Qua bao nhiêu năm, chẳng nhẽ tính cách chung của dân tộc không hề thay đổi?

ChuyenChuotBach

Chúa tể đa cấp
Tao xin copy một số mà có thằng đưa bài nhưng ko tìm được để trích dẫn, và một số nhận xét từ xa xưa, mà đến nay vẫn thấy không có sai chút nào:
Nhà chí sỹ yêu nước Lương Văn Can đã viết hai cuốn sách bàn về chuyện kinh doanh của nước Việt, đó là cuốn “Thương học phương châm” bàn về cách buôn bán, và “Kim cổ cách ngôn” bàn về đạo đức kinh doanh. Đã 89 năm kể từ ngày cụ Cử Can qua đời, nhưng hai cuốn sách vẫn còn nguyên tính thời sự.


Trong cuốn “Thương học phương châm”, cụ Cử Can bàn rằng: “Tục ngữ có câu: ‘Phi thương bất phú’, các đại quốc do thông thương mà làm được phú cường, các nhà đại tư bản do kinh thương mà phú gia địch quốc, thế thì sự buôn bán cũng không nên câu nệ như xưa mà chẳng lưu tâm nghiên cứu. Nhưng vì nước ta ngày trước chỉ chí tại thi đỗ để ra làm quan, ngày nay học tây chỉ chí tại tốt nghiệp để ra làm việc, ít người chí làm thực nghiệp”.
xin được điểm lại nguyên văn 10 hạn chế của thương giới Việt trong cuốn “Thương học phương châm”:

1. Người mình KHÔNG CÓ THƯƠNG PHẨM, cái tài liệu của nhà buôn bán cốt tại công nghệ, công nghệ của người mình xưởng thợ không dựng, máy móc không có, sách vở nghề làm thợ cũng không ai làm, các thợ thuyền chỉ biết chuyên theo nghề cũ, không mấy ai suy nghĩ kiểu mới kiểu lạ, làm nghề gì cũng chế tạo bằng thủ công, cho nên đồ gì cũng khổ dũ bạc nhược, khi dụng vật liệu tức là cái tài liệu của nghề buôn bán, tài liệu đã kém thời buôn bán còn mạnh được sao.


2. Hai rằng KHÔNG CÓ THƯƠNG HỘI. Người các nước văn minh buôn bán đều có thương hội, thương hội càng đông thời buôn bán càng to, nên mới gây dựng được cửa hàng vốn liếng đến hàng ức hàng triệu, còn các nhà thương mại ta buổi này cũng có số ít người muốn sốt sắng lập thương hội, nhưng cách thức lập thương hội chưa thạo, công việc xếp đặt trong hội chưa sành, kẻ gian quyết mượn tiếng lập hội làm kế vơ vét người ngay thật vì việc vào hội hóa phải thiệt riêng, thành ra thương hội chưa lập đã vỡ, cổ phần chưa họp đã tan, có khi sinh ra thù oán kiện tụng lôi thôi nữa, như thế còn gọi là thương hội sao được.

3. Ba là KHÔNG CÓ TIN THỰC. Lòng tin thực tức là cái cốt yếu của nhà buôn, đã không có lòng tin thực thời một người mắc lừa một trăm người không tin, một lần được lợi, muôn phần chịu thiệt, cái ám muội của nhà buôn ta không thể nào tả hết được, chỉ xem ngạn ngữ ta rằng “Thực thà cũng kể lái buôn” thời đủ biết đức tính của nhà buôn ta vậy. Kìa như hàng Tây với hàng Tàu vật gì cũng mã giá nhất định, hoặc chỉ nói một lời mà người mua không phải mặc cả nên mua bán không phải chào mời khó nhọc. Đến như hàng ta thì nói lên mười, mà bán xuống sáu, nói rất cao mà bán rất hạ, khách chưa đến cửa đã vội mời vào, khách ra khỏi cửa thì mới gọi bán, chẳng qua chỉ muốn lừa lọc những kẻ quê mua khờ dại để đánh lừa lấy đôi chút lợi nhỏ mà thôi, ấy chỉ bởi cái lòng không tin thực ấy mà làm trở lực cho hàng hóa ta không thể nào mạnh bằng hàng các nước được.
4. Bốn rằng KHÔNG CÓ KIÊN TÂM, người các nước văn minh đã chuyên làm nghề gì thời sống chết cũng chăm vào cái mục đích ấy, làm cho nghề được tấn tới mãi lên, dẫu gặp việc ngang trở cũng không quản, thấy việc gian nan cũng không từ, các nhà buôn ta trừ một số ít nhà phú thương không kể, còn thời phần nhiều là đầu năm đi buôn, cuối năm đã đi làm thợ, năm nay đi buôn không lợi, sang năm lại xoay nghề khác, hoặc làm nghề gì không lợi mới lại tìm cách đi buôn, chỉ hấp tấp làm cái lợi nhãn tiền mà không kiên tâm cố chí, nên việc buôn bán không có vững vàng, không có nề nếp vậy.

