1-Tước vị thời phong kiến
-Thời kỳ phong kiến phân quyền của Trung Quốc cổ đại, cụ thể, rõ nét nhất là thời nhà Chu. Sau khi phạt Trụ, chấm dứt triều đại nhà Thương. Chu Vũ Vương - Cơ Phát lên ngôi, áp dụng cách cai trị và điều hành đất nước bằng việc chia nhỏ lãnh thổ của mình thành nhiều tiểu quốc (các quốc gia nhỏ hơn). Sau đó chọn 1 người với danh nghĩa Chư hầu để cai quản các tiểu quốc đó. Người được chọn làm chư hầu có thể là họ hàng thân thích của vua Chu, có thể là công thần được vua Chu tín nhiệm, cũng có thể là các già làng, trưởng bản tại địa phương, đức cao vọng trọng.
-Vua Chu lúc này chỉ yên vị tại kinh đô Cảo, điều hành từ xa. Còn các Chư hầu cai quản địa phận mình được phân, hàng năm cống nạp lên triều đình. Giống như hiện nay, ông chủ tịch nước ngồi ở Thủ Đô, mỗi tỉnh lại có 1 ông chủ tịch tỉnh quản lý, hàng năm đóng thuế về ngân sách nhà nước.
-Chư hầu thời xưa có 5 cấp bậc, còn được gọi là Ngũ đẳng, thứ tự từ cao xuống thấp bao gồm: Công-Hầu-Bá-Tử-Nam (公 侯 伯 子 男)
Ngày bé xem phim Tàu, tao ko rõ nghĩa của từ Chư Hầu lắm, sau này nghiên cứu mới hiểu nôm na như này:
-Chư là từ chỉ số nhiều, một từ Hán cổ hay dùng thời phong kiến, ví dụ ông minh chủ võ lâm tổ chức 1 event gọi là Đại hội võ lâm, mời các cao thủ đến dự. Đứng phát biểu khai mạc hay nói câu, Mời chư vị anh hùng, nó tương đương với nghĩa: mời các vị anh hùng (từ thường dùng ngày nay)
-Hầu là tước vị Hầu, các vị lãnh chúa được vua ban tước vị trong ngũ đẳng thì tước Hầu là tước phổ biến nhất, nên người ta dùng từ Hầu để thay mặt cho cả 5 tước vị trên.
-Vì vậy, chư hầu chính là từ chỉ những người đứng đầu các tiểu quốc thần phục vua Chu.
-Lợi ích của chư hầu là được phân 1 vùng đất tự cai quản, tước vị càng cao thì vùng đất cai quản càng rộng và đc hưởng nhiều quyền lợi hơn. Một số nguồn có ghi chép lại như sau:
Theo Thông Điển – Chức Quan – Phong tước 通典 - 职官 - 封爵 có nói:
Thời Hoàng Đế, chế ra vạn dặm, làm vạn quốc, mỗi quốc 100 dặm.
Thời Đường Ngu, Hạ: kiến quốc có 5 bậc: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.
Thời Ân có 3 bậc: Công, Hầu, Bá. Công 100 dặm, Hầu 70 dăm, Bá 50 dặm.
Thời Chu có 5 bậc: Công, Hầu Bá, tử, Nam. Công và Hầu 100 dặm, Bá 70 dặm, Tử và Nam 50 dặm. Chu Công cải chế, Công 500 dặm, Hầu 400 dặm, Bá 300 dặm, Tử 200 dặm, Nam 100 dặm.
Trong Mạnh Tử - Vạn Chương 孟子 - 万章 có nói:
Thiên tử một, Công một, Hầu một, Bá một, Tử và Nam là một, tất cả là 5 bậc.
Quân một, Khanh một, Đại phu một, Thượng sĩ một, Trung sĩ một, Hạ sĩ một, tổng cộng là 6 bậc.
Theo chế độ, đất của thiên tử vuông ngàn dặm, đất của tước Công và tước Hầu đều 100 dặm, đất của tước Bá là 70 dặm, đất của tước Tử và tước Nam 50 dặm, tổng cộng có 4 bậc.
Nước chưa đến 50 dặm thì không triều cống thiên tử, mà là phụ thuộc vào một chư hầu nên gọi là nước phụ dung. Quan Khanh của thiên tử nhận đất phong ngang bằng với tước Hầu, Đại phu nhận đất phong ngang bằng với tước Bá, quan Sĩ nhận đất phong ngang bằng với tước Tử, tước Nam.
