Truyện về Tăng Minh Phụng

cosmow

Súng hết đạn
PHẦN 3 (phân đoạn2):

Trước mắt Tăng Minh Phụng không phải là đất, mà là một chiến trường bị lãng quên. Khu vực Dĩ An giờ đây chỉ còn là những bãi đất hoang vu, cỏ tranh mọc cao lút đầu người, lởm chởm những hố bom và dây thép gai rỉ sét sót lại sau năm 1975. Cái nắng tháng Bảy ở Sông Bé đổ xuống như đổ lửa, nung đỏ cả đất trời. Bụi đỏ cuộn lên sau bánh xe, phủ mờ vạn vật trong một màn sương màu máu.

Bác Ba Sông Bé ra hiệu dừng xe trên một ngọn đồi cao. Ông bước xuống, chiếc quạt mo phe phẩy, chỉ tay vào vùng đất hoang tàn trước mặt:

- Chú Bảy, chú thấy gì?

Tăng Minh Phụng nheo mắt, cố nhìn xuyên qua lớp bụi đỏ:

- Dạ thưa bác, con thấy... cỏ và bụi.

Bác Ba cười khà khà, tiếng cười vang vọng vào vách núi:

- Sai rồi! Người thường mới thấy cỏ. Còn đại gia như chú phải thấy vàng chứ!

Rồi bác Ba hạ giọng, vẽ ra một bức tranh huyền ảo bằng lời nói:

- Chú nhìn kỹ đi. Dưới lớp cỏ kia là vị trí đắc địa nhất miền Nam. Sát vách Sài Gòn, gần cảng, gần đường tàu. Mai mốt, chỗ này sẽ là nhà máy, là xí nghiệp, là ống khói nhả ra đô-la. Ở trên đã quyết rồi, giao hết cho thằng rể qua làm chủ đầu tư. Nhưng...

Ông ngừng lại, nét mặt chùng xuống, nặn ra vẻ khổ sở của một vị quan thanh liêm nhưng nghèo khó:

- Ngặt nỗi, tỉnh mình nghèo quá chú ơi. Dân ở đây bám đất giữ làng, muốn giải tỏa đền bù phải có “tiền tươi”. Mà ngân sách tỉnh thì... chú biết rồi đó, đếm từng đồng bạc lẻ. Muốn làm đường, kéo điện, san lấp cái đống hố bom này, cần cả núi tiền. Thằng rể qua nó có quyền, có dấu, nhưng nó thiếu lực.

Lúc này, ông rể Hoàng Gia mới bước tới. Gã không nói chuyện viển vông. Gã nói chuyện bằng ngôn ngữ của những con số lạnh lùng, thứ ngôn ngữ mà Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn hiểu rõ nhất.

- Anh Bảy à. – Ông rể Hoàng Gia mở cốp xe, lôi ra một tấm bản đồ quy hoạch khổ lớn, trải thẳng lên nắp capo nóng hổi của chiếc xe UAZ.

- Em nói thẳng. Đất này là đất của Nhà nước. Em làm đại diện. Em có quyền xin quy hoạch, có quyền chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất hoang sang đất khu công nghiệp. Cái đó anh không làm được, chỉ em làm được.

Gã chỉ ngón tay đeo nhẫn vàng vào giữa bản đồ:

- Nhưng để cái bản đồ này biến thành sổ đỏ, em cần vốn mồi. Em cần tiền để trả cho dân ngay ngày mai, để xe ủi vào việc ngay tuần sau. Anh là người có tiền. Anh hãy ký hợp đồng thuê đất trước, hoặc liên doanh với em. Tiền cọc của anh, em sẽ dùng để đền bù và làm hạ tầng cho chính anh.

Tăng Minh Phụng nhìn Liên Khui Thìn. Thìn đẩy gọng kính, tính toán nhanh trong đầu. Đây là kèo “Mỡ nó rán nó”. Phụng bỏ tiền ra (thực chất là tiền vay ngân hàng), Dũng dùng tiền đó làm sạch đất, rồi giao đất lại cho Phụng thuê. Về lý thuyết, Phụng thiệt thòi (trả tiền trước). Nhưng về chiến lược, Phụng sẽ được độc quyền sở hữu (thuê dài hạn) khu đất KCN lớn nhất và đầu tiên này.

- Còn pháp lý thì sao? – Phụng hỏi, bản năng thận trọng trỗi dậy yếu ớt.

- Đất này đang là đất nông nghiệp, đất quốc phòng cũ, chuyển đổi có khó không?

Bác Ba vỗ ngực cái “bộp”:

- Chú lo cái gì! Ở cái đất Sông Bé này, Tỉnh ủy đã trải thảm đỏ thì không ai được phép rải đinh. Qua đã “bật đèn xanh” về chủ trương, chú cứ mạnh dạn mà chạy. Cơ chế là do con người tạo ra, mình vì dân thì mình dám xé rào. Chú cứ bơm tiền đi, giấy tờ thằng rể qua nó lo. Qua hứa danh dự với chú, chỉ cần hạ tầng lên, là sổ đỏ trao tay. Lúc đó, chú muốn phân lô, muốn xây xưởng, muốn làm gì thì làm.

Gió thổi mạnh, cuốn bay những tờ giấy tờ quy hoạch bay phần phật. Tăng Minh Phụng đứng giữa trời đất bao la, nhìn thấy viễn cảnh huy hoàng: Hàng ngàn công nhân mặc áo xanh Minh Phụng tan ca, những container hàng nối đuôi nhau ra cảng. Ông tin vào cơ chế và cái vỗ ngực của bác Ba – một người cùng phe với Cụ Sáu. Và quan trọng hơn, ông tin rằng mình đang nắm đằng chuôi. Vì tiền là của ông. Không có tiền của ông, cha con bác Ba chỉ có đất để... trồng mì.

- Được! Con chơi! – Tăng Minh Phụng đập tay xuống nắp capo.

- Con sẽ lo toàn bộ vốn. Con sẽ điều đội xe ủi của con lên. Tiền cọc con sẽ chuyển ngay vào tài khoản…

Ông rể Hoàng Gia mỉm cười. Lần này là một nụ cười thật sự. Ngay trên nắp capo chiếc xe UAZ cũ kỹ ấy, giữa bãi đất hoang đầy nắng và gió, một bản “Hợp đồng Vốn Mồi” không chính thức đã được thiết lập. Tăng Minh Phụng ký vào biên bản ghi nhớ, nét bút dứt khoát như rồng bay phượng múa.

- Đất đã có, Tiền đã có. – Phụng quay sang hỏi.

- Nhưng đứa con này tên là gì? Chúng ta không thể gọi nó là “Khu công nghiệp Dĩ An” được. Nghe quê mùa quá. Nó cần một cái tên chấn động, một cái tên mà cả Đông Dương này nghe thấy phải giật mình.

- Anh Bảy à, anh có biết dưới chân mình là cái gì không? – Ông rể hỏi, giọng trầm và lạnh.

- Là đất đỏ bazan. – Phụng đáp.

- Không. Là xương máu và thuốc súng. – Ông rể Hoàng Gia nhìn xa xăm, ánh mắt gã như xuyên thấu về quá khứ.

- Trước năm 75, chỗ này là sào huyệt của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến thời Mỹ ngụy. Căn cứ của tụi nó nằm ngay đây. Người ta gọi nơi này là căn cứ Sóng Thần.

Liên Khui Thìn giật mình nói:

- Sóng Thần? Tsunami? Tên này nghe dữ dằn quá anh Bảy. Sóng thần đi đến đâu là tang thương đến đó. Hay mình đặt tên là “Thái Bình” hay “Hưng Thịnh” cho nó lành?

- Dân ở đây quen gọi là Sóng Thần rồi. Nhiều người nói tên này xui, là hủy diệt. Nhưng với em, Sóng Thần là sức mạnh. Nó cuốn trôi tất cả những cái cũ kỹ, mục nát, những tàn dư của chế độ cũ, những nghèo đói của nông nghiệp lạc hậu... để trả lại một mặt bằng sạch trơn cho cái mới mọc lên. Nhưng mà... – Ông rể nhếch mép cười nhạt.

- Cái tên này “nặng vía” lắm. Chỉ sợ người yếu bóng vía không dám dùng. Anh Bảy là người làm ăn lớn, chắc anh cũng kiêng kỵ?
muQxk7f6NKS.jpg
 
Phần 3 (phân đoạn3):

Câu nói khích tướng ấy đã châm ngòi nổ trong đầu Tăng Minh Phụng. Máu của kẻ chinh phục bốc lên ngùn ngụt. Phụng ghét những cái tên ẻo lả như “Thái Bình”, “Hạnh Phúc”. Ông muốn một cái tên phải gầm ra lửa, phải khiến người ta sợ hãi và kính nể.

Phụng cười lớn, tiếng cười át cả tiếng gió rừng cao su:

- Kiêng kỵ cái gì! Ngộ là Lửa. Ngộ sợ gì Sóng?

Ông dang rộng hai tay, như muốn ôm trọn vùng đất hoang tàn này vào lòng.

- Chào mừng chú đến với Sóng Thần! – Bác Ba Sông Bé hô lớn.

Tiếng ông vọng vào vách núi, nghe như tiếng gầm của một con thú vừa được cho ăn no.

Sau cái gật đầu định mệnh trên nắp capo xe UAZ, dòng tiền từ Sài Gòn bắt đầu chảy ngược về Sông Bé như thác lũ. Tăng Minh Phụng giữ đúng lời hứa của một kẻ trượng phu. Ông rút ruột các hạn mức tín dụng từ Epco, từ Incombank, bơm thẳng vào tài khoản của sân sau Chúa Đất. Những đoàn xe ủi của Minh Phụng gầm rú ngày đêm, san phẳng những hố bom, dọn sạch những bãi mìn sót lại. Đất đỏ Sông Bé cựa mình, rùng rùng chuyển động. Những con đường nhựa đen nhánh chạy dài tít tắp, những cột điện cao thế vươn lên chọc trời. Ông rể Hoàng Gia ngồi trong văn phòng máy lạnh, nhìn qua cửa sổ, thấy gia sản của mình đang lớn lên từng giờ bằng tiền của người khác. Gã mỉm cười, một nụ cười mãn nguyện.

Rồi một buổi sáng cuối năm 1995, tin mật từ vùng ngoài bay về như một cơn gió lốc: Tỉnh Sông Bé sẽ được chia tách. Phần phía Bắc nghèo khó, rừng núi sẽ thành Bình Phước. Phần phía Nam trù phú, công nghiệp sẽ thành Bình Dương. Và Dĩ An chính là trái tim của Bình Dương mới. Tin tức này khiến giá đất ở Dĩ An nhảy múa điên cuồng. Tăng Minh Phụng sướng rơn. Ông tính nhẩm trong đầu: Những lô đất ông thuê giá rẻ bèo ngày xưa, giờ đây giá trị đã tăng gấp năm, gấp mười. Ông tưởng mình đã thắng lớn.

Nhưng niềm vui ấy ngắn chẳng tày gang.

Một buổi chiều mưa tầm tã, Tăng Minh Phụng ngồi đối diện với Liên Khui Thìn trong văn phòng tổng hành dinh ở Quận 3. Trên bàn không phải là rượu mừng, mà là những bản báo cáo tài chính đỏ lòm những con số nợ.

Liên Khui Thìn, với bộ óc lạnh lùng của một máy tính sống, đẩy gọng kính:

- Bảy nè, tin tách tỉnh là tin tốt. Giá đất Dĩ An đang lên đỉnh. Hay là mình chốt lời đi? Mình sang nhượng lại một phần hợp đồng thuê đất, lấy tiền mặt trả bớt nợ ngân hàng. Cái nợ nhập khẩu hàng hóa đang đè chết chúng ta rồi.

Tăng Minh Phụng đứng dậy, đi lại quanh phòng như một con hổ bị nhốt. Ông nhìn ra màn mưa trắng xóa:

- Chốt lời? Nị nghĩ ngộ làm trâu ngựa cho cha con ông Ba suốt cả năm nay chỉ để kiếm vài đồng bạc lẻ này sao?

- Vài đồng lẻ? – Thìn ngạc nhiên.

- Đó là hàng triệu đô-la đấy!

Phụng quay lại, ánh mắt rực lửa nhưng đầy cay đắng:

- Anh Thìn, anh nhìn kỹ lại đi. Sóng Thần là cái gì? Bản chất nó là đất công nghiệp. Là đất thuê 50 năm. Luật quy định rõ: Chỉ được xây nhà xưởng, không được phân lô bán nền, không được xây nhà ở. Giá một mét vuông đất khu công nghiệp kịch trần cũng chỉ vài chục đô. Nó ổn định, nhưng nó thấp. Nó có trần. Ngân hàng nhìn vào cái “trần” đó, họ lắc đầu. Họ bảo: “Hết room rồi, ông Phụng ơi. Tài sản của ông chỉ đáng giá bấy nhiêu đó, tôi không thể bơm thêm tiền cho ông đảo nợ được nữa”. Nị thấy sao? Toi!

Phụng đập tay xuống bàn:

- Ngộ đang nợ ngập đầu. Ngộ cần một cú nổ lớn. Ngộ cần một tài sản có thể định giá lên trời, chứ không phải mấy cái nhà xưởng tẻ nhạt này!

Rồi Phụng hạ giọng, nói ra cái điều gan ruột đang giày vò lòng tự tôn của ông:

- Hơn nữa, nị nhìn xem. Ai là người ký giấy tờ? Là bên ổng. Ai là người nắm con dấu? Là thằng rể nhà đó. Ngộ bỏ tiền, bỏ công, nhưng đất đai vĩnh viễn mang tên họ. Ngộ chỉ là “nhà tài trợ”, là “người làm thuê vĩ đại”. Ngộ là khách trên đất chủ. Thằng Lò đó nó khôn lắm. Nó ngồi im hưởng lợi. Còn ngộ chạy vạy lo tiền, cháy hết mình rồi tàn tro cũng thuộc về nó. Ngộ không cam tâm làm kẻ lót đường cho nó đi mãi!

Liên Khui Thìn im lặng. Thìn hiểu cái thế “cưỡi lưng cọp” của Phụng. Nợ cũ chưa trả xong, nợ mới đã tới hạn. Muốn sống, phải vay tiếp. Muốn vay tiếp, phải có tài sản thế chấp mới với giá trị khủng khiếp hơn.

- Vậy anh định làm gì? – Thìn hỏi.

Tăng Minh Phụng bước tới tấm bản đồ Sài Gòn treo trên tường. Ông lấy bút đỏ, khoanh tròn hai điểm: Thủ Đức và Vũng Tàu.

- Chúng ta sẽ chơi trò giả kim thuật. – Phụng tuyên bố, giọng đầy ma mị.

- Ở Dĩ An, một đồng vốn chỉ sinh ra một đồng lời. Đó là Toán học. Nhưng ở đây... – Ông chỉ vào vùng đầm lầy Thủ Đức.

- Đây là đất đô thị. Đất thương mại. Tụi mình mua một bãi sình lầy giá một đồng. Tụi mình đổ hai đồng tiền san lấp. Nhưng... tụi mình sẽ vẽ lên đó một bản quy hoạch trong mơ: “Khu đô thị lấn biển”, “Trung tâm thương mại Eppella”, “Thành phố tương lai”. Khi bản vẽ này hoàn thành, với sự “tiếp tay” của anh Hồng (Phạm Nhật Hồng – Incombank), ngân hàng sẽ không định giá nó là bãi bùn nữa. Họ sẽ định giá nó là đất vàng tương lai. Giá trị của nó sẽ là 100 đồng! Hahaha

Mắt Phụng sáng rực lên, một thứ ánh sáng của sự cuồng tín:

- Nị hiểu chưa? Tụi mình cần biên độ định giá ảo. Chỉ có bánh vẽ khổng lồ mới cứu được đống nợ khổng lồ. Dĩ An quá thật thà, quá minh bạch, nó không “đủ phê” để nuôi cơn nghiện vốn này. Ngộ cần một giấc mơ có giá trị vô cực!

Liên Khui Thìn rùng mình. Thìn nhìn thấy con đường phía trước: Rời bỏ mặt đất vững chãi để lao vào hư không (bánh vẽ). Nhưng Thìn cũng không còn đường lui. Cỗ máy Epco–Minh Phụng đã quay quá nhanh, nếu dừng lại bây giờ, cả hai sẽ bị nghiền nát bởi lãi suất.

- Được. – Thìn gật đầu, tháo kính xuống lau mồ hôi dù phòng rất lạnh.

- Chúng ta sẽ đi về phía Đông. Chúng ta sẽ vẽ tranh trên nước.

Và thế là, Tăng Minh Phụng quyết định lao vào cuộc chinh phạt Vũng Tàu và Thủ Đức với tâm thế của một con bạc khát nước đang chơi ván tất tay. Và… ở màn hình bên kia, bố vợ và chàng rể Sông Bé cũng đang cụng ly ăn mừng.

Họ đang ở đâu đây? Nơi đây không có ánh sáng mặt trời, chỉ có ánh đèn vàng vọt hắt lên những bộ ghế gỗ trắc chạm trổ hình rồng phượng. Ông rể Hoàng Gia đi theo sau, tay xách một chai rượu Cognac thượng hạng – thứ rượu ngoại đắt tiền mà họ không bao giờ mang ra mời khách lạ, chỉ để dành cho “người trong nhà”.

Tiếng nút bần bật ra “pốp!” nghe khô khốc. Bác Ba ngả người ra ghế, gác chân lên cái đôn sứ, thở hắt ra một hơi dài khoan khoái:

- Qua cũng không ngờ, thằng Phụng chi tiền như điên. Nhanh không tưởng, không một quy trình nào chạy kịp. Cái ngữ thằng đó hăng máu như con trâu á.

Chàng rể rót rượu ra hai chiếc ly pha lê, lắc nhẹ cho chất lỏng màu hổ phách sóng sánh:

- Nhưng trâu điên mới cày khỏe, ba à. Trâu khôn quá thì nó đâu chịu kéo cày cho mình.

Hai cha con cụng ly. Tiếng ly thủy tinh va vào nhau “keng!” nghe như tiếng hai thanh kiếm chạm vào nhau sau một vụ chia chác thành công.

- Con thấy không? Nó tưởng nó là ông vua. Nó tưởng nó bỏ tiền ra thì nó được làm chủ cái xứ này. Ngu! Ngu hết phần thiên hạ!

