luận nên xưng thế nào, có vị đề nghị Tôn Quyền tự xưng "Cửu Châu Bá", Cửu Châu tức Tàu, bá tức bá chủ cõi Tàu.

Nhưng cuối cùng do danh hiệu này quá lâu, cổ đại cũng không có ai dùng Cửu Châu làm tôn hiệu, cuối cùng mới quyết định tiếp danh "Ngô vương" của Tào Nguỵ trao cho.
Sai nhé. Bá trong tước bá (伯)khác vs bá trong tây bá của Chu Văn Vương hay bá trong Tây Sở Bá Vương. Bá (霸)nghĩa là bá chủ - người đứng đầu liệt hầu. 2 chữ này khác hẳn nhau về nghĩa
Còn tại sao gọi là chư hầu. Tao thấy người ta chép lần đầu chữ chư hầu (诸侯)là trong sử ký. Lúc đó đã không còn các tước công-bá-tử-nam nữa rồi. Nên chư hầu là cách gọi các lãnh chúa hợp lý nhất rồi
Bổ sung xíu - thời Chiến quốc, vua chư hầu xưng vương, tự cho ngang hàng vs vua nhà Chu rồi. Nước nhỏ như Hàn cũng Ngàn dặm, Ngụy ngàn 500 dặm, Yên Triệu 2000 dặm, Sở đất vuông 5000 dặm. Họ có chư hầu không? Có. Nhưng thời đó gọi chư hầu của vua là gì? Họ gọi là quân (君). Quân là vua một nước, nhưng k nhất thiết phải là nước có chủ quyền hoàn chỉnh. Cứ làm chủ một vùng, tự thu thuế, nắm đầu được dân trong xứ của mình thì đều gọi là quân được. Xưa người ta xếp - vua 1 xứ gọi chung là quốc quân (国君).
 
Hầu tước của phương Tây hay tước hầu của phương Đông là chức tước.
Khác với "chư hầu" là 1 danh xưng.
Ví dụ như xưng vương 1 cõi, nhưng vẫn là chư hầu của Hoàng Đế, trong khi đó thì chính xác là tước vương chứ không phải tước hầu.
Ngoài ra ở trên không bàn nhiều, vì mỗi triều đại tự phân định khác nhau.
Tao chỉ phân vân kiểu chức như là :
Xa kỵ tướng quân - phiêu kỵ tướng quân - Bộc xạ đại tướng quân.
Nếu bàn thì gói gọn ở Triều TQ hoặc 1 triều đại nào đó bàn nó dễ hơn.
À quên nó éo tap mình, tự đi ra để đỡ nhục.
 

Có thể bạn quan tâm

Top