Sau thời nhà Chu, chế độ phong kiến phân quyền kết thúc, chuyển sang phong kiến tập quyền. Chư hầu được hiểu theo nghĩa rộng hơn, ám chỉ cả những thế lực quân phiệt cát cứ 1 vùng. Ví dụ thời Đông Hán: có Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Biểu, Tôn Kiên, Tào Tháo... cũng đc gọi là chư hầu.
-Các tước vị này cũng giống như vua (thiên tử) có quyền chuyển tước vị cho người kế tục, theo kiểu cha truyền con nối. Chư hầu đứng đầu 1 vùng có thể coi như 1 ông vua con trong phạm vi mình cai quản. Con cháu truyền đời đc hưởng bổng lộc.
-Trong các tước vị của Ngũ Đẳng thì tước Công và tước Hầu đứng cao nhất, nên địa vị vô cùng danh giá.
Thời Tam Quốc khi Trương Phi và Mã Siêu giao chiến tại Ích Châu. Trương Phi võ mồm ra oai: Mã Nhi, người có nhận ra Trương Phi người nước Yên hay ko? Mã Siêu cười khẩy đáp lời: Nhà ta mấy đời công hầu, sao biết loại thất phu như ngươi. Thế là Trương Phi cay cú cầm xà mâu phi lên. Có thể nói xuất thân của Mã Siêu vô cùng danh giá, là con cháu của Mã Viện, nhiều đời được phong công hầu, Mã Siêu khinh thường xuất thân của Trương Phi, chỉ là 1 tên thất phu bán thịt lợn.
sharelink.us
-Trong xã hội phong kiến phương tây cũng tồn tại chế độ tước phong như thế cho các lãnh chúa, quý tộc, nhưng những danh từ “Công tước”, “Bá tước” này có lẽ Trung Quốc dựa theo thuật ngữ văn hoá Hán ngữ mà phiên dịch qua. Ví dụ lấy chế độ tước vị của nước Anh, chế độ ngũ tước bao gồm:
+Công tước (Duke)
+Hầu tước (Marquess)
+Bá tước (Earl)
+Tử tước (Viscount)
+Nam tước (Baron)
Có thể thấy chế độ phong tước “Công Hầu Bá Tử Nam” trước triều Chu đã tồn tại rộng rãi, phương tây cũng tồn tại chế độ phong tước, nhưng giữa chúng không tồn tại quan hệ truyền thừa mà chỉ là sự trùng hợp.
2-Quyền lực, danh vọng, tiền tài
-Như đã đề cập ở trên, những quý tộc, lãnh chúa được phong tước trong ngũ đẳng ko khác gì 1 ông vua con, kể cả về sau này trong thời kỳ phong kiến tập quyền. Dù là tước vị nào: Công- Hầu- Bá- Tử- Nam cũng đều cao quý hơn quan lại trong triều, dù là quan nhất phẩm. Gia tộc được phong tước thì con cháu truyền đời được hưởng bổng lộc vua ban. Có những dòng dõi thế tập sống trong những triều đại phong kiến kéo dài, con cháu hưởng bổng lộc mấy trăm năm liền, chỉ có ăn chơi phè phỡn...
-Một số triều đại, các quý tộc này còn có quân đội riêng, cát cứ 1 vùng thế lực tuyệt đối. Họ còn có quyền ban chức vụ cho quan lại trong địa phận mình cai quản.
-Thời phong kiến, quyền lực, luật pháp đều trong tay tầng lớp cai trị. Tao là luật, luật là tao, người dân ko khác gì nô lệ của tầng lớp cai trị. Các chư hầu, khanh tướng, quý tộc... thâu tóm hết ruộng đất, người dân phải thuê lại đất của giới quý tộc, làm quần quật cả năm nhưng tiền công dc trả rất ít ỏi, sưu thuế lại rất cao, làm ko đủ ăn. Thời đó chưa có nhiều ngành nghề như bây giờ, nếu ko làm ruộng thì chỉ có vào nhà quan lại, quý tộc làm culi. Nam thì làm nô bộc, nữ thì làm nô tì, em nào đẹp thì đc làm tì thiếp. Đàn bà trong thiên hạ bị giới cai trị thâu tóm gần hết. Quan lại thì 5 thê 7 thiếp, Quý tộc có thể có cả trăm vợ bé, nhiều ko nhớ nổi tên. Đàn ông bình dân thì nhiều người ko lấy được vợ vì đàn bà đã bị giới quý tộc vơ hết.