- Ở đời, thằng nào cầm tiền là thằng dại. Thằng nào cầm đất mới là thằng khôn. Tiền của nó là tiền vay, lãi mẹ đẻ lãi con, mỗi ngày mở mắt ra là nó bị ngân hàng dí như dí tà. Còn đất của mình là đất thật. Nó nằm im đó, không ăn không uống, nhưng càng để lâu càng đẻ ra vàng. – Chàng rể phụ họa.

- Con cứ để nó làm. Nó có lòng dọn sẵn mâm cỗ linh đình... Nó dọn xong xuôi, sạch sẽ, thì địa phương mình hưởng quả thôi. Của cải không mất đi đâu cả, nó chỉ chuyển từ túi người này sang túi người khác!

Ông rể Hoàng Gia nhếch mép, một nụ cười lạnh lùng không có hơi ấm:

- Ba nói phải. Người ta nói “trâu chậm uống nước đục”. Nhưng trong vụ này, con trâu nhanh mới là con trâu chết. Nó húc đầu vào đất đá, sừng nó gãy, móng nó mòn. Đến khi ruộng cày xong, lúa trổ bông, thì con trâu kiệt sức ngã xuống. Quy luật của tạo hóa là vậy, khi đã khai hoang xong, thì kẻ đi đầu cũng hết vai. Để cho đời ghi công con trâu, nhưng lúa gạo thì phải về kho chủ điền.

- Đúng! – Bác Ba đập bàn.

- Con nhớ kỹ lời ba. Thằng Phụng là con bò sữa. Vắt cho cạn sữa. Vắt xong thì... cái xác cũng đừng bỏ phí, âu cũng là nghiệp nó dĩ mang. Đừng để sót một giọt nào.

Hai cha con họ lại nâng ly, cười sảng khoái như chưa từng được cười.

Vào thời điểm đó, Sài Gòn lên cơn sốt. Nhưng Tăng Minh Phụng đang sốt rét. Những cơn sốt đất ảo ở Vũng Tàu (khu Chí Linh, Bàu Trũng) và Thủ Đức (khu Tam Bình, Hiệp Bình Phước) đang ngốn tiền của ông như một con quái vật không đáy. Đây là những vùng đất mà giới địa chất gọi là “túi bùn”. Dưới lớp cỏ xanh mướt là hàng chục mét bùn loãng. Muốn xây nhà, phải đổ xuống đó hàng triệu mét khối cát, chôn xuống đó hàng núi đá. Tăng Minh Phụng đã đổ tiền xuống. Nhưng tiền vào đến đâu, bùn nuốt đến đó. Các chuyên gia thẩm định nước ngoài đến, nhìn vào máy đo địa chất, rồi lắc đầu bỏ đi. Họ sợ cái gọi là rủi ro lún và rủi ro thanh khoản.

Trong cơn khát vốn ngoại để cứu vãn tình thế, Tăng Minh Phụng tìm đến ông trùm bất động sản đến từ Hồng Kông, chồng của cô A Muội gặp gỡ bên tửu lầu Ái Huê năm nào. Phụng hy vọng cái bắt tay với đại gia sẽ mang về dòng vốn triệu đô từ Hương Cảng, biến đầm lầy thành siêu đô thị như cách Hồng Kông đã làm. Vị đại gia nheo mắt nhìn ông nói với giọng lơ lớ:

Còn tiếp.
 
PHỤNG gốc Hoa Kiều nên chắc sẽ bị đập thôi !
Tụi mầy nhìn gương Vạn Thịnh Phát là hiểu !
Xưa giờ đều vậy !
Tạ Vinh thời VNCH cũng bị ông Kỳ xử tử !
thời nào cũng vậy thôi !
Còn Sun + Vin Group thì lại là người gốc Việt !
 
Phần 3 (phân đoạn cuối)

- Mr. Phụng. Ở Hồng Kông, chúng tôi lấp biển vì chúng tôi hết đất. Còn ở đây, đất liền còn mênh mông, tại sao nị lại lao xuống biển?

- Vì biển mới là vô tận! – Phụng đáp, giọng đầy hào khí.

Vị đại gia lắc đầu:

- Không. Biển là vô tận, nhưng tiền của ngài là hữu hạn. Dự án này của nị, về mặt tài chính, là một cái hố đen. Ngộ là dân kinh doanh, ngộ không ném tiền xuống nước. Ngộ không thể hợp tác với nị.

Tăng Minh Phụng sững người. Hy vọng cuối cùng về dòng vốn ngoại đã tắt ngấm. Nhưng đại gia Hồng Kông có lẽ vì chút “tình thương” của kẻ mạnh dành cho kẻ liều lĩnh, hoặc vì nể cái khí phách “dám chết” của Phụng, đã đặt tay lên vai ông:

- Ngộ không thể cho nị tiền. Nhưng ngộ có thể cho nị một lời khuyên. Nị đang đi ngược dòng nước. Nị cần một người nhìn thấy được những thứ mà người thường không thấy. Ở Hồng Kông, có một vị Đại sư, người được mệnh danh là “Quốc sư” của Lý Gia Thành (Li Ka-shing). Chính ông ấy đã đặt long mạch cho tòa nhà Cheung Kong Center. Nị nên gặp ông ấy.

- Ý nị là... Trần Bá (Chan Pah)? – Phụng thốt lên.

- Phải. Trần Lãng. – Đại gia gật đầu.

- Ngài Lý Gia Thành nghe lời ông ấy mới thành tỷ phú. Ngài thần tượng Lý Gia Thành, sao không thử hỏi ý kiến vị quân sư của ông ta? Biết đâu, ông ấy có cách trấn yểm để giữ được cát dưới chân ngài.

Lời gợi ý của vị đại gia Hồng Kông như một tia chớp xé toạc màn đêm trong đầu Tăng Minh Phụng. Lý Gia Thành! Đó là thần tượng, là hình mẫu mà Phụng tôn thờ. Phụng luôn mơ ước Minh Phụng–Epco sẽ trở thành một Cheung Kong Holdings của Việt Nam. Nếu Lý Gia Thành thành công nhờ Trần Lãng, thì Phụng cũng phải có Trần Lãng. Đó là tư duy “sao chép công thức thành công” của Phụng.

Ngay lập tức, Tăng Minh Phụng ra lệnh cho trợ lý chuẩn bị một khoản tiền mặt khổng lồ – hàng trăm ngàn đô-la thời bấy giờ (tương đương cả gia tài) – để làm lễ vật “nghênh thỉnh”. Ông không mời Trần Lãng như một thầy bói dạo. Ông mời Trần Lãng với nghi thức dành cho một bậc đế vương. Vé máy bay hạng nhất, khách sạn 5 sao, xe đưa rước tận chân cầu thang máy bay.

Phụng muốn chứng minh: Lý Gia Thành đãi ngộ ngài thế nào, Tăng Minh Phụng tôi đãi ngộ ngài thế ấy.

Cần phải giới thiệu thêm với mọi người, Ngự dụng Phong thủy sư Trần Bá Lãng là ai? Ông không phải là một nhân vật tầm thường, nếu chỉ tầm thường, chẳng ai bỏ tiền bạc triệu để mời đón ông. Trong giới huyền học và thuật phong thủy, Trần Lãng là cái tên nổi tiếng khắp Đông Á, đến nỗi có rất nhiều nhà phong thủy ở các quốc gia – kể cả Việt Nam – đều lặn lội sang Hồng Kông rồi Đài Loan để tìm ông cầu đạo. Trần Lãng thường đi đi lại lại khắp các khu vực từ Trung Quốc Đại Lục sang Hồng Kông, Macao, Đài Loan, thậm chí xuống các nước Đông Nam Á để xem phong thủy và bói tướng số cho những nhân vật “có máu mặt” trong xã hội. Về xem địa lý cách cục, có thể nói Trần Lãng là người giỏi bậc nhất về môn Huyền Không Phi Tinh, tương truyền các sách phong thủy dạy môn Huyền Không học tại Việt Nam đều xuất xứ từ hệ phái của ông. Tuy nhiên, tuyệt kỹ giúp Trần Lãng đứng đầu giới huyền học không phải là cầm la bàn đi đo cửa nhà (Địa lý), mà là xem tướng (nhân tướng học) kết hợp vọng khí (nhìn thấy khí sắc). Phong thủy nhà cửa chỉ hỗ trợ môi trường. Tướng mạo con người mới quyết định vận mệnh. Trần Lãng là bậc thầy “headhunter” tâm linh. Ông nhìn vào mặt một người là biết người đó có thành đại gia hay không, bất kể hiện tại họ nghèo thế nào. Giai thoại kể rằng Trần Lãng có “Thiên nhãn” (khả năng tâm linh do tu tập). Ông không cần lập lá số bát tự, ông nhìn vào “thần khí” toát ra từ ấn đường và đôi mắt để đoán định hưng vong.

Tương truyền năm xưa, khi Lý Gia Thành còn là gã buôn nhựa nghèo, Trần Lãng đã xem tướng và hỏi:

- Ông muốn bao nhiêu tiền thì đủ?

Lý nói:

- 30 triệu đô.

Trần Lãng phán:

- Số ông là kho tiền của trời, tiền chảy ra ngoài két, cả đời ông sẽ là người giàu nhất xứ này.

Sau này, mọi quyết định đầu tư lớn hay xây trụ sở của Cheung Kong Holdings (Trường Giang Thực Nghiệp), Lý Gia Thành đều hỏi ý kiến Trần Lãng.

Năm xưa, ông chủ Anh Hoàng là Dương Thụ Thành từng phá sản, nợ 320 triệu HKD. Tuyệt vọng muốn tự tử. Trần Lãng gặp và phán:

- Cậu đừng lo, khí số chưa tận. Hãy đi về hướng Tây (Kuwait/Trung Đông), sẽ có cơ hội lật mình.

Trần Lãng cười nhạt, nụ cười của bậc cao nhân nhìn thấu sự ngây thơ của phàm nhân:

- Ngài lầm rồi. Ngài nhìn kỹ đi.

Ông bước tới sát mặt Tăng Minh Phụng, nhìn sâu vào đôi mắt đỏ ngầu của vị đại gia:

- Tướng tùy Tâm sinh, Tướng tùy Địa chuyển. Tôi nhìn vào ấn đường của ngài, thấy sắc đỏ như lửa đốt (Hỏa khí xung thiên). Nhưng tôi nhìn xuống Địa các (Cằm) của ngài – nơi quản về hậu vận và đất đai – lại thấy màu đen xám ngoét (Thủy khí hãm tồn). Ngài là Phượng Hoàng Lửa (Chu Tước). Ngài bay trên trời thì ngài là đế vương. Nhưng ngài lại tham lam lao xuống vùng sình lầy này để kiếm ăn. Đây là Bàu Trũng – cái tên đã nói lên tất cả. Nó là cái “Bàu” (Vũng nước tù), là nơi tụ Âm khí cực nặng. Con Phượng Hoàng lao xuống nước, lông cánh ướt sũng, không bay lên được nữa. Lửa gặp nước bẩn, khói bốc lên mù mịt.

Trần Lãng chỉ tay vào những chiếc xe ủi đang gầm rú:

- Ngài đổ tiền (Kim) xuống đây. Trong Ngũ Hành: Kim sinh Thủy. Tiền của ngài (Kim) đổ xuống chỉ làm cho cái vùng nước này (Thủy) thêm mạnh mẽ, thêm hung dữ. Nó sẽ nuốt chửng ngài. Ngài đang nuôi dưỡng kẻ thù của chính mình!

Rồi ông hạ giọng, nói một câu sấm truyền bằng thuật ngữ bí truyền:

- Năm sau là 1997 (Đinh Sửu). Sắp tới là những năm Thổ vượng nhưng là Thổ ướt. Tôi thấy cung Tài Bạch của ngài bị sao Ngũ Hoàng Đại Sát (sao xấu nhất trong phong thủy) chiếu thẳng vào. Ngũ Hoàng đi tới đâu, tai họa tới đó. Nó nằm ngay dưới chân ngài, ở cái dự án lấn biển này đây. Nếu ngài tiếp tục động thổ, ngài sẽ kích hoạt Ngũ Hoàng. Lúc đó, không chỉ mất tiền, mà là “Nhân tài lưỡng không” (Người và của đều mất sạch).

Gió biển giật mạnh làm chiếc quạt trên tay Trần Lãng gãy đôi cái “Rắc!”. Tăng Minh Phụng giật mình thon thót.

Trần Lãng ném chiếc quạt gãy xuống biển, thở dài:

- Vật đã gãy, khí đã tận. Tăng đại lão gia, tôi khuyên ngài một câu cuối cùng với tư cách là người đã nhìn thấy sự hưng vong của Lý Gia Thành: “Lý Gia Thành biết sợ Nước nên ông ấy xây đập. Còn ngài khinh nhờn Nước nên ngài định uống cạn biển Đông”. Dừng lại đi. Quay về đất liền (Bình Dương) mà giữ lấy cái gốc. Đừng tham cái ngọn nữa. Nếu không, đến năm kết thúc của vận Phá Quân, ngài sẽ không còn mảnh giáp che thân.

Tăng Minh Phụng đứng chôn chân trên bờ kè. Lời của Đại sư như những nhát búa đóng đinh vào tâm can ông. Nhưng cái “nghiệp” của kẻ đã cưỡi lưng cọp quá nặng. Tiếng máy ủi ầm ầm bên tai át đi tiếng nói của lương tri.

Ông cúi đầu cảm tạ, nhưng đôi mắt vẫn rực lên ngọn lửa cố chấp:

- Cảm ơn Đại sư. Nhưng Phụng này sinh ra là Lửa. Nếu phải tắt, tôi thà tắt trong tiếng sóng gầm của đại dương còn hơn tắt lịm trong xó bếp.

Trần Lãng lắc đầu, quay lưng bước đi, bóng ông liêu xiêu hòa vào màn đêm đang nuốt chửng lấy bờ biển Vũng Tàu. Ông biết, có nói gì cũng vô ích.

Vừa đi một đoạn, thì bỗng một người bước ra chắn lối, cúi đầu cung kính dạ thưa:

- Dạ, con kính chào thầy Chan. Con khẩn thỉnh sư phụ về Bình Dương xem cho con một chuyến, con có đại sự mong thầy chỉ điểm bến mê.

Vừa nói vừa ra dấu cho phiên dịch viên thuật lại với Đại sư bằng tiếng Quảng. Người nào có gan lớn mà chắn lối thỉnh thầy vậy? Một người đàn ông nhướng cặp kính mắt lên nhìn cho rõ. Thì ra là… Ông rể Hoàng Gia đây mà. Hôm nay là lễ khởi công cho dự án Bàu Trũng, Tăng Minh Phụng mời rất nhiều thân bằng chí sĩ trong hội làm ăn kinh doanh đến tham dự, dĩ nhiên không thể thiếu những nhân vật máu mặt tỉnh Sông Bé cũ. Và bây giờ, đến phiên ông con rể mời thầy phong thủy bước về sân khấu của chính mình.

Không biết ông trùm Bình Dương muốn thỉnh giáo Đại sư điều gì? Ngự dụng Trần Bá sẽ phán truyền những dự ngôn nào cho tương lai của Lãnh chúa? Xem Phần 4 sẽ rõ…

Bài học cần nhắn nhủ: Qua câu chuyện này, chúng ta bàng hoàng nhận ra rằng, Tăng Minh Phụng không chết vì sự nghèo khó, mà chết vì chính sự phồn thịnh giả tạo do mình tạo ra. Câu chuyện về “con trâu và người nông dân” hay “ngọn lửa và dòng nước” để lại cho hậu thế những bài học nhân sinh rợn người, nằm chênh vênh giữa lằn ranh của mưu lược hậu trường và định mệnh tâm linh. Tăng Minh Phụng hiện lên như một con trâu hùng mạnh nhất cánh đồng phương Nam. Nhưng bi kịch của con trâu là nó lầm tưởng ruộng cày là của nó. Nó say sưa cày xới, đổ mồ hôi và máu để biến đất hoang thành đất vàng, mà quên mất rằng: Quyền sở hữu thật sự thuộc về người nông dân. Trong cuộc chơi tốc độ này, kẻ đi đầu (tiên phong) thường là kẻ ngã xuống (tử sĩ) để lót đường cho kẻ đến sau (thừa kế) bước lên vinh quang. Sự hào sảng của Tăng Minh Phụng khi ký hợp đồng trên nắp capo xe UAZ chính là khoảnh khắc ông tự ký vào bản án nô lệ cho chính dòng tiền của mình. Ông thắng về chiến thuật (có đất), nhưng thua về chiến lược (làm giàu cho người khác). Cuộc đối thoại giữa Đại sư Trần Lãng và Tăng Minh Phụng là cuộc va chạm giữa lương tri và tham vọng. Vũ trụ vận hành theo quy luật “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong”. Tăng Minh Phụng mang mệnh Phá Quân, lẽ ra phải nương nhờ Mộc hoặc Thổ để tồn tại. Nhưng sự kiêu ngạo đã xui khiến ông lao vào Thủy (Sóng Thần, Vũng Tàu, Lấp biển). Ông tin rằng Nhân định thắng Thiên, tin rằng dùng “Kim” (Tiền) có thể lấp đầy “Thủy” (Biển). Nhưng ông không hiểu nguyên lý Kim sinh Thủy – tiền càng đổ xuống, tai họa càng lớn mạnh. Cái quạt gãy trên tay Trần Lãng không chỉ là điềm báo vật lý, mà là tiếng gãy vỡ của một cột trụ chống trời. Khi con người cố tình dùng ý chí phàm tục để bẻ cong dòng chảy của tự nhiên, tự nhiên sẽ đáp trả bằng sự hủy diệt tàn khốc nhất. Và cuối cùng, là sự chuyển dịch lạnh lùng của “khí số”. Hình ảnh ông rể Hoàng Gia chặn đường Trần Lãng là một hình ảnh đầy ám ảnh. Nó báo hiệu sự chuyển giao quyền lực. Khi ngọn lửa của Phượng Hoàng bắt đầu tàn lụi vì gặp nước, thì hòn đá tảng (Thổ) lại bắt đầu trỗi dậy. Đất cần Nước để trở nên màu mỡ, và Đất cũng cần Lửa lụi tàn để biến thành tro bón cho cây. Tăng Minh Phụng đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình: Ông là ngọn nến cháy rực rỡ để soi đường, và sáp nến chảy xuống chính là thứ dung dưỡng cho những đế chế công nghiệp mọc lên sau này. Nhìn lại Phần 3, ta thấy xót xa cho một kiếp người tài hoa nhưng bạc mệnh. Phải chăng, cái giá của sự vĩ đại luôn là sự cô độc và sự phản bội? Hay đúng như lời sấm truyền: “Vạn sự giai hưu, duy nghiệp tùy thân” (Mọi thứ rồi sẽ mất, chỉ có nghiệp là theo mình). Tăng Minh Phụng đã chọn để lại một huyền thoại, thay vì chọn sự bình an. Và huyền thoại nào cũng được viết bằng máu.

(Còn tiếp)…
 
HUYỀN THOẠI VỀ ĐẠI GIA TĂNG MINH PHỤNG (Phần 4): ĐIỀM BÁO “CHẾT KHÔNG HÒM CHÔN”
*********************************************
Sau khi bỏ lại Tăng Minh Phụng đứng chôn chân bên bờ biển Bàu Trũng với lời sấm truyền về sự diệt vong, Đại sư Trần Lãng chưa kịp quay gót thì một chiếc Mercedes màu đen trườn tới, êm ru như một con báo gấm. Ông rể Hoàng Gia kính cẩn bước ra mở cửa xe cho Phong thủy sư bước vào, còn không quên bật dấu tay ra hiệu cho một tên đàn em bật chiếc dù màu đen để che nắng che bụi cho đại sư, kèm với quát tháo một tên đàn em khác cởi áo vest của hắn trải xuống mặt đường, mời thầy giẫm lên để bước vào xe.

- Thưa thầy, nước biển mặn lắm, không uống được. Mời ngài về đất liền uống chén trà sen. Thầy đi cẩn thận kẻo làm dơ gót ngọc.

Trần Lãng hơi nhíu mày, rồi cũng bước vào trong chiếc xe sang trọng lăn từ vùng cát trắng Vũng Tàu về vùng đất đỏ Sông Bé. Tin tức Đại sư Trần Lãng – “Quốc sư” của Lý Gia Thành – đang giá lâm tại đại bản doanh đã lan nhanh hơn cả tốc độ ánh sáng. Nó truyền đi trong giới thương nhân Hoa kiều tại Bình Dương như một bức mật mã quyền năng nhất. Đại bản doanh của ông rể không nằm trong tòa cao ốc chọc trời, mà ẩn mình giữa những cánh rừng cao su bạt ngàn của Công ty. Không khí ở đây đặc quánh mùi mủ cao su – thứ mùi của “vàng trắng”, nồng nàn và hăng hắc như mùi tiền mới in.

Chỉ trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ, sân trước của dinh thự Ông rể Hoàng Gia đã chật ních những chiếc xe hơi bóng lộn mang biển số nước ngoài. Đó là các trùm doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Thương mại Đài Loan, Hồng Kông, Singapore – những con “hổ giấy” đang làm mưa làm gió tại các khu công nghiệp phía Nam. Buổi tiếp kiến diễn ra trong một gian phòng rộng lớn, bày biện theo lối “Tiền Phật Hậu Thánh”. Ngồi chính giữa là Bác Ba Sông Bé, chiếc mũ phớt đặt trên bàn, mái tóc hoa râm rung rinh theo nhịp quạt trần. Ngồi bên cạnh là Bà Trần Hoàng Gia– người vợ tào khang, khuôn mặt phúc hậu, tròn đầy như vầng trăng rằm, tay vân vê chuỗi hạt bồ-đề. Xung quanh là quần thần văn võ: Họ đến không phải để bàn chuyện làm ăn. Họ đến để “ké lộc”. Trong mắt đám thương nhân này, Trần Lãng không phải là thầy phong thủy, mà là một Cây ATM sống biết thở. Họ tin rằng chỉ cần bắt được tay ông, sờ vào vạt áo ông, hay hít được bầu không khí ông vừa thở ra, thì công việc kinh doanh của họ sẽ “đại phát” như Lý Gia Thành. Tất cả im phăng phắc, chờ đợi phán quyết của vị “Thần toán” đến từ Hương Cảng.

Những người đàn ông bụng phệ, mặc vest Armani, xịt nước hoa Chanel nồng nặc, chen lấn xô đẩy nhau như những bà nội trợ đi tranh hàng giảm giá. Những người “có mũ” vốn dĩ ngày thường đi lại bệ vệ, mặt ngửa lên trời, nay cũng len lén tháo mũ kẹp nách, cúi rạp người xuống, chìa hai bàn tay múp míp ra để mong được Đại sư chạm vào. Những người “không mũ” thì ton hót, nịnh nọt bằng đủ thứ tiếng Quảng, tiếng Tiều, tiếng Quan Thoại:

- Đại sư! Ngài nhìn con một cái!

- Đại sư! Cho con xin cái danh thiếp để lên bàn thờ!

Trần Lãng ngồi giữa đám đông hỗn loạn ấy, khuôn mặt lạnh tanh như tượng gỗ. Trần Lãng bước vào, không dùng la kinh, chỉ dùng đôi mắt “Thiên nhãn” quét qua đám đông. Một người phiên dịch tiếng Quảng Đông đứng khép nép bên cạnh, mồ hôi vã ra như tắm vì áp lực.

Giữa cái chợ vỡ ấy, ông rể Hoàng Gia ngồi trên chiếc ghế bành bọc da hổ, mặt hầm hầm sát khí. Gã khó chịu vì đám nhân viên phục vụ chậm chạp làm mất mặt gã trước khách quý.

- Tụi bay chết hết rồi sao?! – Gã gầm lên, tiếng gầm làm rung chuyển cả mấy chùm đèn pha lê.

Một nhân viên phục vụ bưng khay trà sen đi tới, vì run sợ trước đám đông chen lấn mà lỡ tay làm sóng sánh vài giọt nước ra đĩa. Chỉ có thế thôi. Nhưng với ông rể, đó là tội tày đình.

Gã đứng phắt dậy, vung tay tát “Bốp!” một cái cháy má người nhân viên ngay giữa đại sảnh. Cú tát vang lên giòn tan, át cả tiếng ồn ào của đám doanh nhân Đài Loan.

- Đồ ăn hại! Mắt mày để dưới chân hả? Có biết đây là khách VIP của tao không?

Người nhân viên – đáng tuổi cha chú – cúi gằm mặt, run bần bật như cầy sấy:

- Dạ... dạ... con xin lỗi Chú... con xin lỗi Thầy...

Ông rể Hoàng Gia chỉ tay ra cửa, giọng lạnh lùng và hách dịch:

- Cút! Gọi thằng quản lý lên đây! Tao bỏ tiền nuôi tụi bay để tụi bay làm nhục tao hả? Quỳ xuống mà lau cho sạch!

Đám doanh nhân và quan khách im bặt. Không ai dám ho he. Cái tát đó không chỉ dành cho người nhân viên. Đó là cái tát “dằn mặt” mà ông rể muốn gửi đến tất cả mọi người ở đó: Ở cái đất Bình Dương này, tao là Vua. Tao có thể tôn trọng ông Thầy, nhưng với tụi bay, tao có quyền sinh sát.

Trần Lãng liếc nhìn cảnh đó qua gọng kính đen. Khóe môi ông khẽ nhếch lên một nụ cười khó hiểu. Đại sư dừng lại trước mặt ông rể Hoàng Gia. Ngài không nhìn trán, không nhìn mắt, mà nhìn cái lưng.

- Quả là quý nhân! – Trần Lãng thốt lên, người phiên dịch lập bập dịch lại.

- Tăng Minh Phụng có tướng “Phượng hoàng”, đẹp nhưng chỉ để hót và múa, gặp mưa là ướt cánh. Còn ngài... ngài có tướng “Quy bối Hùng yêu” (Lưng rùa eo gấu).

Ông rể nhướng mày, chưa hiểu là khen hay chê. Trần Lãng giải thích tiếp, giọng trầm đục:

- Lưng rùa thì gồng gánh được cả thiên hạ, chịu được sức nặng ngàn cân mà không than vãn. Eo gấu thì vững chãi như núi Thái Sơn, gió bão không lay chuyển được. Tướng này không phát lộ ra ngoài, mà ẩn vào trong. Ngài thuộc hành Thổ. Thổ này là đất đỏ, càng nung càng cứng. Ngài không cần bay cao, ngài cứ đi dưới đất, nhưng đi đến đâu, đất nở ra đến đó.

Cả khán phòng ồ lên. Bác Ba Sông Bé nghe người ta dịch lại thì gật gù đắc ý, vỗ đùi cái đét:

- Đúng! Thằng rể qua nó lì lắm!

Rồi Trần Lãng quay sang Bà Trần Hoàng Gia. Ông nhìn bà thật lâu, ánh mắt dịu lại:

- Phu nhân là cái “Kho” (Thiên Cang). Tướng ngài (ông Rể) là đi kiếm tiền, nhưng tướng phu nhân là người giữ tiền. Khuôn mặt bà như mặt đất hiền hòa. Nếu không có bà, ngài dù có kiếm được núi vàng cũng trôi đi hết. Bà là “Nội tướng”, là cái móng nhà. Móng có vững thì nhà mới cao. Nếu sau này ngài mà quay lưng với bà ấy, móng nhà tất sẽ chao đảo và đi vào những ngã rẽ kỳ lạ.

Sau màn xem tướng, đoàn người đưa Trần Lãng ra thăm khu đất KCN Sóng Thần – lúc này đang ngổn ngang công trường do Tăng Minh Phụng bỏ tiền san lấp. Trần Lãng đứng trước cái cổng chào đồ sộ đang xây dở. Lúc đó, cổng chào đang được thiết kế hướng thẳng ra trục đường chính (Quốc lộ), đón dòng xe cộ tấp nập đi vào. Theo tư duy thông thường, cổng phải to, phải rộng, phải chính diện để đón khách. Trần Lãng lắc đầu, nhíu mày:

- Sai rồi! Đại kỵ!

Ông chỉ tay vào dòng xe container đang chạy ầm ầm ngoài đường cái:

- Cái cổng này đang há miệng đón Sát Khí (Lưỡi dao). Con đường kia là dòng nước chảy xiết (Lộ Thủy). Xe chạy quá nhanh tạo thành luồng gió độc (Phong Sát) đâm thẳng vào tim khu công nghiệp. Nếu để cổng thế này, tiền vào cửa trước luồn ra cửa sau, tai nạn lao động liên miên, kiện tụng không dứt.

Ông rể Hoàng Gia tái mặt:

- Vậy phải làm sao thưa Đại sư?

Trần Lãng rút trong tay áo ra một chiếc thước dây thiên trường ra đo, rồi vạch một đường chéo trên mặt đất đỏ:

- Nghiêng 15 độ về hướng Đông Nam. Đừng đấu đầu trực diện với con đường. Hãy nghiêng cổng đi một chút để “Thu Phong Tụ Khí” (Hứng gió lành, tụ khí tốt). Làm như thế, dòng khí từ ngoài đường đi vào sẽ uốn lượn nhẹ nhàng, biến Sát khí thành Sinh khí. Giống như người ta hứng nước mưa vào chum, phải hứng nghiêng chứ hứng trực diện thì vỡ chum.

Ông rể Hoàng Gia – người nổi tiếng độc đoán – lúc ấy không chần chừ một giây. Gã quay sang ra lệnh cho đám kỹ sư (lúc đó đang thi công theo bản vẽ của Phụng):

- Đập! Đập hết! Xây lại theo lời thầy!

Đám kỹ sư xanh mặt:

- Nhưng thưa anh, móng đã đổ, cột đã dựng, sửa lại tốn kém tiền tỷ...

- Tao nói đập là đập! Tiền tao lo! (Thực ra là tiền Phụng lo) – Gã quát lên.

Và thế là, cái cổng chào KCN Sóng Thần đã được xoay trục. Một cú xoay 15 độ vô hình mà mắt thường không thấy, nhưng về mặt Huyền Không Phi Tinh, nó đã thay đổi toàn bộ cục diện. Nó biến Sóng Thần từ một “bãi chiến trường” thành một “cái túi đựng tiền”. Gió độc bị chặn lại ngoài cổng. Khí lành len lỏi vào từng nhà xưởng.

Trước khi lên xe ra về, Trần Lãng ghé tai ông rể Hoàng Gia, nói một câu cuối cùng (thông qua phiên dịch):

- Ông Tăng là người dọn cỗ. Ngài là người ăn tiệc. Nhưng hãy nhớ: Đất dày thì phải có đức dày mới chở được. Sau này chắc chắn ngài sẽ giàu có tột đỉnh, giàu nhất cả tỉnh khu này, xưng vương một cõi. Nhưng đừng quên cái gốc của người vợ tào khang đang ngồi kia. Nếu ngài bỏ cái gốc đó, đất sẽ nứt, và rùa sẽ lật ngửa.

Ông rể Hoàng Gia cúi đầu cảm tạ, nhưng ánh mắt gã nhìn xa xăm. Gã đã nghe được vế đầu, còn vế sau... gã để gió cuốn bay đi.

Đại sư Trần Lãng không ở lại lâu. Sau khi “phán quyết” số phận của Sóng Thần và Bàu Trũng, ông được một đại gia Đài Loan giàu có mời về Sài Gòn dự tiệc tẩy trần, rồi ngay trong đêm, ông lên máy bay trở về Đài Bắc. Trước khi bước lên cầu thang máy bay, ông ngoái đầu nhìn lại thành phố phương Nam đang rực rỡ ánh đèn màu lần cuối. Ông khẽ lắc đầu, rũ sạch bụi trần trên tà áo, mang theo sự may mắn cuối cùng rời khỏi mảnh đất này.

Tăng Minh Phụng không có thời gian để tiễn Trần Lãng. Ông đang mắc kẹt trong những căn phòng máy lạnh đóng kín mít của Ngân hàng Vietcombank và Incombank. Đối diện ông là Phạm Nhật Hồng và Nguyễn Ngọc Bích – những người từng một thời coi ông là “Thần Tài”. Nhưng hôm nay, khuôn mặt họ méo xệch như sáp nến chảy.

- Anh Bảy à, – Bà Bích nói, giọng run run, tay vân vê mép tờ giấy A4.

- Hà Nội gửi “trát” vào rồi. Ngân hàng Nhà nước siết “van” tín dụng. Những cái L/C (Thư tín dụng) trả chậm mà tụi mình ký khống cho anh, giờ nó không còn là phao cứu sinh nữa. Nó đang biến thành dây thòng lọng.

Còn tiếp…
 
Phần 4 (phân đoạn 2)

Tăng Minh Phụng cười:

- Chị Bích, anh Hồng lo gì? Hàng tôi vẫn nhập, xưởng tôi vẫn chạy. Chỉ là tắc nghẽn tạm thời. Tôi cần các anh chị nới cái thòng lọng đó ra một chút, để tôi thở, rồi tôi sẽ trả đủ cả vốn lẫn lời.

Nhưng trong ánh mắt của họ, Phụng đọc được sự sợ hãi. Họ sợ cái ghế của họ gãy trước khi tiền của Phụng về.

Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng, Nguyễn Tuấn Phúc – Chủ tịch EPCO, người anh em kết nghĩa trên thương trường – tìm đến Phụng với khuôn mặt thất thần:

- Bảy, nghe tin mật chưa? Thanh tra Chính phủ sắp vào. Tụi mình nằm trong tầm ngắm. Nếu họ khui ra vụ EPCO bảo lãnh khống cho Minh Phụng, anh em mình dựa cột hết.

Phụng gạt phắt điếu thuốc đang cháy dở:

- Dựa cột thế nào được! Chúng ta làm kinh tế, có phải đi ăn cướp đâu. Phải tìm “dù” mà che.

Và thế là, một cuộc gặp gỡ định mệnh được sắp đặt. Một cuộc mua bán “sự an toàn” diễn ra ngay giữa ban ngày ban mặt.

Một chiếc xe Toyota Crown màu đen bóng loáng, đeo biển số sắc xanh quyền lực mà chỉ cần xuất hiện, mọi rào cản giao thông và luật lệ đều phải cúi đầu nhường lối, đỗ xịch trước cửa trụ sở Minh Phụng. Chiếc xe như một “tòa phủ” di động, tách biệt hoàn toàn với dòng xe máy ồn ào hỗn loạn bên ngoài. Ngồi trong xe là Lê Minh Xử – một người đàn ông mang sắc phục công quyền có hàm có đai nhưng lại toát ra cái uy của một ông trùm tài chính. Với cương vị giám đốc một doanh nghiệp đặc biệt, ông ta giống một vị quan đang đi vi hành với tấm kim bài miễn tử giắt trong tay áo.

Tăng Minh Phụng và Nguyễn Tuấn Phúc bước lên xe. Cánh cửa đóng lại “Phập!”, nhốt chặt ba người trong một không gian im phăng phắc, mát lạnh và thơm mùi da thuộc. Bên ngoài cửa kính, người ta nhìn vào chiếc xe biển xanh với ánh mắt kiêng nể và sợ hãi.

Lê Minh Xử ngồi ở ghế sau, phong thái ung dung tự tại. Minh Phụng đẩy nhẹ chiếc cặp da căng phồng về phía Xử. Không cần mở ra, ai cũng biết bên trong đó là gì.

- Anh Xử, – Phụng nói, giọng chân thành và khẩn thiết.

- Tụi em làm ăn, sơ suất là khó tránh. Nghe nói “trên kia” đang muốn làm căng. Mong anh giơ cao đánh khẽ, che chắn cho tụi em một đoạn đường này.

Lê Minh Xử đặt tay lên chiếc cặp, mỉm cười – một nụ cười của kẻ nắm đằng chuôi:

- Chú Bảy, chú Phúc cứ kê cao gối mà ngủ. Hai chú nhìn con xe này, nhìn cái sắc áo tôi đang mặc thì phải hiểu chứ. Ở cái đất này, cái màu này nó là “nơi an toàn” rồi. Làm ăn với tôi tức là đã có “ô” che đầu, có “dù” chắn gió. Thằng nào muốn đụng vào hai chú thì cũng phải nhìn xem nó đụng vào ai đã. Chừng nào tôi còn ngồi đây, xe còn lướt trên phố, thì chẳng có cái “trình” nào dám lọt tới đâu. Đây là vùng bất khả xâm phạm rồi, hai chú cứ yên tâm.

Câu nói ấy như một liều thuốc phiện cực mạnh tiêm thẳng vào tĩnh mạch của Tăng Minh Phụng. Ông nhìn ra cửa kính xe. Dòng người ngoài kia bỗng trở nên nhỏ bé. Những quy định ngân hàng, những thanh tra chính phủ... tất cả dường như vô nghĩa trước uy quyền của chiếc xe biển xanh này.

Ông tin. Ông tin một cách mù quáng vào cái gọi là “bất khả xâm phạm”. Ông nghĩ rằng tiền có thể mua được luật pháp, và quan hệ có thể bẻ cong được song sắt nhà tù. Chiếc xe lướt đi êm ru trên đường phố Sài Gòn, chở theo ba người đàn ông đang say sưa trong ảo ảnh quyền lực.

Ông vừa mua được một tấm “kim bài miễn tử” từ tay cán bộ Xử, nhưng lạ thay, nhịp tim trong lồng ngực ông vẫn đập những nhịp loạn xạ như tiếng búa máy đóng cọc. Trong sâu thẳm trực giác của một con buôn lọc lõi, Phụng ngửi thấy mùi của cơn bão. Một cơn bão không có gió, nhưng có sức tàn phá gấp vạn lần bão Linda. Ông hiểu rằng, cỗ xe Minh Phụng – Epco đang lao đi với tốc độ 200km/h trên một con đường cụt. Nếu đạp phanh lúc này, xe sẽ lật. Ông sẽ chết vì phá sản dân sự. Cái danh dự “Vua Công Thương”, cái sĩ diện của người Hoa sẽ tan thành mây khói. Ông sợ sự khinh bỉ của người đời hơn là sợ song sắt nhà tù. Chỉ còn một cách duy nhất: Đạp lút ga. Ông phải tăng tốc, phải vay thêm, phải đảo nợ, để hy vọng chiếc xe đạt đến vận tốc ánh sáng và... bay qua vực thẳm. Một cú nhảy của lòng dũng cảm hay sự điên rồ? Ranh giới đó đã bị xóa nhòa.

Khi bình minh chưa kịp nhuộm hồng những mái nhà tôn ở Quận 11, Tăng Minh Phụng đã có mặt tại xưởng may. Ông không đến để kiểm tra hàng hóa. Ông đến để nghe nhạc. Đó là bản giao hưởng của hàng ngàn chiếc máy may Juki chạy hết công suất: Rào... rào... tạch... tạch... Tiếng kim đâm vào vải, tiếng chuyền chạy, tiếng công nhân gọi nhau í ới. Trong cái ồn ào hỗn độn đầy bụi vải ấy, Phụng tìm thấy sự bình yên kỳ lạ. Ông đứng lặng giữa xưởng, hít sâu mùi vải mới, mắt nhắm nghiền.

- Còn chạy là còn sống. – Ông lẩm bẩm.

Tiếng máy móc là nhịp tim của đế chế. Chỉ cần nó còn kêu, nghĩa là Minh Phụng chưa chết. Ông cần cái cảm giác “Đế chế vẫn đang hoạt động” để trấn an con quái vật sợ hãi đang gầm gừ trong bụng mình. Ông sợ sự im lặng. Bởi sự im lặng đồng nghĩa với việc ngân hàng đã niêm phong nhà xưởng.

Nhưng khi mặt trời lên cao, ảo giác bình yên tan biến. Ông và Liên Khui Thìn bị lôi tuột vào những cuộc họp kín trong phòng lạnh của ngân hàng. Không khí trong phòng đặc quánh khói thuốc. Những người bạn cũ như Phạm Nhật Hồng, Nguyễn Ngọc Bích... những người từng vỗ vai ông, gọi ông là “Anh Bảy”, là “Đối tác chiến lược”, giờ đây khuôn mặt họ biến đổi kỳ dị. Dưới ánh đèn neon nhợt nhạt, mặt họ trở nên xám ngoét, ánh mắt sắc lạnh như dao mổ. Họ không nhìn ông. Họ nhìn vào danh sách nợ quá hạn.

- Hết room rồi anh Bảy.

- Tài sản này định giá lại không đủ.

- Anh phải xoay tiền ngay, nếu không chúng tôi chết trước anh.

Từ vị thế “Thượng đế”, Phụng chuyển thành “con nợ”. Những cái bắt tay trở nên lỏng lẻo, ướt át mồ hôi. Ông nhận ra, mối quan hệ được xây bằng tiền thì sẽ sụp đổ khi tiền cạn. Nhưng ông vẫn cười, nụ cười méo xệch được dán lên mặt bằng keo dính của lòng tự trọng.

Chiều xuống, Phụng lại khoác lên mình bộ vest sang trọng nhất để đi gặp đối tác Đài Loan, Singapore. Tại những nhà hàng 5 sao lộng lẫy, dưới ánh nến lung linh, Tăng Minh Phụng vẫn diễn vai “Ông Vua Bất Động Sản” một cách xuất sắc. Ông hào sảng nói về những dự án lấn biển, về những thành phố tương lai ở Vũng Tàu.

- Các nị cứ rót vốn vào. Đất của ngộ là vàng ròng. Ba năm nữa, chỗ này sẽ là Hồng Kông!

Ông nâng ly rượu vang đỏ lên mời khách. Nhưng hỡi ôi, bàn tay từng ký những hợp đồng ngàn tỷ giờ đây lại phản chủ. Nó run lên bần bật. Chất lỏng màu đỏ sóng sánh trong ly, chực trào ra ngoài như máu tươi. Phụng phải dùng tay kia đỡ lấy cổ tay mình, cố giữ cho ly rượu không rơi. Ông uống cạn một hơi để che giấu nỗi sợ hãi. Rượu vang thượng hạng trôi qua cổ họng mà đắng ngắt như thuốc độc.

Đêm về khuya, khi vợ con đã say giấc, Tăng Minh Phụng một mình đối diện với sự thật tại biệt thự Quận 3. Ông không ngủ được. Giấc ngủ đã bỏ rơi ông từ lâu. Căn phòng làm việc ngập trong khói thuốc. Gạt tàn đầy ắp những đầu lọc bị dí nát – tượng trưng cho những phương án giải cứu bị bế tắc.

Trên tường là tấm bản đồ quy hoạch khổng lồ của dự án Chí Linh - Vũng Tàu. Dưới ánh đèn vàng vọt, tấm bản đồ dường như sống dậy. Những đường viền xanh đỏ của dự án không còn là đất đai nữa. Chúng biến thành những cái miệng rộng hoác của một con thủy quái khổng lồ. Con quái vật “Vũng Tàu” đang mở miệng đòi ăn. Nó nuốt chửng hàng triệu đô-la, nuốt chửng uy tín, và giờ nó muốn nuốt luôn cả mạng sống của ông.

Tăng Minh Phụng nhìn nó với ánh mắt vừa yêu vừa hận. Yêu, vì đó là giấc mơ vĩ đại nhất đời ông. Hận, vì chính nó là cái bẫy đã giam cầm con Phượng Hoàng Lửa. “Tại sao mày không nở hoa? Tại sao mày chỉ toàn là bùn?” – Ông gào lên trong câm lặng, đấm tay vào mặt kính bản đồ.

Những ngày tháng ấy, Tăng Minh Phụng trở nên lạ lùng. Những cơn ác mộng ập đến. Ông thường mơ thấy mình đứng giữa biển nước mênh mông, chân bị bùn quấn chặt, và phía xa là chiếc quạt giấy của Trần Lãng gãy đôi, rơi xuống nước. Có lúc, Tăng Minh Phụng chập chờn đi vào giấc mộng. Không còn là giấc mơ hóa rồng. Lần này, Mẫu Trầu hiện về trong mơ. Mẫu hiện ra với khuôn mặt đanh lại, tay cầm quạt che nửa mặt, ánh mắt quở trách sắc như dao cau: “ Ngươi có nhớ lời thề năm xưa dưới gốc cây chùa không? Ta cho ngươi lộc, nhưng khế ước là ‘Cho đi 7 phần, giữ lại 3 phần’. Ngươi hứa làm ra 10 đồng thì dùng 7 đồng để bố thí, xây cầu, giúp người, chỉ giữ 3 đồng để nuôi thân và tái đầu tư. Nhưng ngươi nhìn lại xem! Ngươi làm ra ngàn tỷ, ngươi giữ cả ngàn tỷ. Ngươi ném tiền vào đất, vào hư danh, vào những bữa tiệc rượu thịt. Ngươi không bố thí, ngươi chỉ đầu cơ. Ngươi đã phạm Luật Trời. Nay Ta đến thu lại tất cả. Không chừa một manh áo rách!”

Tăng Minh Phụng giật mình tỉnh giấc, mồ hôi vã ra như tắm, ướt đẫm cả ga giường lụa là. Tiếng quở trách của Mẫu Trầu còn văng vẳng bên tai. Sáng dậy, ông hay ngồi nhìn bà Sương chải tóc, nhìn những đứa con thơ đang ăn sáng. Ông nhìn họ thật lâu, như muốn khắc ghi từng đường nét vào võng mạc, sợ rằng một cái chớp mắt thôi họ sẽ tan biến. Có lần, trước khi bước ra xe để đến ngân hàng, ông quay lại, nắm tay vợ, giọng nhẹ bẫng nhưng nặng trĩu âu lo:

- Mình à... thương trường là chiến trường. Nếu lỡ anh có mệnh hệ gì... em nhớ giữ gìn sức khỏe. Đừng lo cho anh, ráng sống mà nuôi con.

Bà Sương sững người, chưa kịp hỏi thì bóng ông đã khuất sau cánh cửa xe đóng sầm lại. Chiếc xe lao đi, mang theo một người đàn ông đang chạy đua với chính cái bóng tử thần của mình.

Cuối năm 1996, một sự kiện chấn động làm rung chuyển giới tài chính Sài Gòn: Thanh tra Chính phủ chính thức vào cuộc tại Ngân hàng Công thương và Ngân hàng Ngoại thương. Những cái tên như Phạm Nhật Hồng, Nguyễn Ngọc Bích bị triệu tập liên tục. Tin mật báo về cho Tăng Minh Phụng: “Họ đang soi vào các hồ sơ L/C của Minh Phụng. Lần này không phải kiểm tra hành chính, mà là án hình sự”.

Tin dữ ấy như tiếng sét đánh ngang tai. Tấm khiên “biển xanh” của cán bộ Xử bỗng chốc trở nên mỏng manh như tờ giấy trước cơn bão táp của Trung ương. Sợ hãi tột độ, Tăng Minh Phụng cuống cuồng tìm cách chuộc lỗi. Ông nghĩ rằng tiền có thể mua được sự tha thứ của Thần Phật, giống như cách ông mua sự bảo kê của quan chức. Ông cho xe chở hàng bao tải tiền mặt chạy xuống Vũng Tàu. Không phải để đầu tư đất, mà để Cúng Dường. Ông tìm đến hệ phái Liên tông Tịnh Độ Non Bồng tại vùng Núi Dinh. Ông bỏ tiền trùng tu, xây dựng thêm kiến trúc cho chùa Tây Phương (Sùng Phúc tự) và các tịnh thất quanh vùng. Ông hy vọng công đức này sẽ là “lá chắn tâm linh” cứu ông thoát nạn.

Tại chùa Tây Phương, ông gặp vị sư trụ trì uy nghiêm – hòa thượng Thích Giác Cầu, người đứng đầu và có ảnh hưởng lớn nhất tại khu vực Núi Dinh. Hòa thượng Thích Giác Cầu ngồi trên bồ đoàn, tay lần tràng hạt. Tăng Minh Phụng quỳ dưới chân, dập đầu xin cứu mạng. Vị sư già mở đôi mắt đục mờ nhìn lên trán vị đại gia lừng lẫy. Ông không thấy hào quang của tỷ phú. Ông thấy một vệt đen sì, đậm đặc như mực Tàu nằm ngay ấn đường (khoảng giữa hai lông mày).

Hòa thượng lắc đầu, tiếng thở dài nhẹ như lá rơi:

- Mô Phật. Thí chủ công đức vô lượng, chùa ghi nhận. Nhưng... nghiệp này là định nghiệp. Bần tăng nhìn thấy ấn đường của thí chủ tối sầm, tử khí đã bao trùm lục phủ ngũ tạng. Đây là cái nạn “Trời hành”, tiền bạc không che chắn được, mà kinh kệ của bần tăng cũng không đủ lực để giải. Thí chủ đã đi quá xa rồi. Cần một người có pháp lực cao cường, may ra mới tìm được “khe cửa hẹp” để lách qua. Bần tăng lực bất tòng tâm.

Lời của Hòa thượng như gáo nước lạnh tạt vào mặt Phụng. Nhưng bản năng sinh tồn không cho phép ông bỏ cuộc. Ông nhớ đến Trần Lãng. Vị đại sư đã từng cảnh báo ông ở bờ biển Vũng Tàu. “Phải rồi! Chỉ có Trần Lãng. Ông ấy là thầy của Lý Gia Thành, ông ấy xoay chuyển được càn khôn. Ông ấy sẽ cứu mình!”

Còn tiếp…
 
tiểu Phụng bị phe lò vôi dựa hơi 6 dân nó thịt để cớp bđs đặc biệt là đất mấy kcn sóng thần. 3 ếch cũng nhờ làm trưởng ban phát mãi tài sản tiểu phụng mà có tiền đua ghế tể tướng
 
Phần 4 (phần cuối):

Bỏ lại sau lưng hàng núi công việc, Tăng Minh Phụng bí mật đặt vé máy bay sang Đài Bắc (Đài Loan), nơi Trần Lãng đang lưu trú.

Tại một tư gia kín đáo ở Đài Bắc, cuộc gặp gỡ diễn ra trong không khí lạnh lẽo. Không còn sự đón tiếp ồn ào như ở Bình Dương. Trần Lãng ngồi đó, nhìn Tăng Minh Phụng tiều tụy, hốc hác sau những đêm mất ngủ.

Minh Phụng bày ra bàn một tấm bản đồ quy hoạch mới, và một xấp hồ sơ dự án, hy vọng Trần Lãng sẽ chỉ cho ông một long mạch nào đó để “trấn yểm” lại vận mệnh.

Trần Lãng gạt phắt đống giấy tờ sang một bên. Ông nhìn thẳng vào mắt Phụng, buông một lời tiên tri rợn người bằng tiếng Tiều:

- Chăng Xía-sanh! Mài xuê tì liễu. Khứ xuê cỗ quan-xà đi. Ngóa kia... kàu cỗ quan-xà lứ tồ bô. Mạng chù-tia: Lứ 'sí bô táng xin chi ti'. Chài-sán pị nâng thia liễu. Lứ lai thế-kan khang chhiu, lứ khứ kăng-xị khang chhiu. [Tăng tiên sinh! Đừng tìm đất nữa. Hãy tìm hòm đi. Nhưng ta e rằng... đến cái hòm ngài cũng không có đâu. Số phận đã an bài: Ngài sẽ chết không có đất chôn thây (Tử vô táng thân chi địa). Tài sản ngài làm ra sẽ bị người đời xâu xé sạch sẽ. Ngài đến thế gian với hai bàn tay trắng, ngài sẽ ra đi trắng hơn cả trắng].

Tăng Minh Phụng chết lặng.

- Sí bô quan-xà? (Chết không có hòm chôn?) – Ông lắp bắp.

- Ngóa... ngóa hó-gia chí-nía... (Tôi... tôi giàu có nhường này...)

- Hó-gia xị thô-hún. Hung chôi, hún pui. (Sự giàu có của ngài là cát bụi. Gió lên rồi, bụi sẽ bay đi). – Trần Lãng khép mắt lại, ra dấu tiễn khách.

- Từng khứ đi. Lưu tí xì-kan, cà bó kía chiak tu-n pừng. Mài cháu liễu. Bô lồ liễu. (Về đi. Hãy dành những ngày cuối cùng để ăn bữa cơm ngon với vợ con. Đừng chạy nữa. Hết đường rồi).

Tăng Minh Phụng lảo đảo bước ra khỏi căn phòng. Bầu trời Đài Bắc xám xịt. Lời tiên tri “Chết không có hòm chôn” (Sí bô quan-xà – Tử vô quan tài) ám ảnh lấy ông. Ông không hiểu: Tại sao một đại gia ngàn tỷ lại không có nổi cái hòm? Lúc đó, người anh của ông, Tăng Minh Cơ, và người em, Tăng Bình Trọng, đều khuyên Bảy Phụng lên sân bay trở về. Song, ông bỗng đứng sững người lại, nỗi sợ hãi trong ông đã biến thành sự gan lì của một con thú cùng đường. Ông hiểu rằng, nếu bước ra khỏi cánh cổng này, ông sẽ chết thật.

Bên ngoài biệt thự của Trần Lãng ở Dương Minh Sơn, trời bắt đầu đổ mưa. Cơn mưa phùn mùa đông xứ Đài lạnh thấu xương, buốt giá như kim châm. Tăng Minh Phụng, vị đại gia lừng lẫy Sài Gòn, người đi đâu cũng có kẻ hầu người hạ, giờ đây làm một việc động trời: Ông quỳ xuống.

Ông quỳ ngay trước cổng sắt đóng kín. Hai đầu gối đập mạnh xuống nền đá lạnh lẽo. Nước mưa hòa lẫn với nước mắt và mồ hôi, chảy ròng ròng trên khuôn mặt hốc hác. Anh Cơ vội vàng che dù, Trọng định đỡ ông dậy, nhưng ông gạt phắt đi:

- Để tao quỳ! Thầy không cứu, tao quỳ chết ở đây!

Một ngày, rồi hai ngày trôi qua. Tăng Minh Phụng vẫn quỳ đó, thân xác rã rời, môi tím tái vì lạnh, nhưng ánh mắt vẫn rực lên ngọn lửa cầu sinh mãnh liệt. Đến đêm thứ ba, khi ông sắp ngất đi, cánh cổng sắt nặng nề rít lên một tiếng khô khốc rồi mở ra. Trần Lãng bước ra, tay cầm cây gậy đầu rồng, nhìn Tăng Minh Phụng với ánh mắt vừa thương hại vừa giận dữ:

- Ngài Tăng, tội gì phải khổ thế? Mệnh trời khó cãi. Ngài ép tôi, tức là buộc tôi chết thay ngài.

Tăng Minh Phụng ngước đôi mắt đỏ ngầu lên, run rẩy móc từ trong túi áo ngực ra một vật được gói kỹ trong khăn lụa đỏ. Đó không phải vàng bạc, cũng không phải kim cương. Đó là một mảnh ngọc bội hình con cá chép bị vỡ đôi.

Ông giơ cao mảnh ngọc, thều thào bằng tiếng Triều Châu khàn đặc:

- Đại sư... ngài còn nhớ vật này không? Năm 1968, trong cơn loạn lạc ở Chợ Lớn, cha tôi – ông già bán máy may – đã giấu một đứa trẻ tuổi đang bị nạn dưới hầm nhà mình. Cha tôi đã chia nửa bát cơm độn sắn cho nó ăn suốt một tháng trời. Sau này khi cha mẹ nhận lại nó, họ để lại nửa mảnh ngọc này và nói: “Sau này con cháu có nạn, mang vật này đến tìm, nguyện sẽ trả nợ mạng”. Ngài có biết chuyện đó chưa?

Trần Lãng sững sờ. Ông cầm lấy mảnh ngọc, tay run lên bần bật. Ký ức 20 năm trước ùa về. Quả nhiên, năm xưa, phụ thân của Tăng Minh Phụng là Tăng Văn, lúc sinh tiền làm nghề thợ may mặc và bán máy may (nghề may là gia truyền của họ Tăng) thời chế độ cũ. Năm đó chiến tranh còn tàn khốc, khi Chợ Lớn còn trong cảnh hỗn loạn, một gia đình đã lạc mất con, và không ngờ chính Tăng Văn đã cứu mạng đứa bé đó, nó sau này được đem ra khỏi Chợ Lớn đưa về Đài Loan nuôi dưỡng, lấy tên là Trần Triêu Hi, là cháu gọi Trần Lãng bằng bác (điệt nhi). Cha mẹ của Triêu Hi là em của ông, vì ông không có con cái, nên nhận triệu phú Dương Thụ Thành làm con nuôi, khá nhiều đại gia cũng kết nghĩa với ông. Nhưng trong thâm tâm, Trần Lãng thương Trần Triêu Hi mới thực sự là không khác gì con đẻ, vì đây là dòng “hương hỏa” của họ Trần, hơn nữa cũng là người có căn cơ kế truyền tuyệt học phong thủy của Trần gia. Đối với người Hoa, “ân nghĩa giang hồ” là thứ nặng hơn núi Thái Sơn. Có vay phải có trả, nếu không trả, đạo hạnh cả đời sẽ tan biến.

- Oan nghiệt! Đúng là oan nghiệt! – Trần Lãng ngửa mặt lên trời than thở.

- Ta tính được thiên cơ, nhưng không tính được nhân quả lại tìm đến cửa đúng lúc này.

Trần Lãng đỡ Tăng Minh Phụng dậy, đưa vào trong nhà. Ông thắp ba nén nhang to, cắm lên bàn thờ Tổ. Khói hương bay nghi ngút, cuộn lại thành hình thù kỳ dị.

- Ngài Tăng, – Trần Lãng nói, giọng nghiêm trang như tuyên án.

- Ngài mang ơn cứu mạng huyết mạch gia tộc ta, nay ta phải trả. Nhưng số ngài sắp tận, họa lớn gần đến. Muốn cứu ngài, ta phải dùng thuật lừa dối Thiên đạo.

Ông lấy ra một tờ giấy vàng, viết tên tuổi Tăng Minh Phụng lên đó, rồi dùng kim châm vào đầu ngón tay mình, nhỏ một giọt máu lên tên của Phụng.

- Ta không thể giúp ngài giữ được tài sản. Ta cũng không thể giúp ngài thoát án dương gian. Tận là do Trời định. Nhưng... ta sẽ lập một trận đồ phong thủy để giữ lại cái hòm cho ngài. Lão phu năm nay 72 tuổi. Theo lá số, ta thọ đến gần 90. Ta còn hơn 10 năm dương thọ. Ta sẽ dùng thuật “Di Tinh Hoán Đẩu” (移星換斗) trong Kỳ môn Độn giáp, chuyển 10 năm khí số của ta sang cho ngài. 10 năm này đủ để ngài vượt qua cơn bĩ cực, có thể giúp ngài xoay chuyển cục diện, biến nguy thành an.

Tăng Minh Phụng dập đầu lạy tạ:

- Đa tạ Đại sư!

Trần Lãng nhìn Phụng, ánh mắt u buồn tột độ:

- Nhưng ngài phải nhớ kỹ điều này: Ta dùng máu của mình để trấn yểm cho ngài. Vận mệnh của lão phu và ngài từ nay cột chặt vào nhau. Ngày ngài ra đi, cũng là ngày ta cạn số. Ta cứu ngài một mạng, ta sẽ phải trả lại cho Trời một mạng.

Tăng Minh Phụng bàng hoàng, định từ chối, nhưng Trần Lãng đã phất tay áo, quay lưng đi vào trong:

- Đi đi! Đừng quay lại nữa!

Tăng Minh Phụng sụp xuống lạy tạ. Ông không biết rằng, cái giá phải trả đắt đến thế. Trần Lãng nào ngờ, cả đời cao minh một tay phong thủy lừng danh thiên hạ, từng hoán chuyển vận mệnh cho biết bao đại nhân vật từ Nam chí Bắc, có lẽ đến lúc nghiệp số đã đến, khiến ông không tính ra được Tăng Minh Phụng mắc phải khế ước với Mẫu Trầu, mà điều này Bảy Phụng cũng không hề kể lại với ông. Một khi số mạng đã nghịch thiên, minh đạo buộc phải tuần hoàn, dù có ảo vọng thần thông “Tiên thành hay Phật thắng” cũng không thể cưỡng lại. Đây cũng là một vết đen cuối đời của Trần Lãng, trời đất không có gì là toàn vẹn, quả là “sinh hành tử nghiệp”.

Không biết rồi ngày mai của Tăng Minh Phụng có khỏi được đại nạn này không? Một vị đại sư cả đời tự hào “thập toàn cải mệnh” như Trần Bá rốt cuộc vì chuyện này mà phạm tì vết trong sự nghiệp cuộc đời ra sao? Xem Phần 5 sẽ rõ…

Bài học cần nhắn nhủ: Tăng Minh Phụng tin vào “cái ô” (những giao kèo ma quỷ, những tấm kim bài hư ảo). Ông nghĩ đó là pháo đài bất khả xâm phạm. Trong trò chơi quyền lực, doanh nhân chỉ là con tốt. Khi bàn cờ bị lật, con tốt là kẻ đầu tiên bị thí mạng. Đừng bao giờ đặt cược sinh mạng mình vào “uy quyền của kẻ khác”. Sự an toàn duy nhất đến từ sự minh bạch và tuân thủ pháp luật. Trong câu chuyện này, lời tiên tri “Tử vô táng thân” (Chết không hòm chôn) là hình ảnh ám ảnh nhất. Giàu sang phú quý chỉ là mây bay gió thổi (phẩn thổ). Khi nằm xuống, cái “hòm” quý giá nhất không phải là gỗ huỳnh đàn hay vàng tâm, mà là danh dự và sự bình yên để lại cho con cháu. Bảy Phụng để lại ngàn tỷ, nhưng không để lại được sự bình yên cho vợ con (phải đi tù, ly tán). Đó là cái chết “trắng” nhất trong các loại trắng tay. Cổ nhân đã dạy: “Đức năng thắng Số, nhưng không thắng được Nghiệp”. Trần Lãng dùng “Thuật” (Di Tinh Hoán Đẩu) để đấu lại “Số” (vận hạn của Phụng). Về lý thuyết phong thủy, ông có thể thắng. Nhưng ông thua vì Phụng dính vào “Nghiệp” (Khế ước với Mẫu Trầu). Khi con người đã bội tín với Trời Đất (tham lam quá độ, thất hứa thiện nguyện), thì dù có mời Thầy giỏi đến đâu, dù có dùng thuật trấn yểm cao siêu thế nào, cũng chỉ là “lấy vải thưa che mắt thánh”. Cái giá phải trả cho việc “cãi mệnh” đôi khi là sinh mạng của chính người Thầy.

(Còn tiếp)…
 
HUYỀN THOẠI VỀ ĐẠI GIA TĂNG MINH PHỤNG (Phần 5): NƯỚC MẮT CỦA PHƯỢNG HOÀNG SA LƯỚI
******************************************

Còn 100 ngày nữa…
Chiếc Boeing 767 xé toạc màn đêm bay về hướng Sài Gòn. Bên ngoài cửa sổ, những đám mây đen cuộn trào như những dải lụa trắng dùng trong đám tang, thỉnh thoảng bị xé rách bởi ánh chớp loằng ngoằng.
Tăng Minh Phụng ngồi ở khoang hạng nhất, nhưng ông cảm thấy chật chội như đang ngồi trong một chiếc hộp kín. Lồng ngực ông nóng ran. Bảy Phụng quay sang người anh trai Tăng Minh Cơ ngồi bên cạnh. Anh Cơ cũng không ngủ được, tay vân vê mép áo.

- Anh Hai... – Phụng khẽ gọi, giọng khàn đi vì sương gió xứ Đài.

- Hồi đó năm 1968, nhà mình chạy loạn, em mới có mấy tuổi đầu, cũng không còn nhiều ký ức. Làm sao anh giữ được nửa miếng ngọc bội kỹ vậy? Hồi đó em cứ tưởng nó mất rồi.

Tăng Minh Cơ nhìn em trai, ánh mắt hiền lành của người anh lớn trĩu nặng ký ức:

- Chú Bảy à... Chú nhớ mẹ mình làm nghề gì không? Thợ may. Ngày cha được trao tín vật, cha mẹ đã sợ anh ham chơi làm rớt. Đêm đó, dưới ngọn đèn dầu tù mù ở Chợ Lớn, mẹ đã tháo chỉ gấu quần của anh, nhét miếng ngọc vào đó, rồi khâu lại bằng đường chỉ đôi, chắc như đinh đóng cột. Mẹ dặn: “Cái quần có thể rách, nhưng cái gấu này không được đứt. Nó là của quý nhân tặng nhà mình”.

Tăng Minh Cơ rưng rưng:

- Mấy chục năm nay, anh mặc cái quần đó cho đến khi nó mòn vẹt, anh lại cắt cái gấu quần đó ra, may vào cái quần mới. Miếng ngọc nằm sát da thịt anh, thấm mồ hôi anh, chưa bao giờ rời nửa bước. Anh giữ nó, là để đợi ngày hữu sự.

Tăng Minh Phụng nghe xong, nước mắt trào ra. Ông sờ vào lồng ngực mình, nơi trái tim đang đập những nhịp vay mượn. Ông nhận ra: Gia tộc họ Tăng sống bằng nghề may, và họ giữ mạng sống cũng bằng những đường chỉ.

Máy bay hạ cánh. Cái nóng hầm hập của Sài Gòn ập vào mặt Tăng Minh Phụng như hơi thở của một con thú dữ. Tháng 12 năm 1996. Đồng hồ đếm ngược của số phận bắt đầu điểm những nhịp cuối cùng: Chỉ còn 90 ngày nữa.

Vừa bước xuống cầu thang máy bay, điện thoại cục gạch của Phụng đã réo liên hồi. Không có thời gian để nghỉ ngơi, không có thời gian để về nhà ôm vợ con như lời Trần Lãng dặn. Cỗ máy Minh Phụng–Epco vẫn đang quay cuồng và nó đòi hỏi nhiên liệu. Phụng phải lao đi ngay.

- Xe đâu? – Phụng hỏi trợ lý.

- Dạ, xe đang chờ. Anh có hẹn với Chủ tịch quận và anh Tư lúc 11 giờ trưa nay.

Phụng gật đầu. Ông vuốt lại mái tóc bồng bềnh, chỉnh lại cái cà vạt lụa. Chiếc mặt nạ “đại gia” lại được đeo lên. Nhưng lần này, đằng sau lớp mặt nạ đó là một khuôn mặt của đứa trẻ đang sợ bóng tối.

Bữa trưa diễn ra tại Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh neo mình bên Bến Bạch Đằng – nơi được mệnh danh là “Dạ tiệc trên sông” xa xỉ bậc nhất Sài Gòn thời bấy giờ. Ngồi đối diện Tăng Minh Phụng là ông Chủ tịch quận và nhà báo Tư.

Bàn tiệc bày biện đủ món sơn hào hải vị: Súp vi cá, bào ngư hầm, rượu Tây. Ông Chủ tịch quận nâng ly, cười hào sảng:

- Chúc mừng chú Bảy vừa đi Đài Loan về! Nghe nói chú mới ký được hợp đồng liên doanh mấy chục triệu đô hả? Sắp tới quận nhà lại nhờ chú hỗ trợ mấy dự án chỉnh trang đô thị nhé.

Nhà báo Tư cũng hùa theo:

- Anh Bảy là “Vua” rồi. Sắp tới tui viết một bài “Minh Phụng – Cánh chim đầu đàn bay ra biển lớn” cho anh nhé.

Tăng Minh Phụng cầm ly rượu vang. Thứ chất lỏng màu đỏ sóng sánh ánh lên dưới nắng trưa gay gắt. Ông định cười, định nói những câu xã giao quen thuộc như: “Chuyện nhỏ”, “Anh em cứ yên tâm”. Nhưng cổ họng ông nghẹn đắng.

Bất chợt, Tăng Minh Phụng đặt ly rượu xuống bàn cái “Cạch!”. Âm thanh khô khốc làm hai vị khách giật mình. Khuôn mặt hào hoa phong nhã của ông bỗng tối sầm lại. Đôi mắt vốn sắc sảo giờ đây dại đi, nhìn trân trân vào khoảng không vô định trên mặt sông Sài Gòn.

- Anh Ba, anh Tư à... – Phụng cất tiếng, giọng trầm và buồn thảm chưa từng thấy.

- Các anh đừng viết, đừng chúc tụng em nữa.

Ông Chủ tịch ngạc nhiên:

- Sao vậy chú Bảy? Say sóng à?

Tăng Minh Phụng lắc đầu. Hai hàng nước mắt từ từ lăn dài trên gò má sạm đen vì nắng gió công trường. Giọt nước mắt của người đàn ông 40 tuổi, đứng trên đỉnh danh vọng, rơi tõm vào bát súp vi cá đang bốc khói.

- Em... em sợ lắm. – Phụng nói, rũ bỏ hoàn toàn lớp vỏ bọc kiên cường.

- Không biết doanh nghiệp của em trong tương lai ra sao. Em cố gồng, nhưng gồng hết nổi rồi. Vừa rồi em đi Đài Loan, không phải đi ký hợp đồng đâu. Em đi tìm đường sống. Em đi coi thầy... Ông thầy nói... ông thầy nói em... Chết không có hòm chôn.

Không gian như đóng băng lại. Tiếng muỗng nĩa va chạm im bặt. Tiếng cười nói xung quanh bỗng trở nên xa xăm. Nhà báo Tư sững sờ, buông rơi cây bút trên tay:

- Bậy nào! Anh Bảy nói gở cái gì vậy? Anh là trụ cột kinh tế, ai để anh chết?

Phụng cười, nụ cười méo xệch, đau đớn:

- Các anh không hiểu đâu. Số phận đã điểm chỉ rồi. Em giống như con cá nằm trên thớt, chỉ đợi dao rơi xuống thôi. Em tiếc... em tiếc là em chưa trả hết nợ đời, chưa lo trọn vẹn cho vợ con. Nếu mai mốt em có mệnh hệ gì, mong các anh niệm tình bữa cơm hôm nay, đừng ném đá xuống giếng, tội nghiệp em.

Nói xong, Tăng Minh Phụng gục đầu xuống bàn. Bờ vai ông rung lên bần bật. Hình ảnh vị “đại gia ngàn tỷ” biến mất. Chỉ còn lại một con người nhỏ bé, yếu đuối, đang run rẩy trước cánh cửa của định mệnh.

Ông Chủ tịch và nhà báo Tư nhìn nhau, ái ngại và rùng mình.

Rời khỏi bàn tiệc đầy nước mắt và rượu đắng, Tăng Minh Phụng bước ra bến tàu. Gió sông Sài Gòn thổi tung vạt áo vest, nhưng không thổi bay được nỗi u uất trong lòng. Một cậu phục vụ bàn trẻ măng, tay chân run lẩy bẩy, chạy theo đưa lại chiếc bật lửa Zippo mạ vàng mà Phụng bỏ quên.

- Dạ... thưa Chú Bảy, chú quên cái này.

Phụng nhìn cậu bé. Cậu ta gầy gò, đôi giày tây cũ mèm há mõm, giống hệt hình ảnh của Phụng 20 năm trước khi còn đạp xe lôi đi giao vải ở Chợ Lớn. Phụng mỉm cười – nụ cười hiền hậu của một ông Bụt vừa trút bỏ được lớp áo giáp chiến binh. Ông rút trong túi quần ra một xấp tiền mệnh giá 50.000 đồng (tờ cotton đỏ au thời đó), không cần đếm, dúi vào tay cậu bé.

- Con cầm lấy. Mua đôi giày mới mà đi. Còn dư thì đem về mua sữa cho em út.

- Dạ... dạ con không dám... nhiều quá chú ơi! – Cậu bé lắp bắp, số tiền này bằng cả năm lương của nó.

- Cầm đi! – Phụng vỗ vai cậu, ánh mắt nhìn xa xăm.

- Tiền của chú bây giờ là lá đa. Chú không cho con, gió cũng cuốn đi mất. Con nhận cho chú vui.

Nói rồi, ông quay sang những người bán vé số, những đứa trẻ đánh giày đang lố nhố đứng đợi ở cổng bến tàu. Ông móc hết sạch ví, phát cho mỗi người một tờ. Đám đông ùa tới, cảm ơn rối rít: “Cám ơn ông Bụt!”, “Lạy ông cầu ông đại phát!” “Ơi ông hiền hậu quá, Trời Phật sẽ thương ông”. Tiếng cảm ơn vang vọng cả một góc bến sông. Phụng đứng giữa đám đông nghèo khổ ấy, cảm thấy ấm áp lạ thường. Những đồng tiền ông ném vào các dự án ngàn tỷ ở Vũng Tàu chỉ nhận lại sự lạnh lùng của bê-tông, còn những đồng tiền lẻ này lại mua được hơi ấm của tình người.

Chiếc Mercedes đen bóng trờ tới. Tài xế vội mở cửa. Nhưng Tăng Minh Phụng xua tay.

- Mày lái xe về trước đi. Tao muốn đi dạo một chút.

Ông vẫy một chiếc xích lô già cỗi đang đậu dưới tán cây me.

- Chở tôi về Quận 3. Đi chậm thôi nhé.

Ông già đạp xích lô ngỡ ngàng nhìn vị khách sang trọng, rồi gò lưng đạp những vòng quay kẽo kẹt. Tăng Minh Phụng ngồi trên chiếc xích lô, đầu ngả ra sau, mắt nhìn lên bầu trời xanh ngắt qua tán lá me bay lất phất. Không có máy lạnh, không có kính cách âm, chỉ có tiếng rao hàng rong, tiếng còi xe Cub 81, tiếng cãi vã đời thường. Đó là âm thanh của sự sống. Thứ âm thanh mà bấy lâu nay, ngồi trong chiếc “lồng kính” máy lạnh, ông đã quên mất.

Xe đi ngang qua một gánh hàng rong bên lề đường. Mùi đường thắng thơm lừng níu mũi ông lại.

- Bác tài, dừng lại chút!

Đó là gánh kẹo chỉ tơ hồng – món quà vặt trứ danh của Sài Gòn thập niên 90. Bà cụ bán hàng già nua, đôi tay nhăn nheo khéo léo kéo những thỏi đường mạch nha dẻo quánh, lăn qua bột năng, rồi kéo giãn ra, gập lại, kéo giãn... Cho đến khi thỏi đường biến thành hàng ngàn sợi tơ trắng mỏng manh như tóc tiên. Bà kẹp mớ tơ đường đó vào giữa hai lớp bánh tráng giấy giòn tan, rắc thêm chút dừa nạo và sữa đặc. Tăng Minh Phụng ngồi xổm xuống, say sưa nhìn bà cụ làm kẹo.

- Cho con 5 cái. Gói kỹ nhé bà.

Ông nhìn những sợi kẹo chỉ mong manh ấy, lòng thắt lại. Đời ông cũng giống như kẹo chỉ tơ hồng này đây. Rực rỡ, ngọt ngào, được kéo giãn đến tận cùng giới hạn, nhưng chỉ cần một cơn gió nhẹ hay một chút hơi ẩm, nó sẽ tan chảy thành nước đường, biến mất không dấu vết.

Ông mua thêm một chiếc chong chóng giấy bảy màu của người bán dạo kế bên. Chiếc chong chóng quay tít trong gió chiều, như vòng xoáy định mệnh không thể dừng lại.

Biệt thự trên đường Nguyễn Thị Minh Khai hiện ra trước mắt. Cánh cổng sắt nặng nề mở ra. Tăng Minh Phụng bước vào, tay cầm chùm kẹo chỉ và chiếc chong chóng, giấu vội vẻ mặt u ám sau cánh cửa.

Từ trong nhà, một cô bé lon ton chạy ra. Đó là cô Hai, trạc mười hai mười ba rồi, cô con gái rượu mà Phụng yêu thương nhất mực. Vừa thấy bóng cha, cô bé reo lên bằng tiếng Tiều lơ lớ:

- Pía! Pía về! (Ba! Ba về!)

Phụng quăng chiếc cặp táp chứa đầy hồ sơ nợ nần sang một bên, dang rộng vòng tay đón lấy con gái. Ông nhấc bổng cô bé lên cao, xoay một vòng.

- Ái dồ! Cục vàng của Pía cao lớn, nặng quá rồi! Hôm nay Pía mua quà độc cho tụi con nè. Mà Nghi, hai thằng nhỏ đâu con.

- Má chở tụi nó sắp dìa rồi pía ơi.

Ông chìa ra chiếc chong chóng và gói kẹo chỉ. Cô bé mắt sáng rực:

- Kẹo tơ hồng! Con thích nhất món này! Pía là số một!

Còn tiếp...
 
Phần 5 (phân đoạn2):

Vừa lúc đó, bà Sương dẫn hai đứa trẻ kia về tới nhà, đám nhỏ trông thấy kẹo với đồ chơi cũng reo lên vui vẻ chạy tới giành với chị, cầm chiếc chong chóng chạy vòng quanh sân, tiếng cười giòn tan như tiếng chuông bạc, xua tan đi bầu không khí ảm đạm của ngôi biệt thự đang bị ngân hàng dòm ngó. Phụng ngồi bệt xuống bậc thềm đá hoa cương, ngắm nhìn con gái. Trong giây phút ấy, ông chỉ là một người cha bình thường, một “A Pía” (người cha) muốn mua cho con chút ngọt ngào cuối cùng trước khi bão ập đến.

- Sấp nhỏ à... – Ông gọi khẽ.

- Con ăn kẹo từ từ thôi, kẹo này tan nhanh lắm. Giống như... niềm vui vậy.

Cô bé không hiểu lời cha, vẫn cười tít mắt, má dính đầy bột đường trắng xóa. Phụng đưa tay quệt nhẹ vết bột trên má con, ngón tay ông run run, muốn lưu giữ hơi ấm này mãi mãi.

Bảy Phụng bất ngờ quay lại, ngạc nhiên nhìn vợ đã đứng đó ngắm ông từ nãy đến giờ. Bà Sương mặc bộ đồ lụa giản dị, tóc búi cao. Bà nhìn thấy chồng ngồi đó, vẻ mặt thất thần nhưng cố gượng cười với con. Bà hiểu tất cả.

Bà đi tới, không nói gì, chỉ nhẹ nhàng đặt tay lên vai ông. Phụng giật mình, ngước lên, nắm lấy bàn tay vợ. Bàn tay này đã cùng ông đi từ những ngày đạp máy may ở Chợ Lớn cho đến khi ngồi trên đống vàng.

- Mình à... – Phụng thều thào.

- Hôm nay anh không đi xe hơi. Anh đi xích lô về. Anh nhớ hồi xưa tụi mình quá...

Bà Sương ngồi xuống bên cạnh, tựa đầu vào vai ông, mắt ngấn lệ:

- Em cũng nhớ. Hồi đó nghèo mà vui. Giờ nhà cao cửa rộng mà đêm nào anh cũng giật mình thon thót. Anh Bảy... hay là mình bỏ hết đi? Trả hết cho người ta đi. Về lại Chợ Lớn, em bán nước sâm, anh sửa máy may, miễn là cả nhà được ăn cơm chung.

Tăng Minh Phụng siết chặt tay vợ, đau đớn lắc đầu:

- Muộn rồi mình ơi. Sắp lao dốc còn gì, không thắng lại được nữa. Anh lỡ leo lên lưng cọp, giờ xuống là cọp nó vồ. Anh chỉ xin em một điều: Dù có chuyện gì xảy ra, em phải vững vàng vậy nha. Thương chồng, thương con, và thương lấy chính mình.

Chiều hôm đó, trong ngôi biệt thự lộng lẫy, có một bữa cơm gia đình đầm ấm đến lạ lùng. Không có điện thoại reo, không có bàn chuyện đất đai. Chỉ có tiếng cười của các con và ánh mắt rưng rưng của hai vợ chồng nhìn nhau qua làn khói cơm nghi ngút.

Đầu năm 1997. Sài Gòn vẫn nắng đẹp, nhưng trong giới tài phiệt, người ta bắt đầu ngửi thấy mùi khét lẹt bay về từ hướng Thái Lan. Đó là mùi của cơn bão tài chính Tom Yum Kung. Những dòng vốn quốc tế, vốn dĩ đang chảy ầm ầm vào Việt Nam như thác lũ, bỗng nhiên khựng lại. Các quỹ đầu tư nước ngoài bắt đầu thu hồi tiền mặt về cố thủ. Mạch máu ngoại tệ bị cắt đứt.

Đối với liên minh Minh Phụng–EPCO (Tăng Minh Phụng & Liên Khui Thìn), đây là đòn chí mạng. Đồng thời, chuyên án đặc biệt từ Bộ Nội vụ đã âm thầm đưa cái tên Minh Phụng vào “Sổ Nam Tào”.

Mùng 28 Tết Đinh Sửu (tháng 2/1997), còn 49 ngày nữa...

Tại đại bản doanh Minh Phụng ở Quận 11, tiệc tất niên vẫn diễn ra linh đình. Rượu sâm-panh nổ bốp bốp, tiếng cụng ly leng keng. Tăng Minh Phụng, trong bộ vest Ý phẳng phiu, đi lại giữa hàng ngàn công nhân. Ông cười nói, vỗ vai từng người, phát những bao lì xì đỏ chót dày cộm.

- Anh em cứ yên tâm ăn Tết. Sang năm công ty sẽ mở rộng gấp đôi!

Nhưng đó chỉ là vở kịch trên sân khấu. Những người công nhân ngây thơ nhận lì xì, họ không thấy bàn tay ông chủ đang lạnh toát như băng. Họ không thấy rằng những bao lì xì đó thực chất là những đồng tiền cuối cùng được vét sạch từ két sắt, là liều thuốc an thần để “trấn an lòng quân” trước cơn đại loạn.

Bên trong phòng làm việc đóng kín cửa, không khí đặc quánh mùi tử khí. Chiếc điện thoại bàn màu đen trở thành một vật thể sống quái đản. Nó réo liên hồi. “Reng... Reng... Reng...” Không phải điện thoại chúc Tết. Tiếng chuông nghe chói tai như tiếng kèn đám ma. Mỗi cuộc gọi là một chủ nợ. Mỗi tiếng reng là một nhát dao cứa vào thần kinh đang căng như dây đàn của Phụng. Ông không dám nhấc máy, ông sợ nghe thấy tiếng đòi mạng từ đầu dây bên kia.

Đêm Giao thừa. Pháo hoa nổ rợp trời Sài Gòn. Tăng Minh Phụng đứng trên ban công biệt thự Quận 3, tay cầm ly rượu vang đỏ thẫm. Ông nhìn lên bầu trời. Trong đôi mắt bị ảo giác bởi nỗi sợ hãi tột độ, những chùm pháo hoa bung nở không phải là ánh sáng ngũ sắc. Đó là Máu và Lửa. Ông thấy những bông hoa lửa đỏ rực rơi xuống, thiêu rụi các kho hàng, thiêu rụi những lô đất ở Vũng Tàu. Ông thấy những tàn tro rơi xuống biến thành những tờ trát của tòa án, trắng xóa cả một vùng trời.

Phụng đưa ly rượu lên môi. Vị rượu chát đắng hòa lẫn với vị tanh nồng của ảo giác.

- Đây là cái Tết cuối cùng... còn tự do. – Ông thầm thì với bóng đêm.

Mùng 6 Tết, ngày khai trương. Tăng Minh Phụng chạy đôn chạy đáo đến trụ sở Incombank và Vietcombank. Những vị Giám đốc ngân hàng, người mà chỉ vài tháng trước còn khúm núm mời ông đi nhậu, còn quỵ lụy xin ông ký hồ sơ vay để họ đạt chỉ tiêu, giờ đây ngồi sau chiếc bàn gỗ lim to sụ, khuôn mặt lạnh lùng như tượng đá.

- Anh Bảy à, lô hàng L/C của anh về đến cảng rồi. Nhưng chúng tôi không giải ngân để anh lấy bộ chứng từ được.

- Tại sao? – Phụng gào lên.

- Hàng nằm cảng mỗi ngày là lãi phạt chồng chất. Nhà máy đang đói nguyên liệu. Các anh giết tôi sao?

Vị Giám đốc ngân hàng đẩy gọng kính, nói một câu ráo hoảnh:

- Ai cũng phải lo giữ ghế của mình trước. Anh Bảy thông cảm. Lệnh ở trển. Hồ sơ của anh đã bị Thanh tra niêm phong. Bây giờ tôi ký giải ngân cho anh 1 đồng, là tôi dựa cột ngay lập tức. Thôi, anh tự lo đi.

Cánh cửa phòng Giám đốc đóng sầm lại trước mũi Tăng Minh Phụng. Tiếng đóng cửa vang lên khô khốc như tiếng nắp quan tài sập xuống. Phụng đứng chôn chân ở hành lang, xung quanh là những nhân viên ngân hàng đi lại, nhìn ông với ánh mắt ái ngại và xa lánh như nhìn một kẻ bị bệnh hủi.

Tuyệt vọng, Phụng trở về văn phòng bấm số máy gọi điện cầu cứu. Đầu tiên là Cụ Sáu – người đỡ đầu cho ông từ những ngày mới đầu khởi nghiệp.

- Alo, cho tôi gặp Cụ Sáu.

Tiếng thư ký lạnh tanh:

- Cụ Sáu đi công du nước ngoài chưa về. Lịch kín lắm, không gặp được đâu.

Ông gọi tiếp cho Anh Ba, Bác Tư, Chị Bảy... những người từng nhận quà cáp, tiền bạc của ông. Đáp lại chỉ là giọng nói vô cảm của tổng đài:

- Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được...

Những con số điện thoại ấy vẫn hoạt động, chỉ là họ đã chặn số của ông. Trong trò chơi bàn cờ, khi một con tốt bị chiếu tướng, không ai dại dột chìa tay ra cứu, kẻo bị lôi xuống bùn cùng.

Tăng Minh Phụng lảo đảo chân không đứng vững. Liên Khui Thìn – người cộng sự thân thiết – mở cửa bước vào với vẻ mặt thất thần.

- Bảy ơi... Xong rồi.

- Chuyện gì? Ngân hàng à? – Phụng hỏi, giọng lạc đi.

- Không. Kinh khủng hơn. – Thìn run rẩy nói.

- Lê Minh Xử tiêu đời rồi. Tin mật vừa báo ra: Thượng tá Xử đã bị kỷ luật Khai trừ khỏi Đảng sáng nay và đang bị an ninh điều tra khẩn cấp. Xong rồi.

Tăng Minh Phụng nghe xong, chân tay bủn rủn, ngã phịch xuống ghế. Lê Minh Xử – “tấm khiên đỏ”, người từng cam kết bảo đảm an toàn cho Phụng – giờ đây chính là mắt xích đầu tiên bị bẻ gãy. Khi người bảo kê bị bắt, thì kẻ được bảo kê chỉ còn là cá nằm trên thớt.

Phụng nhìn ra cửa sổ, nơi nắng Sài Gòn vẫn rực rỡ, nhưng ông chỉ thấy một màu đen kịt. Ông lẩm bẩm câu nói mà sau này trở thành bài học xương máu cho giới doanh nhân: “Dựa vào núi, núi lở. Dựa vào cây, cây đổ. Dựa vào quyền lực kẻ khác... là tự sát”.

Đêm đó, hai gã đàn ông phong trần trong giới kinh doanh này không về nhà, họ ngồi lì trong văn phòng để “nhâm nhi” với nhau những ngày sau cuối.

Phụng ngẩng đầu lên, giọng khàn đặc, vỡ vụn như tiếng sành sứ va vào nhau:

- Anh Sáu... Ngộ (Tôi) sai rồi.

Thìn đeo kính vào, nhìn người bạn đồng hành:

- Sai nước cờ nào? Lãi suất hay giá đất? Hay là sai vì lỡ tin lời cái thằng Lò (ông rể Hoàng Gia) nó rù quến anh? Tôi can mà anh có nghe đâu?

- Không! – Phụng đập tay xuống bàn, nước mắt trào ra.

- Ngộ sai vì đã kéo vợ con vào cuộc chơi này. Dân chơi có gan làm có gan chịu. Ngộ chết, ngộ không ân hận. Nhưng con Sương...

Phụng nấc lên, tiếng nấc xé lòng của một gã đàn ông phương trưởng:

- Con Sương... nó tin ngộ quá, anh Sáu ơi! Ngộ đưa cái gì nó ký cái đó. Nó không bao giờ đọc, không bao giờ hỏi: “Anh Bảy, cái này là cái gì?”. Nó chỉ cười hiền khô rồi nói: “Anh bảo ký thì em ký”. Trời ơi! Chính cái chữ ký đó là bản án tù mà ngộ đã viết dùm cho nó. Ngộ là thằng chồng tồi! Ngộ kéo cả người đàn bà đầu ấp tay gối xuống vực thẳm. Mai mốt ngộ chết rồi, ai lo cho nó trong tù? Còn mấy sấp nhỏ... ai nuôi tụi nó?

Còn tiếp…
 
HUYỀN THOẠI VỀ ĐẠI GIA TĂNG MINH PHỤNG (Phần 1): CHUYỆN TÂM LINH CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC KỂ
Đó là câu chuyện về đại gia Tăng Minh Phụng, từng nổi tiếng với vụ đại án EPCO – Minh Phụng năm 2003. Tất nhiên, xưa nay đọc qua báo chí và truyền thông, có lẽ dư luận chỉ biết đến hình ảnh ông Tăng Minh Phụng qua lăng kính của kinh tế, an ninh và chính trị. Nhưng hôm nay, chúng ta đọc và kể lại cuộc đời ông qua một lăng kính mới… TÂM LINH.
- Sau khi đại gia Tăng Minh Phụng bị xử bắn, thi thể tử tù thường được liệm đơn giản, chôn tại trường bắn Long Bình trong một thời gian trước khi cho gia đình bốc mộ. Hiện nay thì mộ của ông được di dời an táng tại một ngôi chùa ở Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người anh đó nhắc đi nhắc lại, nhiều lần rủ Sang đi lên nơi này để tham quan, hỏi thăm những người xung quanh về lai lịch của vị đại gia người Hoa quá cố này, tự khắc sẽ hiểu được nhiều điều ngọn nguồn. Cuối cùng, theo lời khích lệ, Sang đã thử một phen đến nơi đó xem thử. Và khi anh bạn thành viên của Page đến đó, anh kể lại rằng:

- Đi xe 7 chỗ thì buổi trưa lên Núi Dinh, Bà Rịa, trên núi này thì có chùa Thiền tôn Phật Quang của nhà sư Thích Chân Quang gây “nổi đình nổi đám” một thời. Nhưng bỏ qua đi, lại đi đến một ngôi chùa khác, đó là chùa Tây Phương. Đi vào phía hậu viên chùa thì sẽ đến khu mộ phần có mộ của Tăng gia. Đây là một khu mộ tập thể, xung quanh có khá nhiều những ngôi mộ khác, và mộ phần của Tăng gia cũng trông bình thường nằm lặng lẽ yên tĩnh ở đó thôi. Khi đến gần đã nhìn thấy trước mộ của vị đại gia có tấm bia nhỏ đề rằng: Tăng Minh Phụng, pháp danh: Minh Lưu. Pháp hiệu: Ông Táo. Có bài thơ đề rằng: “Tăng ơi! Minh ơi! Phụng ơi! Đời đâu phải cõi vô thường, Xoay mặt lại, Lưu gương Thiên Cổ. Thầy Mẹ ơi! Chúng con sám hối, Lỗi lầm này. Ôi! Tiếng Thét giữa hư không, Hừng hực Trời Nam. Anh về với Mẹ, Chốn Non Bồng rực rỡ ngát hương Sen. Xoay mặt lại, Nhận ra người bạn cũ, Tự lâu rồi, Ta ôm mộng trần thương. Vầng trăng xưa, Khuất lấp bởi vô thường. Xoay mặt lại, bến xưa đò Long Kiểng, Ánh trăng rằm soi bóng Mẹ chờ con”.

Dĩ nhiên, khi Sang kể lại cho chúng tôi về chi tiết này, ngay lập tức, chúng tôi đặt câu hỏi với anh: Tại sao lại lấy pháp hiệu Ông Táo? Trong Phật giáo chính thống, không bao giờ có pháp hiệu là “Ông Táo”. Pháp hiệu thường là từ Hán-Việt trang trọng (như Chân Không, Thanh Từ...). Và qua dò hỏi của Sang với những người ở xung quanh gần đó, Sang đã thực hiện phương pháp Dân tộc ký, ghi lại những lời kể của cư dân, quý sư thầy ở quanh Núi Dinh. Từ đó, anh đã cung cấp cho team tư liệu thô quý giá về huyền thoại và câu chuyện tâm linh liên quan đến nhân vật Tăng Minh Phụng được lưu truyền trong dân gian. Sau khi từ Bà Rịa trở về Sài Gòn, kể lại “chiến tích dữ liệu” của mình, người anh kia vỗ đùi đen đét và nói với Sang:

- Hay, chuyện hay đó, chú em thấy anh nói đúng không? Ngày xưa gia đình anh cũng mắc nợ chịu ơn ông Tăng Minh Phụng, đó giờ anh vẫn muốn tìm ai kể lại chuyện đời ông, nhưng mà chuyện tâm linh thì khó nói. Một phần vì đó là vấn đề kín đáo tế nhị, ít ai đem ra bàn, nhất là với người khuất bóng sa cơ lỡ vận. Anh thường sưu tầm báo chí, tờ san đọc lại về vụ ông Bảy Phụng, lấy đó làm gương. Anh thấy nhóm chú em đăng bài lên kênh rất là hay, hơn nữa tụi em có cái sự “trung dung” mà ít ai có được: thứ nhứt là giới tâm linh ở xứ này thường là thiếu trình độ, nói chuyện lùng khùng, đầu óc man man, kể ra chỉ tổ làm người ta chửi thêm; thứ hai là giới khoa học truyền thông thì viết toàn lý trí, đọc nó vô thần quá hóa ra vô hồn. Chỉ có nhóm tụi em kết hợp cả hai, chắc chắn câu chuyện sẽ có sắc màu mới và sinh động.

Thực ra, chúng tôi rất muốn trích dẫn lại nguyên văn những lời mà người dân địa phương kể lại cho bạn đọc, vì nghe sẽ mang tính nguyên sơ, mộc mạc hơn nhiều, sau đó chúng tôi mới đưa ra phân tích và tổng hợp của riêng kênh. Nhưng thật đáng tiếc, khi xem lại kỹ tư liệu của admin Sang cung cấp, có thể thấy hầu hết mọi người đều kể lại theo lối tản mạn, rời rạc, thiếu nhất quán, thậm chí đang kể chuyện này thì xọ qua chuyện khác, và mọi thứ rối rắm như mớ bòng bong. Bất đắc dĩ, chúng tôi chỉ còn cách biên tập và xâu chuỗi lại các hạt nhân hợp lý trong những lời kể đó thành một mạch chuyện có tính xuyên suốt logic hơn.

Sau khi tổng hợp tài liệu từ các nguồn báo chí, sách vở, video, cho đến tư liệu thực tế, đi dò hỏi ở cả Sài Gòn, Biên Hòa, Bà Rịa, cuối cùng cũng đúc kết thành câu chuyện hoàn chỉnh. Về pháp hiệu Ông Táo, khi Sang hỏi thăm một vị thầy sống ở chùa Tây Phương, thầy mới tiết lộ một chi tiết khá thú vị: Sở dĩ lấy pháp hiệu này, vì khi còn sinh tiền, đại gia Tăng Minh Phụng là Phật tử quy y hệ phái Liên tông Tịnh Độ Nong Bồng, và pháp hiệu này do chính TỔ SƯ của hệ phái ban cho Tăng Minh Phụng. Thế nhưng, điều đáng ngạc nhiên hơn, thời điểm ban pháp hiệu cho Tăng gia, vị Tổ sư căn bản đã viên tịch, không còn trên trần thế, cho nên đấng hiện ra với Tăng Minh Phụng thực chất là … LINH HỒN (Spirit)! Đúng vậy, theo như vị thầy kể lại, anh linh Tổ sư đã hiển linh và khải thị với Tăng Minh Phụng rằng:

- Nguyên kiếp trước con chính là Ông Táo mắc đọa trần gian, cho nên Mẹ ban danh hiệu cho con là Ông Táo, từ nay phải quy y Non Bồng, trọn đời thờ Phật kính Mẹ, làm điều nhơn nghĩa với đời thì mới trọn vẹn kiếp nhơn sanh nghen con.

Do đó, việc khắc chữ “Ông Táo” lên bia mộ là một hành động “hợp thức hóa huyền thoại” này. Như vậy, câu chuyện đã bắt đầu có mùi tâm linh, xin mời quý độc giả tò mò đi vào phần đầu nguồn cuộc đời Tăng Minh Phụng.

Tăng Minh Phụng sinh năm 1957 tại khu vực mà sau này là Quận 11, ngày xưa vẫn quen gọi là Chợ Lớn – vốn là nơi quần tụ sầm uất của người Hoa. Sinh ra một gia đình nghèo khó gốc người Tiều (Triều Châu), từ thuở nhỏ đã cật lực mưu sinh để lớn lên, Tăng Minh Phụng là người con thứ sáu trong gia đình, nên tục gọi là Bảy Phụng. Người đời sau đều biết Tăng Minh Phụng từng là đại gia kinh doanh bất động sản, và cùng lắm là biết thêm ông từng là “vua may mặc” – ông chủ của công ty Minh Phụng chuyên về hàng dệt may.

Nhưng mấy ai biết, thuở còn thanh thiếu niên, Tăng Minh Phụng làm nghề gì? Mới 18 tuổi đã chứng kiến cuộc “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, và sau đó là bước vào thời kỳ Bao cấp, thời đó chưa có làm ăn kinh tế tư nhân, làm sao một cậu thanh thiếu niên có thể làm may mặc được? Dĩ nhiên, giai đoạn sau 1975, Tăng Minh Phụng khởi đầu nghề mưu sinh bằng công việc chuyên chở hàng hóa, bán cao su, đế giày, dép nhựa, dép lốp. Tại sao? Quận 11 (khu Lạc Long Quân, Bình Thới) là thủ phủ của các lò sản xuất nhựa/cao su quy mô hộ gia đình của người Hoa thời bấy giờ. Bảy Phụng chuyên làm nghề bỏ mối, sau này anh chàng sắm được chiếc xe lôi, buổi tối thì ở nhà cặm cụi làm cao su giày dép, ban ngày tờ mờ sáng thì luôn có mặt trên các con đường Lạc Long Quân, Bình Thới, 3 tháng 2… để đi bỏ mối hàng tự sản xuất.

Vào đầu thập niên 1980, báo chí Hoa ngữ (từ Hồng Kông) bắt đầu len lỏi vào Chợ Lớn. Lý Gia Thành lúc đó đã là tượng đài của giới kinh doanh. Hồi đó, trong cái nóng hầm hập của một nền kinh tế bao cấp đang chuyển mình đau đớn, chàng trai Bảy Phụng người gốc Tiều mỗi sáng lái xe lôi đi giao hàng đều sẽ ghé ngang sạp báo để mua cho được những tờ báo chí kinh tế nói về sự “hóa rồng” của Hồng Kông cùng với gương mặt nổi lên như cồn của tỷ phú Lý Gia Thành, vốn đi lên từ nghề hoa nhựa. Tăng Minh Phụng ngồi đọc say sưa những tin báo, rồi mua tạp chí doanh nhân đọc về con đường khởi nghiệp của Lý, đến nỗi vì thường hay đậu xe trái phép, vừa chạy xe vừa đọc báo dẫn đến mất tay lái hay lạc đèn đỏ, anh chàng Bảy Phụng này thường hay bị một cô cảnh sát giao thông đứng ở ngã tư giao lộ Bình Thới biên phạt xử lý vì đi sai quy định. Bảy Phụng cười hề hề, lắc đầu nói với bạn:

- Cô công an nhìn xinh mà dữ quá mày, đúng là bông hồng nào cũng có gai.

Người bạn ông nói:

- Chế đi sáng sớm thì nên cẩn thận, gặp “bà chằn lửa” này nghiêm lắm, đi lạng quạng là bả không tha cho đâu. Quanh đây ai cũng biết cô Sương đây không vừa đâu, nhất là mấy cha cà chớn chạy đường ẩu tả đó.

Rồi có hôm, hai người lại có cơ duyên đụng độ tiếp.

- Anh Bảy, lại chở hàng cồng kềnh. Giấy tờ đâu? - Giọng cô lạnh tanh.

- Cô Sương ơi, tha cho tui đi. Chuyến này tui dồn hết vốn liếng rồi, chưa bán được đồng nào... - Bảy Phụng năn nỉ, tay quệt mồ hôi muối.

- Luật là luật. Phạt!

Tờ biên bản xé ra như xé toạc ruột gan Bảy Phụng. Hôm đó, anh mất một phần ba vốn liếng chỉ để nộp phạt. Nhưng ánh mắt của Bảy Phụng nhìn cô Sương không có hận thù, mà có sự Cam chịu của số phận. Anh hiểu, cô đang làm nhiệm vụ của một người làm công lực, còn anh là hạt cát đang cố luồn lách sống qua ngày. Ấy vậy mà Bảy Phụng vẫn lạc quan, nói với bạn:

- Lý Gia Thành khởi nghiệp từ hoa nhựa mà làm giàu. Tao làm giày dép nhựa cao su, cũng sinh ra nghèo như ổng khác gì, nhưng sau này tao sẽ làm giàu ngang ổng cho coi. Ông này làm ăn đáng nể, đất Hồng Kông chật như zậy mà ổng phất lên từ sản xuất rồi mua đất đầu cơ, sau này ngộ mà có tiền thì cũng lao vô đầu tư đất, có đất là có vàng.

Bạn bè, người thân xung quanh, trong cộng đồng người Hoa ấy, dẫu quý Phụng là người thông minh, tháo vát, dễ mến, nhưng mà suốt ngày cứ tự hợm mình là Lý Gia Thành mãi, người ta bật cười ngao ngán, gọi anh là “thằng Bảy Khùng”. Ai cũng bật cười nói:

- Mày mặc có cái quần xà lõn, đáy thủng quần rách lỗ chỗ còn chưa có tiền vá, ở đó mà mộng đòi tỷ phú cái gì, tào lao quá chèn ơi.

Phải biết trong cái thời bao cấp đó, đủ ăn là mừng lắm rồi chứ mơ gì làm giàu. Một người bình dân, không có ô dù, không có lý lịch tốt, lại là người Hoa, sống dễ thở đã là mừng, lấy gì mà ôm mộng đòi giàu sang phú quý, quả là tư tưởng “dị thường”. Vậy mà không ai ngờ “thằng khùng” đó sau này làm thật, và hắn giàu đến mức không ai sống ở thập niên 80 nghĩ rằng hắn làm được!!!

Bảy Khùng cũng không màng việc cứ hay bị cô cảnh sát tuýt còi, cười sằng sặc nói với anh em:

- Mai mốt ngộ làm tỷ phú, tha hồ cho cô nương đó biên phạt thoải mái, ngộ sẽ không thiếu tiền nộp phạt!

Anh em đều bật cười, nói Khùng có gì mà đòi ra tiền. Bảy Phụng liếc mắt nói:

- Bí mật, mai ngộ đi qua bến đò Long Kiểng, đổi đời hay không là do nó.

Té ra, đò Long Kiểng nằm trên đường Lê Văn Lương, thuộc xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, TP.HCM. Trước khi có cầu Long Kiểng (mới xây gần đây), đây là một bến đò ngang cách trở, vùng đất phèn mặn, nghèo khó, tập trung nhiều dân lao động nhập cư và người nghèo thành thị dạt về. Long Kiểng là cửa ngõ thương mại sông nước để phân phối hàng hóa rẻ tiền về miền Tây. Dân miền Tây đi ghe lên Nhà Bè để lấy hàng. Món hàng Bảy Phụng bán (dép nhựa, dép cao su) là nhu yếu phẩm cho nông dân miền Tây thời bao cấp. Phụng đã chở hàng xe lôi đến đây bán mấy bận, đều có chút vốn, hôm nay lại được tin báo phải chở hàng gấp đôi gấp ba, tin chắc mình sẽ có thêm vốn liếng mở cơ sở làm ăn lớn hơn, làm cho lòng Bảy Phụng hí ha hí hửng. Bảy Phụng đạp như điên về hướng Nhà Bè. Bến đò Long Kiểng hiện ra trong ráng chiều đỏ quạch, nước sông đục ngầu cuộn chảy. Đây là vùng trũng, nơi tụ tập đủ hạng người “tứ chiếng giang hồ” dạt về.

Bảy Phụng vui vẻ giao lô hàng dép nhựa cho một tay trùm thu mua tại bến.

- Chú mày cứ để hàng đó, vào uống ly nước, anh đếm tiền.

Bảy Phụng, với sự ngây thơ của một kẻ mới khởi nghiệp, tin vào cái “tình” của dân sông nước. Anh uống cạn ly trà đá, mơ về viễn cảnh cầm cục tiền về mua thêm máy ép nhựa. Nhưng 15 phút trôi qua. Rồi 30 phút. Anh chạy ra bến. Trống trơn. Gã trùm đã biến mất. Lô hàng dép nhựa cũng bốc hơi theo con đò vừa rời bến. Những người dân quanh đó nhìn anh với ánh mắt thương hại pha chút dửng dưng:

- Thằng đó lừa đảo nổi tiếng ở đây, mày người lạ sao dám tin nó?

Bảy Phụng đứng chết lặng. Mất trắng. Toàn bộ vốn liếng tích cóp từ việc lượm lặt phế liệu, vay mượn anh em, giờ tan thành bọt nước sông Nhà Bè. Anh gục xuống, không khóc nổi. Cái nghèo, cái đói và nợ nần ập đến như cơn thủy triều đen ngòm.

Hoàng hôn buông xuống. Bảy Phụng lái chiếc xe lôi rỗng tuếch quay về Quận 11. Người anh rã rời, hồn anh treo ngược cành cây. Đến ngã tư quen thuộc, tiếng còi Tuýt! lại vang lên. Lại là cô Sương.

- Anh chạy xe xiêu vẹo quá, tính gây tai nạn hả? Dừng lại!

Bảy Phụng xuống xe, người run bần bật.

- Cô ơi... tui hết tiền nộp phạt rồi. Tui mới bị lừa hết sạch dưới Long Kiểng rồi... - Giọng anh vỡ vụn.

Cô Sương nhìn gã đàn ông lấm lem, đôi mắt đỏ ngầu tuyệt vọng. Nhưng luật pháp không có chỗ cho nước mắt.

- Xe không đèn, chở hàng cồng kềnh, người không tỉnh táo. Theo quy định, tôi phải tịch thu phương tiện.

Câu nói đó như nhát dao cuối cùng. Tịch thu xe lôi là chặt đứt “cần câu cơm” duy nhất. Bảy Phụng quỳ sụp xuống ngay giữa ngã tư. Anh không van xin cô Sương nữa, anh gào lên với trời cao: “Ông Trời ơi! Sao ông triệt đường sống của con? Con làm ăn lương thiện mà sao khổ thế này?”

Tiếng thét của Bảy Phụng khiến cô Sương sững lại. Lần đầu tiên, dưới lớp áo cảnh phục cứng nhắc, trái tim người phụ nữ rung động trước nỗi đau trần trụi của một người đàn ông cùng đường. Cô không lập biên bản tịch thu. Cô quay mặt đi:

- Thôi đi đi. Lần sau đừng để tôi thấy nữa.

Quả là một người phụ nữ có nguyên tắc với đạo đức công vụ, song cũng giàu lòng trắc ẩn. Bảy Phụng lết về nhà, nhưng trong đầu anh, lý trí đã sụp đổ hoàn toàn. Làm ăn chân chính bị lừa, chạy xe bị phạt. Con đường của người thường đã cụt. Anh cần một phép màu. Đang đăm chiêu suy nghĩ thì đi lạc vào một hàng bán nước sâm ven đường. Một thằng bạn người Hoa trông thấy, quắc tay lại kêu:

- Ê Bảy Khùng, lại đây uống với ngộ ly sâm coi, làm gì mặt mày bí xị zậy cha.

Thấy Bảy tuyệt vọng, người bạn ghé tai thì thầm:

- Ngộ nghe nói ở Biên Hòa, trên Quan Âm Tu Viện, có Mẫu Trầu linh thiêng lắm. Ngài là Hòa thượng nhưng hiện thân Bồ-tát, mới viên tịch năm ngoái. Ai đến cầu, nếu thành tâm, Ngài sẽ cứu. Ngộ tính lên đó cầu tài, năm nay làm ăn xui quá. Hay nị muốn đi chung heng?

Bảy Phụng bật cười nói:

- Khùng như ngộ mà trời cũng dồn vô cùng đường rồi, còn gì để mất đâu! Đi!
 
Phần 1 ( đoạn 2)

Ngay trong đêm đó, hai kẻ đường cùng của xã hội mon men không ngủ, đi về đất Biên Hòa. Đó là cái đêm định mệnh đầu năm 1987, lúc này Bảy Phụng cũng không còn trẻ nữa, anh đã 30 tuổi rồi. Cái tuổi mà ngày xưa thánh nhân phải dặn là: “Tam thập nhi lập”, vậy mà giờ đây tuổi 30 anh vẫn chưa tạo lập nổi cơ đồ, lại còn bị lừa trắng tay.

Theo giai thoại truyền miệng, câu chuyện ly kỳ diễn ra như sau:

Quan Âm Tu Viện. Khói hương nghi ngút. Bảy Phụng không có tiền mua lễ vật cao sang. Anh chỉ có tấm thân tàn và một trái tim rực lửa khát vọng. Nghe nói Mẫu Trầu ở đây thiêng lắm, nhưng Mẫu Trầu này rốt cuộc là ai? Đó là Hòa thượng Thích Thiện Phước (1924–1986), Tổ sư khai sơn Liên tông Tịnh Độ Non Bồng (Quan Âm Tu Viện, Biên Hòa). Nghe tiếng đồn lúc sinh tiền, Hòa thượng tuy là nam giới (về mặt sinh học), nhưng giọng nói, cử chỉ, và phong thái lại y hệt phụ nữ, đặc biệt là hình ảnh các bà má Nam Bộ (nhai trầu, mặc áo bà ba, quấn khăn rằn hoặc khăn lụa). Trong tín ngưỡng Nam Bộ, đây được gọi là “Xác Cô/Cốt Bà” hoặc hiện tượng “Chuyển Thân”. Người dân tin rằng: Ngài là hóa thân của Đức Quan Thế Âm (Vốn xuất thân là nam nhưng hiện tướng nữ để cứu khổ). Hoặc ngài là cốt của Diêu Trì Kim Mẫu (Mẹ Sanh) giáng trần. Vào thời chiến tranh, ngài Thích Thiện Phước đã biến nơi đây thành chốn “phổ độ”, chẩn tế người nghèo, nuôi dạy trẻ cô nhi lưu lạc, tiếng đồn là Bồ-tát giữa thời loạn lạc, cứu giúp cho bách gia vạn hộ đang gặp cảnh nguy khốn giữa cơn binh hỏa. Sau này khi đất nước trở lại cảnh thái bình, ngài Thích Thiện Phước cũng được vinh danh là người từng có công cống hiến cho hoạt động cách mạng. Để gần gũi với dân gian, vừa chăm sóc cho trẻ thơ, vừa trông nom cho những người phụ nữ cơ nhỡ, Hòa thượng thường tự xưng mình là Mẹ, Má, mặc đồ bà ba, nhai trầu, thế nên mọi người xung quanh đều gọi là Mẹ Trầu. Đến năm 1986 thì Hòa thượng viên tịch, hay Mẫu Trầu hóa thăng. Ngay từ khi còn tại thế, Mẫu Trầu đã rất nổi tiếng đức hạnh, lại nghe nói có nhiều phép linh dị, có hộ pháp thần bảo trợ, nên hệ phái Non Bồng được sự quy ngưỡng của rất nhiều bà con, tiếng lành đồn xa. Hồi thập niên 80-90, kinh tế thị trường sơ khai đầy rủi ro pháp lý và xã hội. Doanh nhân đi trên dây, có thể ngã ngựa bất cứ lúc nào. Họ không cần một vị thiền sư bảo họ “Đời là bể khổ, hãy buông bỏ tiền bạc”. Họ cần một vị Thánh Mẫu bảo họ: “Con cứ làm giàu đi, Mẹ sẽ độ cho con an toàn, miễn là con biết chia sẻ (cúng dường)”.

Thành thử, Bảy Phụng nghe lời bạn kể, cũng muốn lên đây cầu may thử vận, nhưng trong lòng anh lúc này chí thành tha thiết, bởi cú lừa vừa rồi đã làm anh điêu đứng, không còn gì để mất nữa.

Anh quỳ trước ban thờ Mẫu Trầu. 1 ngày... 2 ngày... 3 ngày... Đầu gối anh trầy xước, máu rỉ ra thấm ướt ống quần xà lõn. Anh không ăn, chỉ uống nước cầm hơi. Miệng lầm rầm khấn vái:

- Mẫu ơi, con khổ quá. Xin Mẫu cho con con đường sống. Con hứa làm trâu làm ngựa trả nợ đời.

Đến đêm thứ 4. Bảy Phụng kiệt sức, ngất lịm đi dưới chân tượng. Trong cơn mê sảng, giữa ranh giới thực và ảo, anh thấy một luồng sáng xanh tỏa ra. Một người mặc áo bà ba, miệng nhai trầu, tay cầm quạt mo hiện ra, nhìn anh vừa nghiêm khắc vừa từ bi.

- Tăng Minh Phụng! - Tiếng nói vang lên như chuông đồng. Bảy Phụng ngoái đầu lên nhìn, dụi mắt vì không nhìn rõ nhân dạng người đối diện.

- Mẹ biết con là ai? Mẹ biết con lên đây cầu Mẹ cho con cái ngân tiền lấy lộc làm ăn, đặng mai này giàu sang với thiên hạ. Nhưng mạng con không nên giàu, nếu giàu sẽ rước tai họa, Mẹ không độ con được, thôi con về đi!

Bảy Phụng nghe thế thì la lên, đứng phắt dậy van xin Mẹ đoái thương, nhưng vừa mới đó đã thấy nhân dạng tan biến như lớp màn sương. Nhưng lòng anh đã quyết, chai sần như sắt đá, anh lại tiếp tục quỳ và nói:

- Con chẳng còn gì để mất nữa rồi, Mẹ thương Mẹ cứu đời con. Con từ nhỏ đến lớn chịu thấu cảnh nghèo không thể tả nổi, không lẽ Mẹ nhơn từ mà trơ mắt nhìn con nhỏ thua đau với đời ra thế sao? Mẹ ơi xin cảm lòng con, con chí thành chí thiết, con lạy van Mẹ cho con đổi đời lấy tài lộc công danh, nếu không thì con chẳng thiết sống nữa. Chỉ cần con đổi đời hanh thông, Mẹ muốn con làm gì con cũng làm. Con sẽ quy y chân Mẹ, làm đệ tử Non Bồng, đem hết tiền của giúp cho chùa chiền của Mẹ lan tỏa khắp nơi. Mẹ ơi Mẹ đoái nghĩ cho con, con tuy là thân nam nhưng lòng con cũng có sự yếu mềm, chua chát phận đời, con khóc muốn chảy máu mắt mà Mẹ không hữu tình động lòng thương con sao?

Cứ như vậy, Bảy Phụng lại quỳ trước bảo tháp thờ Hòa thượng, gục mặt cúi đầu mong Mẫu hiển linh lần nữa. Đến đêm thứ 7, chỉ còn một hai giờ nữa là bước sang ngày mới. Bảy Phụng mệt mỏi rã rời, người ta đến đỡ anh dậy muốn anh vào nghỉ, uống chút nước, ăn chút cơm chay, nhưng Phụng gạt phắt đi, nói với mọi người:

- Mẹ không hiện ra thương ngộ thì ngộ không đứng dậy đâu, ngộ mất hết rồi, không tiếc gì cái mạng này nữa. Hôm nay không gặp được Mẹ thì ngộ thà đâm đầu vô bia đá chết luôn, đừng ai can ngăn ngộ, đi ra hết đi, sống nhục như vầy ngộ không cam lòng.

Đến gần nửa đêm đó, Bảy Phụng mệt lả, tựa đầu vào tấm bia gục xuống. Trong lúc mơ màng anh lại như thấy hình bóng Mẫu Trầu thấp thoáng đâu đây, chỉ nghe tiếng thở dài rồi Mẫu Trần cất tiếng nói:

- Mẹ nói cho con biết, căn số của con chẳng phải tầm thường. Con là Ông Táo mắc đọa, bị trời đày xuống trần gian chịu khổ. Số con là số Phá Quân, không giữ được tiền. Nếu con muốn giàu, con phải mượn nợ thiên hạ mà làm. Nhưng hãy nhớ kỹ lời Mẹ: Tài sản 10 phần, con phải đem 7 phần đi giúp người (cứu nhân độ thế), chỉ được giữ 3 phần. Nếu con khởi lòng tham, muốn chiếm đoạt làm của riêng, thì ngày con về với Mẹ, con cũng chỉ mặc đúng cái quần xà lõn rách nát như hôm nay thôi nghe!

Bảy Phụng khóc nấc lên trong mơ:

- Con xin thề! Con xin thề!

Mẫu mỉm cười, phẩy quạt:

- Thôi con về đi. Khoảng hai ngày sau, giờ Mão (5 giờ sáng), con hãy ra ngã tư Bình Thới, con có nhớ chỗ đó không, con hay đi xe lôi ngang đó. Quý nhân của đời con đang đợi ở đó. Người đó nắm giữ ấn kiếm giúp con mở kho tiền thiên hạ. Mẹ sẽ độ cho con nên duyên với người đó, con nhớ chưa?

- Dạ con nhớ, con nhớ rồi. - Bảy Phụng gật đầu lia lịa nói.

Bảy Phụng bừng tỉnh. Trời vừa hửng sáng. Dù thân thể đau nhức, nhưng đôi mắt anh rực sáng một niềm tin kỳ lạ. Anh rủ bạn lao xe về lại Sài Gòn.

Đúng như lời Mẫu dặn. Hai ngày sau, Bảy Phụng có mặt tại ngã tư Bình Thới. Đồng hồ chỉ đúng 5 giờ sáng (Giờ Mão).

Sài Gòn lúc này còn ngái ngủ. Màn sương sớm màu xám đục lảng bảng trôi trên mặt đường nhựa. Bảy Phụng đứng tựa lưng vào gốc cây điệp già, tim đập thình thịch như trống trận. Anh mặc chiếc áo sơ mi mới nhất (dù đã sờn cổ), tóc chải ngược, cố tạo ra vẻ ngoài của một “Lý Gia Thành” tương lai, dù trong túi anh lúc này rỗng tuếch. “Quý nhân nắm giữ ấn kiếm...” - Câu nói của Mẫu Trầu văng vẳng trong đầu anh.

Đột nhiên, từ trong màn sương, một chiếc xe Honda 67 màu đen trờ tới. Người lái xe mặc bộ cảnh phục màu vàng quen thuộc. Là cô Sương. Nhưng hôm nay, cô không đứng trên bục chỉ huy. Chiếc xe của cô chao đảo rồi chết máy ngay giữa ngã tư vắng vẻ. Cô loay hoay đạp cần khởi động, mồ hôi lấm tấm trên trán.

- Cô Sương! Xe hư hả? Để tui coi cho! – Bảy Phụng lấy làm lạ, không biết sao cô công an lại xuất hiện đúng lúc này, nhưng vẫn lao ra để xem giúp.

Cô Sương ngẩng lên, nhận ra gã “Bảy Khùng” lái xe lôi mấy bữa trước. Ánh mắt cô thoáng chút đề phòng, nhưng rồi dịu lại khi thấy vẻ chân thành (và bộ dạng chải chuốt vụng về) của anh.

- Anh biết sửa xe không đó? Hay lại phá banh xe tôi? - Cô hỏi, giọng đã bớt phần sắc lạnh.

- Tui dân chạy xe lôi mà. Cái gì tui hông biết sửa! - Bảy Phụng cười hề hề, tay chân thoăn thoắt kiểm tra bugi. Chỉ vài phút sau, tiếng máy xe nổ giòn tan.

Cô Sương nhìn anh, mỉm cười - một nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt vốn quen với sự nghiêm nghị. Nụ cười ấy, trong khoảnh khắc, đã làm tan chảy lớp băng giá giữa “kẻ vi phạm” và “người thi hành luật”.

- Cảm ơn anh Bảy. Sớm nay anh không đi chở hàng sao?

- Dạ không. Hôm nay tui đi... tìm vợ. - Bảy Phụng buột miệng nói, rồi mặt đỏ bừng.

Cô Sương bật cười khúc khích:

- Khùng quá cha nội! Tìm vợ giờ này ai mà bán?

Cuộc đối thoại đang vui vẻ thì bỗng dưng, không gian xung quanh như đặc quánh lại. Gió ngừng thổi. Tiếng xe cộ xa xa dường như tắt lịm.

Một bà lão bán vé số, dáng người nhỏ thó, mặc bộ bà ba nâu sờn rách, đội chiếc nón lá sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt, lững thững đi ngang qua hai người. Bà đi rất chậm, nhưng bước chân nhẹ bẫng như không chạm đất.

Khi đi ngang qua Bảy Phụng, bà lão dừng lại. Bảy Phụng định rút túi (dù không có tiền) để mua ủng hộ, nhưng bà lão không chìa xấp vé số ra. Bà khẽ nâng vành nón lên. Trong bóng mờ dưới vành nón, Bảy Phụng không nhìn rõ mặt, chỉ thấy đôi mắt sáng quắc như sao đêm.

- Tăng Minh Phụng! - Giọng bà lão vang lên, trầm đục và uy nghi, y hệt giọng Mẫu Trầu đêm hôm trước ở Non Bồng. Bảy Phụng rùng mình, lông tóc dựng ngược. Anh đứng chết trân.

- Ta đã mượn dây tơ hồng, cột chân con với người này rồi. - Bà lão hất hàm về phía cô Sương đang lúi húi chỉnh gương xe, dường như cô Sương không hề nghe thấy giọng bà, cũng không cảm nhận được sự hiện diện kỳ dị này.

- Nữ này là chìa khóa mở kho tiền thiên hạ cho con. Hãy trân trọng người ta.

Rồi giọng bà lão đanh lại, lạnh như băng:

- Nhưng nhớ lời thề ở Non Bồng. Con chỉ là Thủ kho của Trời Phật. Con cầm tiền tỷ, nhưng tiền đó là để cứu nhân độ thế. Nếu con tham lam, muốn làm vua một cõi, thì ngã tư này chính là nơi con bắt đầu, và cũng là nơi con kết thúc. Lúc đó, đừng hỏi sao Mẹ không báo trước!

Nói xong, bà lão hạ vành nón xuống, tiếp tục bước đi, miệng rao lầm bầm: “Vé số chiều xổ đây... Giàu sang đổi vận đây...”

Bảy Phụng bàng hoàng tỉnh lại. Anh quay sang nhìn cô Sương, cô vẫn đang cười nói gì đó, hoàn toàn không biết vừa có một “cuộc giao dịch tâm linh” diễn ra ngay bên cạnh.

- Cô Sương, chờ tui xíu! - Bảy Phụng vùng chạy đuổi theo bà lão bán vé số. Bóng bà lão đã đi khuất sau ngã rẽ. Anh chạy thục mạng, đến nơi thì thấy bà đang đứng lơ ngơ ở góc đường. Bảy Phụng lao tới, nắm lấy vai bà, lay mạnh:

- Mẹ! Mẹ ơi! Con xin nghe lời! Mẹ dạy thêm cho con...

Bà lão quay lại. Chiếc nón lá rơi xuống đất. Đó là một khuôn mặt già nua, nhăn nheo, đôi mắt đục ngầu, miệng móm mém cười ngờ nghệch, nước dãi chảy ra mép. Không hề có chút thần thái uy nghi nào của Mẫu Trầu ban nãy.

- Mua vé số hông chú? Mua đi, sáng mua chiều trúng độc đắc... - Bà lão chìa xấp vé số nhàu nát ra, giọng run rẩy, phàm tục.

Bảy Phụng buông tay ra, lùi lại vài bước. Anh hiểu rồi. Mẫu Trầu đã “mượn xác” bà lão trong giây lát để truyền tin, rồi Ngài đã đi rồi. Anh đứng đó, giữa ngã tư Bình Thới, mồ hôi vã ra như tắm. Trong túi anh không có tiền mua vé số, nhưng anh biết, anh vừa trúng giải độc đắc lớn nhất cuộc đời mình. Và cái giá phải trả cho giải độc đắc đó, cũng khủng khiếp không kém.

Bảy Phụng quay lại chỗ cô Sương. Ánh mắt anh lúc này không còn là ánh mắt của gã trai si tình nữa. Đó là ánh mắt của một kẻ đã ký khế ước với Thần linh.

- Cô Sương, sáng nay tui mời cô ăn hủ tiếu gõ nha. Tui muốn kể cô nghe về giấc mơ Lý Gia Thành của tui. – Cô Sương nhìn anh, rồi gật đầu. Và thế là, bánh xe định mệnh bắt đầu lăn. Cũng chính từ người vợ hiền này – cô cảnh sát ngày nào cũng biên phạt anh, lại là người hậu phương cho sự nghiệp tuyệt đỉnh sau này của đại gia Tăng Minh Phụng.

Không rõ cô Sương rồi sẽ giúp người chồng tương lai ra sao? Và số phận Tăng Minh Phụng sẽ gặp khúc rẽ ngoạn mục như thế nào? Xem Phần 2 sẽ rõ…

Bài học cần nhắn nhủ: Người đời thường lầm tưởng “Cầu được ước thấy” là Phước đức. Sai lầm. Phước đức là thứ bạn đã tích lũy từ trước (như tiền tiết kiệm). Khi bạn cầu xin một thứ vượt quá Phước đức hiện có (như Bảy Phụng cầu làm tỷ phú khi đang chạy xe lôi), Thần linh (hoặc Thực thể siêu nhiên) sẽ cấp cho bạn một khoản Tín dụng (Credit). Đây là hành động “Mượn lộc tương lai”. Bạn lấy may mắn của 10 kiếp sau dồn vào kiếp này. Hoặc bạn lấy sức khỏe/tuổi thọ của mình ra thế chấp. Đây là một Hợp đồng phái sinh (Derivative Contract) với đòn bẩy cực cao. Tài sản thế chấp không phải sổ đỏ, mà là Sinh mệnh và Gia đạo. Lãi suất rất cao. Trong trường hợp Tăng Minh Phụng, lãi suất là 70% (làm ra 10 đồng phải trả lại đời 7 đồng). Tại sao gọi là “vay nặng lãi”? Vì “chủ nợ” (Thế lực siêu nhiên) nắm quyền định đoạt tuyệt đối. Khi “con nợ” vi phạm điều khoản, cơ chế thanh lý hợp đồng được kích hoạt ngay lập tức. Cái chết của Tăng lão gia không chỉ là án tử hình pháp lý. Đó là sự thu hồi nợ gốc lẫn lãi của vũ trụ. Ông ra đi tay trắng (quần xà lõn) vì ông đã bị “siết nợ” toàn bộ tài sản trần gian để trả cho món nợ tâm linh khổng lồ kia. Trong giai thoại kể rằng Mẫu đã cảnh báo số của Bảy Phụng là sao Phá Quân, trong Tử Vi Đẩu Số, sao Phá Quân thuộc Bắc Đẩu Tinh, hành Thủy. Nó là “Hao Tinh” (Sao hao tán) và là “Hung Tinh” (Sao dữ). Nó tượng trưng cho Tướng quân đi đầu trong trận mạc. Tăng Minh Phụng chính là hiện thân sống động nhất của Phá Quân. Phá Quân đi đến đâu, cái cũ nát tan tành đến đó. Nó đập bỏ trật tự cũ để xây dựng trật tự mới. Tăng gia đã “đập bỏ” tư duy làm ăn cò con, manh mún thời bao cấp. Ông xây dựng mô hình tập đoàn, khu công nghiệp hiện đại. Người đi tiên phong luôn là người hứng nhiều tên đạn nhất. Phá Quân không bao giờ được hưởng thụ thành quả bình yên. Nhiệm vụ của nó là khai hoang. Khai hoang xong thì nó... tử (hoặc đi chỗ khác), để lại đất đai màu mỡ cho người sau (các đại gia bất động sản hiện nay) hưởng. Người mang số Phá Quân là những Cảm tử quân của Lịch sử. Họ bắt buộc phải sai lầm, bắt buộc phải ngã ngựa, để xã hội học được bài học và tiến lên.
 
Sao trên này tao nghe chúng nó kể Bác Ba như Quốc Phụ dân Namkery mà lại thành ra thế này. Pác 3 this ,Pác 3 that à :shame:
 

Có thể bạn quan tâm

Top