Huyền sử vua Hùng Vương, có phải là Sở vương?

Triệu đà đưa xuống
Nó là 50 vạn dân binh của Triệu Đà đưa xuống khu vực nam nước Sở để vừa đồng hóa vừa bình định
Nó giống như nhà Nguyễn và nước Pháp bắt đầu đồng hóa Tây Nguyên thôi
Tốt vậy là chúng ta là con cháu của Doanh Chính, sẵn sàng hy sinh tình thân vì nghĩa lớn
 
Tốt vậy là chúng ta là con cháu của Doanh Chính, sẵn sàng hy sinh tình thân vì nghĩa lớn
Mỗi lần có biến động xh là ở bển sẽ cho chiếu phim thời Tần, Hán để khuyến thích tinh thần thống nhất, dân tộc lãnh thổ đó. Căng thẳng với Đài, Nhật cũng cho chiếu phim thời Tần để khuyến khích con em Đông Chinh như tinh thần Nam tử Tần thời xưa :))
 

Tác giả ng Việt dưới cái tên Charles Paine thì cho rằng:
  1. Văn minh phương Nam đi trước: Nền văn minh lúa nước ở phía Nam (như văn hóa Lương Chử) phát triển rực rỡ, độc lập và có tổ chức nhà nước sớm hơn văn minh lưu vực sông Hoàng Hà (phương Bắc) cả thiên niên kỷ.
  2. Ký ức về đại hồng thủy: Một biến cố khí hậu khắc nghiệt (lũ lụt) khoảng năm 2300 TCN đã tàn phá nền văn minh phương Nam, buộc cư dân phải di tản để bảo tồn nòi giống.
  3. Huyền thoại là "bộ nhớ cộng đồng": Dưới góc nhìn hiện tượng học, huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ không phải chuyện cổ tích viển vông, mà là cơ chế mã hóa, lưu trữ ký ức và kinh nghiệm lịch sử của dân tộc.
  4. Thông điệp "Bọc trăm trứng": Biểu tượng này mang ý nghĩa chống tuyệt diệt, khẳng định khả năng tái sinh của cộng đồng: dẫu phải phân tán khắp nơi nhưng không bao giờ tan rã vì chung một cội nguồn.
  5. Chiến lược sinh tồn 50/50: Việc chia 50 con lên núi, 50 con xuống biển là một "thuật toán" phân tán rủi ro thông minh, giúp mở rộng không gian sống và tăng cơ hội sống sót trước các thảm họa thiên nhiên.
  6. Giải thực dân hóa lịch sử: Cần bác bỏ việc gán ghép Kinh Dương Vương vào phả hệ Thần Nông (Trung Quốc), qua đó khẳng định sự tồn tại độc lập và tự chủ của nền văn minh Văn Lang.
  7. Bản sắc văn hóa sông nước: Hệ thống biểu tượng Rồng - Tiên phản ánh đúng đặc trưng sinh thái nội sinh của người Việt: gắn liền với lúa nước, mạng lưới sông ngòi và công cuộc trị thủy, hoàn toàn khác với nông nghiệp lục địa khô hạn.
  8. Chuyển hóa thành quyền lực nhà nước: Sự xuất hiện của trống đồng Đông Sơn và thành Cổ Loa là minh chứng vật chất cho thấy ký ức di cư sinh tồn đã phát triển và kết tinh thành một nhà nước bản địa có tổ chức, kỹ thuật cao.
 

Tác giả ng Việt dưới cái tên Charles Paine thì cho rằng:
  1. Văn minh phương Nam đi trước: Nền văn minh lúa nước ở phía Nam (như văn hóa Lương Chử) phát triển rực rỡ, độc lập và có tổ chức nhà nước sớm hơn văn minh lưu vực sông Hoàng Hà (phương Bắc) cả thiên niên kỷ.
  2. Ký ức về đại hồng thủy: Một biến cố khí hậu khắc nghiệt (lũ lụt) khoảng năm 2300 TCN đã tàn phá nền văn minh phương Nam, buộc cư dân phải di tản để bảo tồn nòi giống.
  3. Huyền thoại là "bộ nhớ cộng đồng": Dưới góc nhìn hiện tượng học, huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ không phải chuyện cổ tích viển vông, mà là cơ chế mã hóa, lưu trữ ký ức và kinh nghiệm lịch sử của dân tộc.
  4. Thông điệp "Bọc trăm trứng": Biểu tượng này mang ý nghĩa chống tuyệt diệt, khẳng định khả năng tái sinh của cộng đồng: dẫu phải phân tán khắp nơi nhưng không bao giờ tan rã vì chung một cội nguồn.
  5. Chiến lược sinh tồn 50/50: Việc chia 50 con lên núi, 50 con xuống biển là một "thuật toán" phân tán rủi ro thông minh, giúp mở rộng không gian sống và tăng cơ hội sống sót trước các thảm họa thiên nhiên.
  6. Giải thực dân hóa lịch sử: Cần bác bỏ việc gán ghép Kinh Dương Vương vào phả hệ Thần Nông (Trung Quốc), qua đó khẳng định sự tồn tại độc lập và tự chủ của nền văn minh Văn Lang.
  7. Bản sắc văn hóa sông nước: Hệ thống biểu tượng Rồng - Tiên phản ánh đúng đặc trưng sinh thái nội sinh của người Việt: gắn liền với lúa nước, mạng lưới sông ngòi và công cuộc trị thủy, hoàn toàn khác với nông nghiệp lục địa khô hạn.
  8. Chuyển hóa thành quyền lực nhà nước: Sự xuất hiện của trống đồng Đông Sơn và thành Cổ Loa là minh chứng vật chất cho thấy ký ức di cư sinh tồn đã phát triển và kết tinh thành một nhà nước bản địa có tổ chức, kỹ thuật cao.
Người Mường và huyền thoại rồng tiên1

Nổi tiếng nhất, và cũng được biết đến nhiều hơn cả trong số các nghiên cứu này, trước hết, phải là phiên bản truyện kể được cung cấp bởi Cuisinier (1946) về nguồn gốc người Mường vốn là hậu duệ của nàng công chúa Hươu sao (cerf étoilé)/ Ngu Cơ với chàng hoàng tử Cá chép/Lương Wong/Lương Vương con vua Yịt (Việt). Cuộc hôn phối huyền thoại của mẹ Hươu và bố Cá, giống ở cạn/núi và giống ở thấp/nước, có kết quả là 100 người con. Khác với huyền thoại Việt đặt trọng tâm vào tính gia trưởng phụ hệ như là hệ quả của tư duy lệ Hán với toàn là con trai, huyền thoại Mường cân đối hơn, chia đều 50 trai và 50 gái. Giống như cuộc đời này, sau phút đầu tình yêu ngọt ngào, hôn nhân chứa đựng nhiều phiền toái, nhất là lại đẻ lắm, tới trăm đứa con, huyền thoại Mường ghi nhận, bất hòa đã nổ ra, nàng Hươu sao và chàng Cá thường xuyên cãi vã, cuối cùng, đường ai nấy đi. Nàng Hươu sao dẫn 50 con lên miền núi đồi khai sinh dòng vua áo đen, còn chàng Cá đem 50 con về miền cửa sông khai sinh dòng vua áo vàng. Dân Mường thờ nàng Hươu sao như tổ mẫu. Không quên tổ tiên của mình, người Mường trong lễ tang tộc người, cờ của ông mo - biểu tượng linh thiêng, vì thế có hình hươu sao và cá chép (Trần Từ 1996).

Ý tưởng hạt nhân của truyện kể - sự phân ly của 50 người con lên núi theo mẹ, và 50 người con xuống biển theo cha - được tiếp tục xác nhận với nhiều biến thể trong folklore Mường, đặc biệt đậm đặc trong bản sử thi quan trọng của tộc người, phần Đẻ đất đẻ nước. Nhân vật mấu chốt của huyền thoại, vua Vua Yit Yang/ Dịt Dàng/ Việt Vương được biết đến trong tư cách vua người Việt, làm chủ xứ Kinh kỳ kẻ chợ là một trong những người con nổi tiếng của tổ tiên Mường. Người Mường và người miền núi nói chung, về mặt dân tộc học, có một danh xưng khá độc đáo cho Việt là người Chợ, tiếng Việt được gọi là tiếng Chợ. Bản sử thi Đẻ đất đẻ nước ở Hòa Bình cho biết, Dịt Dàng là người con út trong 18 người con của Lang Đá Cần, bản kể ở Sơn La thì cho biết Dịt Dàng cũng là con út, nhưng lại là của cặp vợ chồng khởi nguyên Mường có 23 người con, còn theo bản kể Thanh Hóa thì vị vua Việt được cử về xuôi làm vua Kinh kỳ kẻ chợ lại là con của chim Tùng - chim Tót (Grigoreva 2015: 15). Như thế, rõ ràng ý tưởng về sự phân đôi Việt và Mường, một tập đoàn ở núi, hậu duệ của tiên/hươu/chim trở thành tổ tiên Mường hiện nay, tập đoàn còn lại, hậu duệ của rồng/cá ở đồng bằng sông biển thành người Việt hay Kinh (ở các kinh thành, kinh kỳ kẻ chợ bán buôn như cách người Mường gọi tên) là một ý tưởng phổ biến của các cộng đồng Mường nhiều nơi khác nhau, cũng như của người Việt được thể hiện trong huyền thoại được chuẩn định trong ngoại kỷ Toàn thư.
Khả năng cao Lê Lợi và các vua Lê gốc Mường nên Ngô Sĩ Liên mượn thần thoại Mường chép vào thành chính sử Việt Nam để tôn vinh nguồn gốc vua Lê
 
Người Mường và huyền thoại rồng tiên1

Nổi tiếng nhất, và cũng được biết đến nhiều hơn cả trong số các nghiên cứu này, trước hết, phải là phiên bản truyện kể được cung cấp bởi Cuisinier (1946) về nguồn gốc người Mường vốn là hậu duệ của nàng công chúa Hươu sao (cerf étoilé)/ Ngu Cơ với chàng hoàng tử Cá chép/Lương Wong/Lương Vương con vua Yịt (Việt). Cuộc hôn phối huyền thoại của mẹ Hươu và bố Cá, giống ở cạn/núi và giống ở thấp/nước, có kết quả là 100 người con. Khác với huyền thoại Việt đặt trọng tâm vào tính gia trưởng phụ hệ như là hệ quả của tư duy lệ Hán với toàn là con trai, huyền thoại Mường cân đối hơn, chia đều 50 trai và 50 gái. Giống như cuộc đời này, sau phút đầu tình yêu ngọt ngào, hôn nhân chứa đựng nhiều phiền toái, nhất là lại đẻ lắm, tới trăm đứa con, huyền thoại Mường ghi nhận, bất hòa đã nổ ra, nàng Hươu sao và chàng Cá thường xuyên cãi vã, cuối cùng, đường ai nấy đi. Nàng Hươu sao dẫn 50 con lên miền núi đồi khai sinh dòng vua áo đen, còn chàng Cá đem 50 con về miền cửa sông khai sinh dòng vua áo vàng. Dân Mường thờ nàng Hươu sao như tổ mẫu. Không quên tổ tiên của mình, người Mường trong lễ tang tộc người, cờ của ông mo - biểu tượng linh thiêng, vì thế có hình hươu sao và cá chép (Trần Từ 1996).

Ý tưởng hạt nhân của truyện kể - sự phân ly của 50 người con lên núi theo mẹ, và 50 người con xuống biển theo cha - được tiếp tục xác nhận với nhiều biến thể trong folklore Mường, đặc biệt đậm đặc trong bản sử thi quan trọng của tộc người, phần Đẻ đất đẻ nước. Nhân vật mấu chốt của huyền thoại, vua Vua Yit Yang/ Dịt Dàng/ Việt Vương được biết đến trong tư cách vua người Việt, làm chủ xứ Kinh kỳ kẻ chợ là một trong những người con nổi tiếng của tổ tiên Mường. Người Mường và người miền núi nói chung, về mặt dân tộc học, có một danh xưng khá độc đáo cho Việt là người Chợ, tiếng Việt được gọi là tiếng Chợ. Bản sử thi Đẻ đất đẻ nước ở Hòa Bình cho biết, Dịt Dàng là người con út trong 18 người con của Lang Đá Cần, bản kể ở Sơn La thì cho biết Dịt Dàng cũng là con út, nhưng lại là của cặp vợ chồng khởi nguyên Mường có 23 người con, còn theo bản kể Thanh Hóa thì vị vua Việt được cử về xuôi làm vua Kinh kỳ kẻ chợ lại là con của chim Tùng - chim Tót (Grigoreva 2015: 15). Như thế, rõ ràng ý tưởng về sự phân đôi Việt và Mường, một tập đoàn ở núi, hậu duệ của tiên/hươu/chim trở thành tổ tiên Mường hiện nay, tập đoàn còn lại, hậu duệ của rồng/cá ở đồng bằng sông biển thành người Việt hay Kinh (ở các kinh thành, kinh kỳ kẻ chợ bán buôn như cách người Mường gọi tên) là một ý tưởng phổ biến của các cộng đồng Mường nhiều nơi khác nhau, cũng như của người Việt được thể hiện trong huyền thoại được chuẩn định trong ngoại kỷ Toàn thư.
Khả năng cao Lê Lợi và các vua Lê gốc Mường nên Ngô Sĩ Liên mượn thần thoại Mường chép vào thành chính sử Việt Nam để tôn vinh nguồn gốc vua Lê
Câu chuyện trăm trứng thì ko phải chỉ có Việt, hay Mường mà sử thi sử thi Mahabharata của Ân Độ cũng có câu chuyện tương tự:
Hoàng hậu Gandhari mang thai rất lâu (có bản kể là gần 2 năm) nhưng không sinh được. Khi nghe tin em dâu đã sinh con trước, bà tức giận đập bụng, kết quả chỉ ra một khối thịt vô định hình. Hiền triết Vyasa xuất hiện, bảo chia khối thịt đó thành 100 phần nhỏ (có bản là 101). Mỗi phần được đặt vào một cái bình (giống “trứng”) chứa bơ/thuốc dưỡng, ủ trong thời gian dài. Sau đó, từ các “bình” này lần lượt sinh ra 100 người con trai (gọi là Kaurava) và 1 con gái.
 
Câu chuyện trăm trứng thì ko phải chỉ có Việt, hay Mường mà sử thi sử thi Mahabharata của Ân Độ cũng có câu chuyện tương tự:
Hoàng hậu Gandhari mang thai rất lâu (có bản kể là gần 2 năm) nhưng không sinh được. Khi nghe tin em dâu đã sinh con trước, bà tức giận đập bụng, kết quả chỉ ra một khối thịt vô định hình. Hiền triết Vyasa xuất hiện, bảo chia khối thịt đó thành 100 phần nhỏ (có bản là 101). Mỗi phần được đặt vào một cái bình (giống “trứng”) chứa bơ/thuốc dưỡng, ủ trong thời gian dài. Sau đó, từ các “bình” này lần lượt sinh ra 100 người con trai (gọi là Kaurava) và 1 con gái.
Cái này tao đọc lâu rồi
Còn câu chuyện bọc trăm trứng của Việt Nam thì đến Ngô Sĩ Liên đời hậu Lê mới có
 
Cái này tao đọc lâu rồi
Còn câu chuyện bọc trăm trứng của Việt Nam thì đến Ngô Sĩ Liên đời hậu Lê mới có
sử thi Mahabharata có từ năm 400 Tcn thậm chí hơn.
Sử thi đẻ đất đẻ nước chủ yếu là truyền miệng, dc ghi chép lại từ thế kỹ 20, thật khó mà kiêu ông ngô sĩ liên bịa ra từ câu chuyện của ng mường
 
Câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương trong lĩnh nam chích quái





 
sử thi Mahabharata có từ năm 400 Tcn thậm chí hơn.
Sử thi đẻ đất đẻ nước chủ yếu là truyền miệng, dc ghi chép lại từ thế kỹ 20, thật khó mà kiêu ông ngô sĩ liên bịa ra từ câu chuyện của ng mường
Mahabharata về bản chất nó cũng là truyền miệng mà thôi
 
Thời nhà ân thì vẫn dùng đồ đồng, âu lạc tiến bộ hơn có đồ sắt nên cho ân vương ôm đầu máu đúng rồi
Câu chuyện thần thoại vớ vẩn.
Mày biết thời Ân cách Âu Lạc mấy ngàn năm không?
 
Nước Vệ cứ lấy Triệu Vũ Đế làm mốc, Văn Lang Âu Lạc gì cho vào huyền sử hết.
Như Tàu lấy nhà Thương làm mốc, từ nhà Hạ trở về trước là huyền sử.
 

Chuyện chim bạch trĩ:
Về đời vua Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim bạch trĩ sang tiến cống¹²⁹. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai sứ qua nhiều lần dịch¹³⁰ mới hiểu nhau được. Chu Công hỏi: “Tại sao tới đây?” Họ Việt Thường đáp: “Đời nay không có mưa dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung Quốc có thánh nhân xuất thế, nhân vậy tới đây.” Chu Công than rằng: “Chính lệnh không thi hành thì người quân tử không bắt được kẻ khác thần phục mình, đức trạch không mở rộng thì người quân tử không hưởng lễ của người. Còn nhớ Hoàng đế có câu thề rằng phương Việt Thường không thể xâm phạm được.” Bèn ban thưởng cho vật phẩm địa phương¹³¹, dạy răn mà cho về. Họ Việt Thường quên đường về, Chu Công bèn ban cho 5 cỗ biền xa¹³² đều chế cho hướng về phương Nam¹³³, Lâm Ấp¹³⁴ đi một năm thì về tới nước. Cho nên, xe chỉ nam thường dùng để đi trước đưa đường. Về sau, Khổng Tử viết kinh Xuân Thu cho nước Văn Lang là một nơi hoang vu, văn vật chưa có bèn bỏ trống mà không chép¹³⁵. Theo bản cũ chép thì Chu Công có hỏi: “Người Giao Chỉ cắt tóc ngắn, xăm mình, để đầu trần, đi chân đất, nhuộm răng đen là có làm sao?” Đáp: “Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng rú. Xăm mình để giống hình Long Quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Đi chân đất để tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng lửa. Để đầu trần để tránh lửa bén. Ăn trầu cau để trừ ô uế cho nên răng đen vậy.”
 

Chuyện chim bạch trĩ:
Về đời vua Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim bạch trĩ sang tiến cống¹²⁹. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai sứ qua nhiều lần dịch¹³⁰ mới hiểu nhau được. Chu Công hỏi: “Tại sao tới đây?” Họ Việt Thường đáp: “Đời nay không có mưa dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung Quốc có thánh nhân xuất thế, nhân vậy tới đây.” Chu Công than rằng: “Chính lệnh không thi hành thì người quân tử không bắt được kẻ khác thần phục mình, đức trạch không mở rộng thì người quân tử không hưởng lễ của người. Còn nhớ Hoàng đế có câu thề rằng phương Việt Thường không thể xâm phạm được.” Bèn ban thưởng cho vật phẩm địa phương¹³¹, dạy răn mà cho về. Họ Việt Thường quên đường về, Chu Công bèn ban cho 5 cỗ biền xa¹³² đều chế cho hướng về phương Nam¹³³, Lâm Ấp¹³⁴ đi một năm thì về tới nước. Cho nên, xe chỉ nam thường dùng để đi trước đưa đường. Về sau, Khổng Tử viết kinh Xuân Thu cho nước Văn Lang là một nơi hoang vu, văn vật chưa có bèn bỏ trống mà không chép¹³⁵. Theo bản cũ chép thì Chu Công có hỏi: “Người Giao Chỉ cắt tóc ngắn, xăm mình, để đầu trần, đi chân đất, nhuộm răng đen là có làm sao?” Đáp: “Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng rú. Xăm mình để giống hình Long Quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Đi chân đất để tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng lửa. Để đầu trần để tránh lửa bén. Ăn trầu cau để trừ ô uế cho nên răng đen vậy.”
Câu chuyện này trích từ đâu?
 
Câu chuyện thần thoại vớ vẩn.
Mày biết thời Ân cách Âu Lạc mấy ngàn năm không?
Về Ân Vương ko hẵn là vua nhà ân mà có thể là 1 vương xứ nào đó thời nhà Ân.
Trong lĩnh nam chích quái còn có chuyện khác là Giếng tiên, chép về Ân Vương.
 
Về Ân Vương ko hẵn là vua nhà ân mà có thể là 1 vương xứ nào đó thời nhà Ân.
Trong lĩnh nam chích quái còn có chuyện khác là Giếng tiên, chép về Ân Vương.
Thế mày biết thời Ân cách thời Hùng Vương mấy ngàn năm không?
 
Top