-Các chư hầu, khanh tướng lắm tiền nhiều của còn nuôi rất nhiều môn khách trong nhà. Môn khách hay còn gọi là tân khách hoặc thực khách, đều là những người có học được giới quý tộc nuôi để xây dựng vây cánh, thế lực, ra kế sách giúp chủ nhân làm việc lớn. Ví dụ: Điền Hoành nuôi 500 môn khách, Mạnh Thường Quân nuôi 3000 môn khách, Câu Tiễn nuôi đến 6000 môn khách...
-Thi sĩ Tô Đông Pha (thời Tống) cực lực phản đối việc nuôi môn khách. Ông viết: Khanh tướng, chư hầu tranh nhau nuôi kẻ sĩ, nhìn qua sử sách thì thấy cái đám ấy đông hơn cả quan lại, đó đều là bọn gian tà làm hại nước, hại dân. Dân làm sao nuôi nổi, mà nước làm sao chịu được. Làm quan làm tướng triều đình mà hàng ngày nuôi mấy nghìn miệng ăn thì tất nhiên phải tham ô, vơ vét, nhũng loạn chứ tài sản ở đâu ra mà chu cấp cho đủ. Huống chi để nuôi vài nghìn người lại phải thuê thêm bao nhiêu gia nhân nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp... nên cực kì tốn kém.
-> Có thể nói tầng lớp cai trị thời phong kiến có quyền lực, địa vị, tiền tài cực kỳ lớn, làm mất cân bằng xã hội, đó cũng là lý do chế độ phong kiến dù trải qua hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn sụp đổ...
Còn những câu chuyện nào hay về tầng lớp quý tộc phân phong nào nữa, mời các đồng dâm cùng chia sẻ và bình loạn
@congarung1988 @CoNguyetPhuongNguyen @Sự trở lại của Lee tony @Ăn Chơi Dính Bệnh Tật @Cuppid
-Thời kỳ phong kiến phân quyền của Trung Quốc cổ đại, cụ thể, rõ nét nhất là thời nhà Chu. Sau khi phạt Trụ, chấm dứt triều đại nhà Thương. Chu Vũ Vương - Cơ Phát lên ngôi, áp dụng cách cai trị và điều hành đất nước bằng việc chia nhỏ lãnh thổ của mình thành nhiều tiểu quốc (các quốc gia nhỏ hơn). Sau đó chọn 1 người với danh nghĩa Chư hầu để cai quản các tiểu quốc đó. Người được chọn làm chư hầu có thể là họ hàng thân thích của vua Chu, có thể là công thần được vua Chu tín nhiệm, cũng có thể là các già làng, trưởng bản tại địa phương, đức cao vọng trọng.
-Vua Chu lúc này chỉ yên vị tại kinh đô Cảo, điều hành từ xa. Còn các Chư hầu cai quản địa phận mình được phân, hàng năm cống nạp lên triều đình. Giống như hiện nay, ông chủ tịch nước ngồi ở Thủ Đô, mỗi tỉnh lại có 1 ông chủ tịch tỉnh quản lý, hàng năm đóng thuế về ngân sách nhà nước.
-Chư hầu thời xưa có 5 cấp bậc, còn được gọi là Ngũ đẳng, thứ tự từ cao xuống thấp bao gồm: Công-Hầu-Bá-Tử-Nam (公 侯 伯 子 男)
Ngày bé xem phim Tàu, tao ko rõ nghĩa của từ Chư Hầu lắm, sau này nghiên cứu mới hiểu nôm na như này:
-Chư là từ chỉ số nhiều, một từ Hán cổ hay dùng thời phong kiến, ví dụ ông minh chủ võ lâm tổ chức 1 event gọi là Đại hội võ lâm, mời các cao thủ đến dự. Đứng phát biểu khai mạc hay nói câu, Mời chư vị anh hùng, nó tương đương với nghĩa: mời các vị anh hùng (từ thường dùng ngày nay)
-Hầu là tước vị Hầu, các vị lãnh chúa được vua ban tước vị trong ngũ đẳng thì tước Hầu là tước phổ biến nhất, nên người ta dùng từ Hầu để thay mặt cho cả 5 tước vị trên.
-Vì vậy, chư hầu chính là từ chỉ những người đứng đầu các tiểu quốc thần phục vua Chu.