5. Năm rằng KHÔNG CÓ NGHỊ LỰC. Người các nước buôn bán thường vượt bể nọ sang bể kia, từ nước này qua nước khác, người nước mình buôn bán tự miền xuôi lên miền ngược, đã lo những nước độc ma thiêng, từ miền bắc xuống miền nam đã gọi là chân giời góc bể, chí khí đã nhút nhát, tư tưởng lại hẹp hòi. Nên buôn bán dẫu có gặp vận, gặp thời, mà kết quả cũng chỉ đủ thân kế gia kế mà thôi, không phát đạt bằng nhà buôn các nước được.
6. Sáu là KHÔNG BIẾT TRỌNG NGHỀ. Sách Tây có câu rằng “không có nghề gì là không quý”. Sách Nho có câu rằng “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, suy thế thì ai làm nghề gì phải lấy nghề ấy làm quý mới khá, nhưng cái thông bịnh của người mình thời ai cũng lấy hàm cao quan lớn làm vinh mà ít ai biết buôn bán làm trọng, suy ngay chính những nhà buôn lúc trước còn chịu khó ăn nhịn để dành hết sức làm lụng, đến lúc đã được lưng vốn khá to thời đã vội vứt của huyết hãn ra hàng nghìn hàng vạn, luồn cửa này vào cửa khác, tấp tênh mua chuộc lấy tiếng phẩm nọ hàm kia, nghề đã không trọng chỉ trọng hư danh thời tư bản thực sự có sút đi mà khó mong tấn tới lên được.

7. Bảy là KHÔNG CÓ THƯƠNG HỌC. Các nước văn minh đều có tràng thương học, có khảo thí thương mãi, để đào tạo cho các học sinh có đủ tư cách làm nghề buôn, bởi thế nên người buôn bán có kiến thức, cách buôn bán được khôn ngoan. Nước ta ngày nay, dẫu nhà nước có đặt trường dạy buôn, nhưng nói cho phải thời học sinh vào đó học mà cố ý sau này ra buôn bán thời ít, mà vào đó học để tìm lấy chân vào làm việc các sở thời nhiều, còn những nhà buôn cũ thời nào có ai đã từng vào tràng thương học xem sách dậy buôn đâu, nên có nhiều người chỉ biết gồng nặng gánh nhẹ, lên ngược xuống xuôi thôi, mà chữ nghĩa không biết, tính toán không thông. Thời làm thế nào nhớ được hàng giao dịch nơi này sang nơi khác, hàng nghìn hàng vạn, làm thế nào cho hàng hóa tiêu thụ được rộng. Làm thế nào hiểu được luật lệ của các nhà buôn, bởi thế nên không tấn bộ được.

8. Tám rằng KÉM ĐƯỜNG GIAO THIỆP. Các nhà buôn cần phải biết cách giao thiệp, vì giao thiệp là cái môi giới của đường buôn bán, giao thiệp rộng rãi, quen biết nhiều nơi, thời buôn bán mới mạnh. Xem như nhiều nước đều có học tiếng nước Anh là tiếng nói vạn quốc thông dụng để đi đến nước nào nói năng cũng được tiện lợi và in những sách chiêu hàng phân phát cho nhiều người yêu dùng, khôn ngoan biết là chừng nào. Nhà buôn mình phần nhiều là kiến văn không rộng, ý tứ không sành, giao thiệp vụng về, nói năng kém cỏi, làm gì biết được cách giao thiệp ấy. Giao thiệp đã vụng thời buôn bán được sao.

9. Chín rằng KHÔNG BIẾT TIẾT KIỆM. Hai chữ tiết kiệm thực là một cái yếu kiện của nhà buôn. Cận lai nhà buôn ta cũng theo cái phong trào xa xỉ càng ngày càng mạnh mà gây nên cái độc căn bản không vững bền. Nguyên vì các nhà buôn ta đại đa số là tư bản bạc nhược đã bó buộc vào trong tệ tục, ăn mặc không xa hoa lấy làm hổ thẹn, nhà cửa không lộng lẫy không dễ mượn vay, làm ít tiêu nhiều, dư dật được ít nào đều bị cái phong trào xa xỉ nó cuốn cuộn cả đi, bởi thế nên nhiều người tháng sau cáo cùng mà tháng trước vẫn diện ô tô song mã; lắm nhà ngày mai tịch ký mà ngày nay vẫn bày châu báu ngọc ngà, thật là chỉ choáng vẻ bề ngoài mà xấu bề trong, tốt bộ vỏ mà không có ruột, trách nào vốn liếng mỗi ngày chẳng kém đi, sinh kế ngày càng quẫn bách.
10. Mười rằng KHINH NỘI HÓA. Người các nước trọng dùng của thổ sản, đồ gì cũng làm lấy mà dùng, lại thi nhau làm đồ mới đồ lạ để cho mua bán tiêu thụ càng ngày càng rộng. Người nước ta chỉ quý ngoại hóa, khinh nội hóa, thấy người ngoài có đồ mới lạ, không biết bảo nhau chế tạo hơn lên để mà chấn hưng thương nghiệp, cũng có thứ nguyên là của mình làm ra mà người ngoài thêu mấy chữ hiệu của họ vào, thời người mình đua nhau mà buôn, đua nhau mà mua, dẫu bao nhiêu tiền cũng không tiếc, khiến cho lợi quyền mất cả ra ngoài, trách nào nghề buôn mình chả kém các nước.

Mười cái điều nhược điểm đã nói lên như trên này chính là cái bịnh rất nhớn làm cho các nhà buôn ta bó buộc vào đất eo hẹp mà không có đường mở mang, sa hãm vào cái cảnh thua sút mà không có cơ phát đạt được, những điều đó từ phong tục theo nhau như thế mà sinh ra, nhưng thực từ các nhà buôn ta kiến thức không giỏi, quyết đoán không rành, nên không thoát khỏi được, nếu ta không biết những điều nhược điểm đó như cái bịnh độc hại phải tìm phương mà cứu chữa, như con đường trở ngạnh phải tìm cách mà khai thông, thời nghề buôn mình làm thế nào mà cạnh tranh với người được.
 
Phan Châu Trinh đã nêu 10 điều bi ai của dân tộc Việt Nam:

  1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
  2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
  3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
  4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
  5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
  6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
  7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
  8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
  9. Trong khi họ biết gắng giỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
  10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v…


Phan Bội Châu từng viết trong cuốn sách "tự phán" và nhiều cuốn khác:

-Cách xử sự của người phu xe Nhật khiến Phan đi từ ngạc nhiên đến thán phục, ông tự nhủ “Than ôi! Trí thức trình độ dân nước ta xem với tên phu xe Nhật bản, chẳng dám chết thẹn lắm hay sao!

-Chứng bệnh hay giả dối là chứng bệnh chung của người nước ta mà ở trong lại có một chứng đặc biệt là chứng ái quốc giả.



Nào đám truy điệu,nào tiệc hoan nghênh, nào là kỷ niệm anh hùng, nào là sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống giục, nam hát bắc hò, xem ở trong một đám lúc nhúc lao nhao, cũng đã có mấy phần người biết quyền nước đã mất thì tính mạng không còn, hồn nước có về thì giang sơn mới sống.

Nếu những tấm lòng ái quốc đó mà thật thà chắc chắn thì giống Tiên Rồng chẳng hạnh phúc lắm sao? trước mặt người thì ái quốc mà đến lúc đêm khuya thanh vắng thì tính toán những chuyện chó săn chim mồi.

* PBC khái quát chung dân trí An Nam bằng một từ “đáng thương“:

  • Hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả, đó là điều rất ngu thứ nhất.
  • Tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bễ những sự nghiệp đáng làm, đó là điều rất ngu thứ hai.
  • Chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần, đó là điều rất ngu thứ ba.
  • Thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung, đó là điều rất ngu thứ tư.
  • Biết có thân mình nhà mình mà không biết có nước, đó là điều rất ngu thứ năm
PBC cũng k quên phê phán thói lễ hội, đám ma, đám cưới :

"Nhìn vào những đám cưới phiền phức, ông thấy ở đó chúng ta bị những lề tục tự phát trói buộc, rồi cứ bày đàn mà theo nhau “ nhà giàu thì hao phí tiền của, nhà nghèo thì phải cầm bán ruộng đất sản nghiệp” “làm một việc hao tổn vô vị,thật quái gở thay’’.



Hoặc nhìn vào những đám tang trong lúc người trong cuộc đau đớn thì chung quanh ăn uống linh đình, ông bảo “sao mà nhẫn tâm thế, sao mà ngu ngốc thế”.



Đến như cái việc mà cho đến đầu thế kỷ XXI này, dân ta vẫn coi là một cái gì thiêng liêng, không ai dám mang ra bàn, Phan Bội Châu cũng đề cập tới theo cách riêng của mình.



Đó là câu chuyện đua nhau làm cỗ thật to gọi là thờ cúng tổ tiên.



Ông thấy ở cách làm đó một sự phô trương giả tạo. Cái lý của tác giả rất cụ thể



“ Chưa một ai chết rồi mà còn có thể ăn thịt uống rượu được… Bày biện cỗ bàn, giết thịt bò dê gà lợn để mời hàng xóm họ hàng khách khứa đến ăn uống no say mới thôi, như thế có phải là mượn tiếng người chết để làm sướng mồm người sống hay không ?



Thật là nhẫn tâm quá.



Huống chi lúc cha mẹ đang sống, một chén cơm một bát canh cũng không cho ăn ; đến khi chết rồi thì lại làm lễ tam sinh tốn kém hàng vạn để báo hiếu ? Sao lại lừa dối người quá đến thế?"





Theo sách Tâm lý dân tộc An Nam của Paul Giran thì:



-Ở người An Nam, biếng nhác là một tình trạng bình thường, năng động, mới là điều bất thường.



-Người An Nam không có sự kiên trì, họ không thích quy tắc: họ thích hành sự tùy hứng, không nhất quán, không suy nghĩ thấu đáo.



-Người An Nam nhẫn nhục chịu đựng, không hề có bất kỳ ý định phản kháng nào. Do đó, họ vô cùng e sợ quyền lực! Thậm chí còn quá sức quỵ lụy trước người nắm quyền thấp nhất: dập đầu xuống đất liên tục, chắp tay van xin .



Trong Pháp Việt giao binh ký của Sone Toshitora(1 võ sĩ thời Bakumatsu, Đại úy hải quân Đế quốc Nhật).

-Thân thể gầy còm, tinh thần suy yếu, tuy có khi sấn sướt làm mình ra mạnh mà rồi cũng trở nên biếng nhác tức thì. Có lẽ tại họ không có lòng kiên nhẫn. Bởi vậy, những việc khó nhọc lắm và phải làm lâu lai thì họ ắt không kham



-Người An Nam không thiếu người có tài có trí. Họ có tánh giỏi nhớ, tuy chưa thể vào sâu trong mọi sự, chứ được cái học mau biết. Người Pháp đến An Nam mới mười năm nay mà người An Nam học tiếng Pháp cũng đã đủ dùng, nói chuyện thường không đến nỗi ngập ngợ; vả lại viết bằng chữ Pháp cũng được nữa



-Họ không phải là không dũng khí. Nếu cai trị có phương pháp, lấy pháp luật mà chỉnh tề, lấy đạo nghĩa mà cố kết thì sự dũng cảm của người An Nam được việc lắm, sẽ không có người nước nào ở Đông phương này bằng họ được. Nay vì sự cai trị lỗi phương, trên dưới không noi đường chính, cho nên lòng người tàn bạo và khinh bạc thật hết chỗ nói. Coi như giữa chỗ pháp trường, người An Nam đến coi tuy thấy sự thảm khốc trước mắt mà họ vẫn đứng hút thuốc tự nhiên, không hề có vẻ thương xót. Như thế là vô tình quá lắm, chứ có phải dũng gì đâu!



-Người An Nam ưa giữ theo tục cũ những mấy trăm năm về trước. Sự ấy đã thành ra thói quen, không sao chữa được.



-Coi bề ngoài thì người An Nam trong các xứ đều không khác nhau lắm. Nhưng xét kỹ mới thấy tài trí và dũng lực của người Nam Kỳ thật thua xa người Bắc Kỳ



-Người bản xứ hay đổi nghề. Có thể bảo họ là “vô hằng tâm”. Người nào thấy một việc gì trúng ý mình thì nôn nả làm liền, lúc đầu dù có nhọc nhằn mấy cũng ráng chịu. Đến vài tháng hoặc vài năm, đã thấy lộ vẻ biếng trễ rồi, rốt cuộc công việc phải bỏ dở. Khi bỏ rồi, thấy không có nghề làm, lại muốn trở lại nghề cũ. Cái thói ấy, người Pháp muốn trừ đi cho họ, nhưng vì mới đến ở, chưa có thể được.



-Phụ nữ An Nam có tài gánh gồng buôn bán ở các nơi phố chợ. Còn chồng họ thì ở nhà uống rượu nói chuyện với bạn bè hàng xóm, ngồi không mà hưởng của vợ làm ra. Cái thói ấy cho đến ngày nay thỉnh thoảng vẫn còn. Trẻ con mất dạy. Chúng nó cũng có học, nhưng chỉ học qua loa những sách dễ dễ của người Tàu. Người lớn không biết cách chỉ bảo trẻ con. Chúng có lỗi cũng không hay răn phạt. Bởi vậy trẻ con đều hung tánh, đến lúc lớn cha mẹ đối với chúng cũng chịu phép.



-Người An Nam không có ý nỗ lực tấn tới, mà lại còn không biết biện biệt sự lợi hay hại, nên hay hư. Việc buôn bán trong nước, họ đều phó cho người Tàu, không ngó ngàng đến. Người Tàu ở đó hay rủ nhau hùn vốn lập công ty để buôn. Buôn có lời, họ lại chia ra và lập thêm công ty khác. Còn người bản xứ thì sẵn tánh khinh bạc, hay nghi ngờ nhau, chống báng nhau, không lập công ty được; cho nên mối lợi trong nước đành phải để cho người Tàu tóm thâu. Người trong nước ưa lấy sự trá ngụy để lừa dối nhau, không ai tin ai được cả. Rất đỗi bà con quen thuộc cũng không có thể tin cậy nhau được. Đây thử cử ra một sổ vay nợ để làm chứng: Người cho vay đặt ra quy điều để ngừa giữ rất nghiêm nhặt, nhưng thường không khỏi bị gạt. Vì họ cho vay ăn lời nặng quá, có khi số lời gấp đôi số vốn, thì dễ gì mà trả được? Té ra sự gạt nợ cũng tại chủ cho vay tự mình chuốc lấy.
 
5000 năm lịch sử để tạo nên căn tính dân tộc ntn mà mày đòi bỏ ngày một ngày hai được!
 
biết vậy nhưng dân tộc này thích khôn lỏi, thậm chí còn ngạo nghễ tự hào tính đó. Làm sao nhanh vơ về túi riêng chứ làm gì ai muốn bỏ sức ra nghiên cứu
Sót lại người có tâm cũng thôi mặc kệ đời. Mở mồm ra còn bị vu cho tội tự nhục, phản động...
 
thời khơ me đỏ dân Việt còn đẩy đồng bào của mình vào tay polpot để cướp tài sản dm t đọc trong kí sự mà chán luôn ;))
 
Chúng mày đọc "AQ chính truyện", "người TQ xấu xí" để thấy người TQ ngày xưa no hope như thế nào
Hàn Quốc hồi xưa chấp nhận làm chư hầu cho TQ, mấy nghìn năm lịch sử chả có gì nổi bật
Dân Do Thái còn bị đánh cho mất nước, mấy nghìn năm tha hương cầu thực, k nhìn thấy tương lai
Dân Châu Âu từ thời Trung Cổ trở về trước còn bị coi là mọi rợ, ăn ở bẩn thỉu nhếc nhác
Thế mà chúng nó vẫn thay đổi trở thành giàu mạnh nhất TG
Còn dân Ai Cập, Ấn Độ, Ba Tư, Mông Cổ, Inca... toàn những đế quốc lừng lẫy một thời, thế mà giờ phải chạy ăn từng bữa...
Cho nên chả có cái nào gọi là "bản tính dân tộc" cả đâu. tất cả đều có thể thay đổi. Mà cái gì có thể thay đổi? Đó là lãnh đạo tốt, chính sách giáo dục tốt, luật pháp nghiêm minh
 
Rồi sao, đổ hết cái xấu là do bản tính của dân, lấp liếm cái chó đẻ mất dại bằng chính sách ngu dân của +s ah
 
Tối ngày cứ ra rã "4000 năm văn hiến" nhưng sự thật thì được gì? Trên mạng pbvm, chửi nhau như chó với mèo, tối ngày cứ "Hoà hợp dân tộc" nhưng hoà hợp dân tộc thì lấy đâu ra việc cho Ban Tuyên Láo làm? Kẻ hô hào chiến thắng, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào! Nhưng điển hình gần đây là vụ con Osen, con vdv thể theo đăng story có cái cờ thì sợ như cha chết, mẹ chết! Một dân tộc đã yếu, nghèo, lại có thêm 1 vài thành phần khôn lỏi, hại đồng bào, vô ơn tráo trở! Đi xuất khẩu lao động thì trốn, ăn cướp nơi xứ người, nông sản, tôm trong nước thì bị bơm thuốc, bơm rau câu, quan thì hút máu dân qua đợt covid, đại án tham nhũng... Đòi sánh vai với cường quốc 5 châu với mấy cái thành tựu con cặc này, thì có cái Lồn!
 
Nghe thì có vẻ hợp lý, toàn quan sát viên như tao quan tâm 9 chụy lên xàm chém gió

Dkm, cứ xắn tay vào mà làm, được thì anh đúng, không được thì ngậm mẹ mồm vào và bớt chửi đổng.
 
Ngày xưa nghe mấy thứ này với con mụ Phạm Chi Lan chém nghe buồi tai, càng lớn càng thấy toàn truyền thông bơm thổi, múa mồm, ngồi đó chém chuyện trên trời dưới đất.
Ngồi mãi được cái chức chuyên viên vcci còn đéo ngang được thằng phó giám đốc sở một tỉnh thuộc TƯ
Đéo đủ tầm bàn kinh tế vĩ mô chứ nói mẹ gì chuyện quốc tính hay dân tộc

Bớt mõm, xách Lồn lên ra thương trường mà chinh chiến
 
Tao xin copy một số mà có thằng đưa bài nhưng ko tìm được để trích dẫn, và một số nhận xét từ xa xưa, mà đến nay vẫn thấy không có sai chút nào:
Nhà chí sỹ yêu nước Lương Văn Can đã viết hai cuốn sách bàn về chuyện kinh doanh của nước Việt, đó là cuốn “Thương học phương châm” bàn về cách buôn bán, và “Kim cổ cách ngôn” bàn về đạo đức kinh doanh. Đã 89 năm kể từ ngày cụ Cử Can qua đời, nhưng hai cuốn sách vẫn còn nguyên tính thời sự.


Trong cuốn “Thương học phương châm”, cụ Cử Can bàn rằng: “Tục ngữ có câu: ‘Phi thương bất phú’, các đại quốc do thông thương mà làm được phú cường, các nhà đại tư bản do kinh thương mà phú gia địch quốc, thế thì sự buôn bán cũng không nên câu nệ như xưa mà chẳng lưu tâm nghiên cứu. Nhưng vì nước ta ngày trước chỉ chí tại thi đỗ để ra làm quan, ngày nay học tây chỉ chí tại tốt nghiệp để ra làm việc, ít người chí làm thực nghiệp”.
xin được điểm lại nguyên văn 10 hạn chế của thương giới Việt trong cuốn “Thương học phương châm”:

1. Người mình KHÔNG CÓ THƯƠNG PHẨM, cái tài liệu của nhà buôn bán cốt tại công nghệ, công nghệ của người mình xưởng thợ không dựng, máy móc không có, sách vở nghề làm thợ cũng không ai làm, các thợ thuyền chỉ biết chuyên theo nghề cũ, không mấy ai suy nghĩ kiểu mới kiểu lạ, làm nghề gì cũng chế tạo bằng thủ công, cho nên đồ gì cũng khổ dũ bạc nhược, khi dụng vật liệu tức là cái tài liệu của nghề buôn bán, tài liệu đã kém thời buôn bán còn mạnh được sao.


2. Hai rằng KHÔNG CÓ THƯƠNG HỘI. Người các nước văn minh buôn bán đều có thương hội, thương hội càng đông thời buôn bán càng to, nên mới gây dựng được cửa hàng vốn liếng đến hàng ức hàng triệu, còn các nhà thương mại ta buổi này cũng có số ít người muốn sốt sắng lập thương hội, nhưng cách thức lập thương hội chưa thạo, công việc xếp đặt trong hội chưa sành, kẻ gian quyết mượn tiếng lập hội làm kế vơ vét người ngay thật vì việc vào hội hóa phải thiệt riêng, thành ra thương hội chưa lập đã vỡ, cổ phần chưa họp đã tan, có khi sinh ra thù oán kiện tụng lôi thôi nữa, như thế còn gọi là thương hội sao được.

3. Ba là KHÔNG CÓ TIN THỰC. Lòng tin thực tức là cái cốt yếu của nhà buôn, đã không có lòng tin thực thời một người mắc lừa một trăm người không tin, một lần được lợi, muôn phần chịu thiệt, cái ám muội của nhà buôn ta không thể nào tả hết được, chỉ xem ngạn ngữ ta rằng “Thực thà cũng kể lái buôn” thời đủ biết đức tính của nhà buôn ta vậy. Kìa như hàng Tây với hàng Tàu vật gì cũng mã giá nhất định, hoặc chỉ nói một lời mà người mua không phải mặc cả nên mua bán không phải chào mời khó nhọc. Đến như hàng ta thì nói lên mười, mà bán xuống sáu, nói rất cao mà bán rất hạ, khách chưa đến cửa đã vội mời vào, khách ra khỏi cửa thì mới gọi bán, chẳng qua chỉ muốn lừa lọc những kẻ quê mua khờ dại để đánh lừa lấy đôi chút lợi nhỏ mà thôi, ấy chỉ bởi cái lòng không tin thực ấy mà làm trở lực cho hàng hóa ta không thể nào mạnh bằng hàng các nước được.
4. Bốn rằng KHÔNG CÓ KIÊN TÂM, người các nước văn minh đã chuyên làm nghề gì thời sống chết cũng chăm vào cái mục đích ấy, làm cho nghề được tấn tới mãi lên, dẫu gặp việc ngang trở cũng không quản, thấy việc gian nan cũng không từ, các nhà buôn ta trừ một số ít nhà phú thương không kể, còn thời phần nhiều là đầu năm đi buôn, cuối năm đã đi làm thợ, năm nay đi buôn không lợi, sang năm lại xoay nghề khác, hoặc làm nghề gì không lợi mới lại tìm cách đi buôn, chỉ hấp tấp làm cái lợi nhãn tiền mà không kiên tâm cố chí, nên việc buôn bán không có vững vàng, không có nề nếp vậy.

5. Năm rằng KHÔNG CÓ NGHỊ LỰC. Người các nước buôn bán thường vượt bể nọ sang bể kia, từ nước này qua nước khác, người nước mình buôn bán tự miền xuôi lên miền ngược, đã lo những nước độc ma thiêng, từ miền bắc xuống miền nam đã gọi là chân giời góc bể, chí khí đã nhút nhát, tư tưởng lại hẹp hòi. Nên buôn bán dẫu có gặp vận, gặp thời, mà kết quả cũng chỉ đủ thân kế gia kế mà thôi, không phát đạt bằng nhà buôn các nước được.
6. Sáu là KHÔNG BIẾT TRỌNG NGHỀ. Sách Tây có câu rằng “không có nghề gì là không quý”. Sách Nho có câu rằng “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, suy thế thì ai làm nghề gì phải lấy nghề ấy làm quý mới khá, nhưng cái thông bịnh của người mình thời ai cũng lấy hàm cao quan lớn làm vinh mà ít ai biết buôn bán làm trọng, suy ngay chính những nhà buôn lúc trước còn chịu khó ăn nhịn để dành hết sức làm lụng, đến lúc đã được lưng vốn khá to thời đã vội vứt của huyết hãn ra hàng nghìn hàng vạn, luồn cửa này vào cửa khác, tấp tênh mua chuộc lấy tiếng phẩm nọ hàm kia, nghề đã không trọng chỉ trọng hư danh thời tư bản thực sự có sút đi mà khó mong tấn tới lên được.

7. Bảy là KHÔNG CÓ THƯƠNG HỌC. Các nước văn minh đều có tràng thương học, có khảo thí thương mãi, để đào tạo cho các học sinh có đủ tư cách làm nghề buôn, bởi thế nên người buôn bán có kiến thức, cách buôn bán được khôn ngoan. Nước ta ngày nay, dẫu nhà nước có đặt trường dạy buôn, nhưng nói cho phải thời học sinh vào đó học mà cố ý sau này ra buôn bán thời ít, mà vào đó học để tìm lấy chân vào làm việc các sở thời nhiều, còn những nhà buôn cũ thời nào có ai đã từng vào tràng thương học xem sách dậy buôn đâu, nên có nhiều người chỉ biết gồng nặng gánh nhẹ, lên ngược xuống xuôi thôi, mà chữ nghĩa không biết, tính toán không thông. Thời làm thế nào nhớ được hàng giao dịch nơi này sang nơi khác, hàng nghìn hàng vạn, làm thế nào cho hàng hóa tiêu thụ được rộng. Làm thế nào hiểu được luật lệ của các nhà buôn, bởi thế nên không tấn bộ được.

8. Tám rằng KÉM ĐƯỜNG GIAO THIỆP. Các nhà buôn cần phải biết cách giao thiệp, vì giao thiệp là cái môi giới của đường buôn bán, giao thiệp rộng rãi, quen biết nhiều nơi, thời buôn bán mới mạnh. Xem như nhiều nước đều có học tiếng nước Anh là tiếng nói vạn quốc thông dụng để đi đến nước nào nói năng cũng được tiện lợi và in những sách chiêu hàng phân phát cho nhiều người yêu dùng, khôn ngoan biết là chừng nào. Nhà buôn mình phần nhiều là kiến văn không rộng, ý tứ không sành, giao thiệp vụng về, nói năng kém cỏi, làm gì biết được cách giao thiệp ấy. Giao thiệp đã vụng thời buôn bán được sao.

9. Chín rằng KHÔNG BIẾT TIẾT KIỆM. Hai chữ tiết kiệm thực là một cái yếu kiện của nhà buôn. Cận lai nhà buôn ta cũng theo cái phong trào xa xỉ càng ngày càng mạnh mà gây nên cái độc căn bản không vững bền. Nguyên vì các nhà buôn ta đại đa số là tư bản bạc nhược đã bó buộc vào trong tệ tục, ăn mặc không xa hoa lấy làm hổ thẹn, nhà cửa không lộng lẫy không dễ mượn vay, làm ít tiêu nhiều, dư dật được ít nào đều bị cái phong trào xa xỉ nó cuốn cuộn cả đi, bởi thế nên nhiều người tháng sau cáo cùng mà tháng trước vẫn diện ô tô song mã; lắm nhà ngày mai tịch ký mà ngày nay vẫn bày châu báu ngọc ngà, thật là chỉ choáng vẻ bề ngoài mà xấu bề trong, tốt bộ vỏ mà không có ruột, trách nào vốn liếng mỗi ngày chẳng kém đi, sinh kế ngày càng quẫn bách.
10. Mười rằng KHINH NỘI HÓA. Người các nước trọng dùng của thổ sản, đồ gì cũng làm lấy mà dùng, lại thi nhau làm đồ mới đồ lạ để cho mua bán tiêu thụ càng ngày càng rộng. Người nước ta chỉ quý ngoại hóa, khinh nội hóa, thấy người ngoài có đồ mới lạ, không biết bảo nhau chế tạo hơn lên để mà chấn hưng thương nghiệp, cũng có thứ nguyên là của mình làm ra mà người ngoài thêu mấy chữ hiệu của họ vào, thời người mình đua nhau mà buôn, đua nhau mà mua, dẫu bao nhiêu tiền cũng không tiếc, khiến cho lợi quyền mất cả ra ngoài, trách nào nghề buôn mình chả kém các nước.

Mười cái điều nhược điểm đã nói lên như trên này chính là cái bịnh rất nhớn làm cho các nhà buôn ta bó buộc vào đất eo hẹp mà không có đường mở mang, sa hãm vào cái cảnh thua sút mà không có cơ phát đạt được, những điều đó từ phong tục theo nhau như thế mà sinh ra, nhưng thực từ các nhà buôn ta kiến thức không giỏi, quyết đoán không rành, nên không thoát khỏi được, nếu ta không biết những điều nhược điểm đó như cái bịnh độc hại phải tìm phương mà cứu chữa, như con đường trở ngạnh phải tìm cách mà khai thông, thời nghề buôn mình làm thế nào mà cạnh tranh với người được.
Hình như cái này nói Việt Nam nghèo do không đề cao nghề đi buôn, liên quan gì đến bản tính dân tộc ? :embarrassed:
 
Chuẩn cmnr, trí óc ngu đần, chế tác theo lối cũ được dạy, đéo có sáng kiến, thẩm mỹ, coi clip nghệ nhân Nhựt bổn hay Tung của nó chế tác tinh sảo các món đồ, bọn ngu xứ Vẹm bâu vào chê bai, nào làm màu, nào tốn time các kiểu, đúng thứ dân hơn 90% súc vật cặn bã vl..
 
Trong Pháp Việt giao binh ký của Sone Toshitora(1 võ sĩ thời Bakumatsu, Đại úy hải quân Đế quốc Nhật).

-Người An Nam không thiếu người có tài có trí. Họ có tánh giỏi nhớ, tuy chưa thể vào sâu trong mọi sự, chứ được cái học mau biết. Người Pháp đến An Nam mới mười năm nay mà người An Nam học tiếng Pháp cũng đã đủ dùng, nói chuyện thường không đến nỗi ngập ngợ; vả lại viết bằng chữ Pháp cũng được nữa

-Họ không phải là không dũng khí. Nếu cai trị có phương pháp, lấy pháp luật mà chỉnh tề, lấy đạo nghĩa mà cố kết thì sự dũng cảm của người An Nam được việc lắm, sẽ không có người nước nào ở Đông phương này bằng họ được. Nay vì sự cai trị lỗi phương, trên dưới không noi đường chính, cho nên lòng người tàn bạo và khinh bạc thật hết chỗ nói. Coi như giữa chỗ pháp trường, người An Nam đến coi tuy thấy sự thảm khốc trước mắt mà họ vẫn đứng hút thuốc tự nhiên, không hề có vẻ thương xót. Như thế là vô tình quá lắm, chứ có phải dũng gì đâu!
Thấy lão Nhật này nhận xét đúng. Người Việt k thiếu người có tài trí, dũng khí. Nếu cai trị đúng đắn, pháp luật chỉnh tề thì sẽ không có người nước nào ở Đông phương này bằng được. Còn cai trị lỗi phương, trên dưới không noi đường chính, thì dẫn đến lòng người tàn bạo và khinh bạc thật hết chỗ nói
 
lằng nhằng, thằng nào chê dân tộc dzịt lam lày là phản động, là 3 que, là khát nước, là cali, hiểu hông, vậy cho nó nhanh :v
 
các dân tộc này chắc 95% là toàn hạng rác rưởi, may mắn là cuộc sống tao không cần liên quan tới nhiều người nên đỡ phải tiếp xúc với các cục rác biết đi:vozvn (19):
thôi về tự địt con mẹ mày đi cho đỡ rác. Chắc Lồn đã đọc hết bài thằng chủ theart mà vơ đũa cả lắm. Địt con mẹ mày lần nữa
 

Có thể bạn quan tâm

Top