-Lợi ích của chư hầu là được phân 1 vùng đất tự cai quản, tước vị càng cao thì vùng đất cai quản càng rộng và đc hưởng nhiều quyền lợi hơn. Một số nguồn có ghi chép lại như sau:
Theo Thông Điển – Chức Quan – Phong tước 通典 - 职官 - 封爵 có nói:
Thời Hoàng Đế, chế ra vạn dặm, làm vạn quốc, mỗi quốc 100 dặm.
Thời Đường Ngu, Hạ: kiến quốc có 5 bậc: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.
Thời Ân có 3 bậc: Công, Hầu, Bá. Công 100 dặm, Hầu 70 dăm, Bá 50 dặm.
Thời Chu có 5 bậc: Công, Hầu Bá, tử, Nam. Công và Hầu 100 dặm, Bá 70 dặm, Tử và Nam 50 dặm. Chu Công cải chế, Công 500 dặm, Hầu 400 dặm, Bá 300 dặm, Tử 200 dặm, Nam 100 dặm.
Trong Mạnh Tử - Vạn Chương 孟子 - 万章 có nói:
Thiên tử một, Công một, Hầu một, Bá một, Tử và Nam là một, tất cả là 5 bậc.
Quân một, Khanh một, Đại phu một, Thượng sĩ một, Trung sĩ một, Hạ sĩ một, tổng cộng là 6 bậc.
Theo chế độ, đất của thiên tử vuông ngàn dặm, đất của tước Công và tước Hầu đều 100 dặm, đất của tước Bá là 70 dặm, đất của tước Tử và tước Nam 50 dặm, tổng cộng có 4 bậc.
Nước chưa đến 50 dặm thì không triều cống thiên tử, mà là phụ thuộc vào một chư hầu nên gọi là nước phụ dung. Quan Khanh của thiên tử nhận đất phong ngang bằng với tước Hầu, Đại phu nhận đất phong ngang bằng với tước Bá, quan Sĩ nhận đất phong ngang bằng với tước Tử, tước Nam.
Sau thời nhà Chu, chế độ phong kiến phân quyền kết thúc, chuyển sang phong kiến tập quyền. Chư hầu được hiểu theo nghĩa rộng hơn, ám chỉ cả những thế lực quân phiệt cát cứ 1 vùng. Ví dụ thời Đông Hán: có Viên Thiệu, Viên Thuật, Lưu Biểu, Tôn Kiên, Tào Tháo... cũng đc gọi là chư hầu.
-Các tước vị này cũng giống như vua (thiên tử) có quyền chuyển tước vị cho người kế tục, theo kiểu cha truyền con nối. Chư hầu đứng đầu 1 vùng có thể coi như 1 ông vua con trong phạm vi mình cai quản. Con cháu truyền đời đc hưởng bổng lộc.
-Trong các tước vị của Ngũ Đẳng thì tước Công và tước Hầu đứng cao nhất, nên địa vị vô cùng danh giá.
Thời Tam Quốc khi Trương Phi và Mã Siêu giao chiến tại Ích Châu. Trương Phi võ mồm ra oai: Mã Nhi, người có nhận ra Trương Phi người nước Yên hay ko? Mã Siêu cười khẩy đáp lời: Nhà ta mấy đời công hầu, sao biết loại thất phu như ngươi. Thế là Trương Phi cay cú cầm xà mâu phi lên. Có thể nói xuất thân của Mã Siêu vô cùng danh giá, là con cháu của Mã Viện, nhiều đời được phong công hầu, Mã Siêu khinh thường xuất thân của Trương Phi, chỉ là 1 tên thất phu bán thịt lợn.
Watch video Trương Phi Đánh Nhau 500 Hiệp ...mp4
Download video Trương Phi Đánh Nhau 500 Hiệp 1 Ngày 1 Đêm Với Mã Siêu Cũng Không Bằng 1 Câu Nói Của Khổng Minh 00 01 14 00 01 48.mp4
-Trong xã hội phong kiến phương tây cũng tồn tại chế độ tước phong như thế cho các lãnh chúa, quý tộc, nhưng những danh từ “Công tước”, “Bá tước” này có lẽ Trung Quốc dựa theo thuật ngữ văn hoá Hán ngữ mà phiên dịch qua. Ví dụ lấy chế độ tước vị của nước Anh, chế độ ngũ tước bao gồm:
+Công tước (Duke)
+Hầu tước (Marquess)
+Bá tước (Earl)
+Tử tước (Viscount)
+Nam tước (Baron)
Có thể thấy chế độ phong tước “Công Hầu Bá Tử Nam” trước triều Chu đã tồn tại rộng rãi, phương tây cũng tồn tại chế độ phong tước, nhưng giữa chúng không tồn tại quan hệ truyền thừa mà chỉ là sự trùng hợp.
2-Quyền lực, danh vọng, tiền tài
-Như đã đề cập ở trên, những quý tộc, lãnh chúa được phong tước trong ngũ đẳng ko khác gì 1 ông vua con, kể cả về sau này trong thời kỳ phong kiến tập quyền. Dù là tước vị nào: Công- Hầu- Bá- Tử- Nam cũng đều cao quý hơn quan lại trong triều, dù là quan nhất phẩm. Gia tộc được phong tước thì con cháu truyền đời được hưởng bổng lộc vua ban. Có những dòng dõi thế tập sống trong những triều đại phong kiến kéo dài, con cháu hưởng bổng lộc mấy trăm năm liền, chỉ có ăn chơi phè phỡn...
-Một số triều đại, các quý tộc này còn có quân đội riêng, cát cứ 1 vùng thế lực tuyệt đối. Họ còn có quyền ban chức vụ cho quan lại trong địa phận mình cai quản.
-Thời phong kiến, quyền lực, luật pháp đều trong tay tầng lớp cai trị. Tao là luật, luật là tao, người dân ko khác gì nô lệ của tầng lớp cai trị. Các chư hầu, khanh tướng, quý tộc... thâu tóm hết ruộng đất, người dân phải thuê lại đất của giới quý tộc, làm quần quật cả năm nhưng tiền công dc trả rất ít ỏi, sưu thuế lại rất cao, làm ko đủ ăn. Thời đó chưa có nhiều ngành nghề như bây giờ, nếu ko làm ruộng thì chỉ có vào nhà quan lại, quý tộc làm culi. Nam thì làm nô bộc, nữ thì làm nô tì, em nào đẹp thì đc làm tì thiếp. Đàn bà trong thiên hạ bị giới cai trị thâu tóm gần hết. Quan lại thì 5 thê 7 thiếp, Quý tộc có thể có cả trăm vợ bé, nhiều ko nhớ nổi tên. Đàn ông bình dân thì nhiều người ko lấy được vợ vì đàn bà đã bị giới quý tộc vơ hết.
-Các chư hầu, khanh tướng lắm tiền nhiều của còn nuôi rất nhiều môn khách trong nhà. Môn khách hay còn gọi là tân khách hoặc thực khách, đều là những người có học được giới quý tộc nuôi để xây dựng vây cánh, thế lực, ra kế sách giúp chủ nhân làm việc lớn. Ví dụ: Điền Hoành nuôi 500 môn khách, Mạnh Thường Quân nuôi 3000 môn khách, Câu Tiễn nuôi đến 6000 môn khách...
-Thi sĩ Tô Đông Pha (thời Tống) cực lực phản đối việc nuôi môn khách. Ông viết: Khanh tướng, chư hầu tranh nhau nuôi kẻ sĩ, nhìn qua sử sách thì thấy cái đám ấy đông hơn cả quan lại, đó đều là bọn gian tà làm hại nước, hại dân. Dân làm sao nuôi nổi, mà nước làm sao chịu được. Làm quan làm tướng triều đình mà hàng ngày nuôi mấy nghìn miệng ăn thì tất nhiên phải tham ô, vơ vét, nhũng loạn chứ tài sản ở đâu ra mà chu cấp cho đủ. Huống chi để nuôi vài nghìn người lại phải thuê thêm bao nhiêu gia nhân nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp... nên cực kì tốn kém.
-> Có thể nói tầng lớp cai trị thời phong kiến có quyền lực, địa vị, tiền tài cực kỳ lớn, làm mất cân bằng xã hội, đó cũng là lý do chế độ phong kiến dù trải qua hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn sụp đổ...
Còn những câu chuyện nào hay về tầng lớp quý tộc phân phong nào nữa, mời các đồng dâm cùng chia sẻ và bình loạn
@congarung1988 @CoNguyetPhuongNguyen @Sự trở lại của Lee tony @Ăn Chơi Dính Bệnh Tật @Cuppid
Sửa lần cuối: