BỨC TƯỜNG LỬA
Bức tường lửa là thuật ngữ trong giới nói về thể chế ngăn chặn thao túng trên thị tài chính. Nói cách khác là ngăn chặn xung đột lợi ích lớn, cơ bản của thị trường.
Thị trường tài chính - trung gian của nền kinh tế - nơi dòng tiền khổng lồ huy động từ số đông ít hiểu biết về các sản phẩm tài chính phức tạp được dùng để tài trợ cho các sản phẩm tài chính phức tạp. Bởi vậy, bảo vệ người gửi tiền và nhà đầu tư nhỏ và tạo ra một thiết chế tài chính an toàn, minh bạch không thể là các tuyên bố chính trị, nó phải luật hoá, hình sự hoá bởi các bức tường lửa đủ lớn, đủ dày dặn. Nếu không làm nổi điều đó, thị trường sẽ trở thành "lò mổ" đúng nghĩa. Cứ mỗi vài năm, chúng ta lại đối mặt với giải cứu nhỏ, mỗi thập kỷ lại đối mặt với giải cứu lớn. Tiền giải cứu chính là "thuế ẩn" tính trên đầu mỗi chúng ta. Nước nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, không có ngoại lệ.
Một trong những bài học kinh điển về khủng hoảng là sự thao túng thị trường tài chính của các tập đoàn kinh tế tư nhân phi tài chính. Rất nhiều, nhưng chúng ta nói về tình huống gần gũi nếu xét tới thời gian và địa lý với chúng ta, ấy là Hàn Quốc vào thập kỷ 90. Hãy nhớ lại các Chaebol Hàn đã "làm thịt" thị trường thế nào.
HÀN QUỐC VÀ CÁC CHAEBOL CỦA HỌ
Nhằm ngăn chặn các Chaebol biến ngân hàng thành "két sắt riêng", Đạo luật Ngân hàng Hàn Quốc năm 1982 đã tính tới điều này, thiết lập nguyên tắc Geumsan Bunri (tách biệt tài chính và thương mại). Theo đó, một tập đoàn kinh tế phi tài chính (như các Chaebol) chỉ được phép sở hữu tối đa 10% tổng số cổ phần tại một NHTM (năm 1994 giảm còn 8%), và quyền biểu quyết bị giới hạn cực kỳ khắt khe ở mức tối đa 4%. Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu này chính là cho các ông chủ Tập đoàn kinh tế tư nhân phi tài chính rất nhiều "quyền lực" trong ngân hàng. Đặc biệt, nếu các "tường lửa" giữa ngân hàng chính thức và các ngân hàng ngầm (có thể là công ty tài chính, CTCK) mà nó trợ không được thiết lập thì tỷ lệ sở hữu 10% (và được phép sở hữu) chính là mỏ vàng cho Chaebol.
Quả đúng vậy! Rào cản này đã thất bại trong việc ngăn ngừa rủi ro tín dụng hệ thống vì hai nguyên nhân cốt lõi: (i) mặc dù chỉ nắm quyền biểu quyết 4%, nhưng trong bối cảnh cơ cấu cổ đông của các ngân hàng thương mại lúc bấy giờ rất phân tán, mức 4% – 10% là đủ để các Chaebol đóng vai trò cổ đông lớn, họ có ảnh hưởng lớn tới hoạt động, quyết định của NHTM; (2) Họ tận dụng tính ỷ lại của các cổ đông nhỏ lẻ để thao túng các quyết định thẩm định tín dụng, buộc ngân hàng phải phục vụ lợi ích của tập đoàn. Lách luật qua các ngân hàng ngầm => Để bù đắp cho sự hạn chế tại các NHTM, các Chaebol đã tích cực thâu tóm các công ty tài chính (ngân hàng ngầm để đảo nợ, vay nợ nhằm tránh vi phạm việc cổ đông lớn có đặc quyền vay nợ lớn ấy mà).
Thế là các NHTM - thông qua ngân hàng ngầm - đã thực hiện "cho vay sân sau - chính là các Chaebol" ồ ạt, bỏ qua các tiêu chuẩn đánh giá rủi ro độc lập để bơm vốn cho các công ty con trực thuộc hệ sinh thái.
Dữ liệu thực nghiệm của IMF ghi nhận, trước thềm khủng hoảng 1997, 30 Chaebol lớn nhất chiếm tới hơn 60% tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng, với tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu trung bình bùng nổ lên mức hơn 500%. Khi điều kiện vĩ mô biến động, sự sụp đổ của các công ty con lập tức kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng, dẫn tới một cuộc khủng hoảng tín dụng trầm trọng.
Sau sai lầm này, 2000 Hàn Quốc đã phân loại tập đoàn kinh tế thành 02 nhóm: Tập đoàn kinh tế phi tài chính và Tập đoàn tài chính. Ông thuộc nhóm nào thì không được sở hữu chéo cái ông còn lại. Trong cùng một tập đoàn: công ty con A không được sở hữu cổ phần công ty con B trong cùng tập đoàn (để tránh tăng vốn ảo, chuyển giá ảo, trốn thuế má tùm lum ấy), công ty con A không được sở hữu cổ phần công ty mẹ, công ty cháu không được sở hữu cổ phần công ty con.....
Tóm lại, ông sản xuất thì không nên và không thể sở hữu, thâu tóm một thực thể nào trong thị trường tài chính. Lại càng không thể sở hữu ngân hàng hay các ngân hàng ngầm được. Mà các NHTM nếu có thể cho vay qua ngân hàng ngầm thì các ông lớn chỉ cần sở hữu ngân hàng ngầm hoặc thao túng được hệ thống ngân hàng ngầm là xong.
LUẬT CỦA VIỆT NAM VÀ BỨC TƯỜNG LỬA CỦA CHÚNG TA
Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (Luật số 32/2024/QH15), chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2024 đã giảm tỷ lệ cổ phần, vốn mà ông chủ các tập đoàn kinh tế tư nhân phi tài chính và người liên quan được nắm giữ từ 20% xuống còn 15%, nếu đứng trên danh nghĩa tổ chức thì tỷ lệ được giảm giữ giảm từ 15% xuống còn 10%.
Và đặc biệt yêu cầu minh bạch thông tin là phải kê khai, báo cáo....
Báo chí ca ngợi, người gửi tiền yên tâm, người làm Luật cũng cảm thấy thành tựu. Và tất cả đều không sai.
Nhưng chúng ta chẳng học được gì từ sự đổ vỡ của Hàn Quốc, Chile, Evergrande hay bất kỳ cuộc khủng hoảng nào trước đó.
Bởi vì, chỉ cần được sở hữu, thì tỷ lệ cao hay thấp một chút, chế độ báo cáo khắc nghiệt một chút cũng không có ý nghĩa gì NẾU bức tường lửa giữa NHTM chính thống (mà Chaebol được sở hữu) và các ngân hàng ngầm (Công ty tài chính, công ty chứng khoán) không được thiết lập, thậm chí còn không được giám sát.
Nên nhớ, bạn có thể rút tiền từ hệ thống NHTM thông qua một công ty chứng khoán/tài chính có liên kết với NHTM này bằng rất nhiều các sản phẩm tài chính huy động vốn cho bạn (ví dụ như TPDN chẳng hạn). Thông qua hệ thống ngân hàng ngầm, bạn có thể đảo nợ, vay nợ và đưa tiền gửi của người dân vào cuộc phiêu lưu không hồi kết của bạn: mọi thứ sẵn và rẻ trong khi lách vào khe hở này bạn lại không phải trả giá bằng các khoản phạt bằng tiền đủ lớn hoặc án hình sự đủ răn đe.
Đây mới là mấu chốt của rủi ro, chỉ cần nó tồn tại, nó sẽ vô hiệu hoá ngay lập tức các nỗ lực của Luật các tổ chức tín dụng 2004 trong việc: (i) mở rộng không gian giám sát (mở rộng đáng kể để bao trùm các mối quan hệ sở hữu chéo đa tầng, công ty mẹ – con, công ty liên kết, nhằm chặn đứng hành vi lập "công ty ma" để vay vốn); (ii) Cách ly dòng vốn (TCTD bị nghiêm cấm cấp tín dụng cho các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và người thân của họ, cũng như các pháp nhân mà những cá nhân này đang nắm quyền kiểm soát); (iii) thu hẹp van tín dụng sân sau (Điều 136); (iv) minh bạch hoá cấu trúc sở hữu 'bóng' (Điều 49).
Cho nên, Luật thực ra chỉ cần đơn giản là nhắm trúng vấn đề một cách hệ thống thì không cần phải cồng kềnh đến thế trong các Điều khoản có vẻ bề ngoài "an toàn".
Mấy hôm nay, nghiên cứu Luật một số ngành (phục vụ công việc), mình lại càng buồn, một số ngành có sự tiến bộ đáng ca ngợi, nhưng riêng ngành tài chính thì .....
P/S: Lướt thấy cái tít báo hay hay, mình cảm thán chút thôi. Hình chỉ mang tính minh hoạ. Bài viết không nhắm vào cá nhân hay tổ chức nào
Bức tường lửa là thuật ngữ trong giới nói về thể chế ngăn chặn thao túng trên thị tài chính. Nói cách khác là ngăn chặn xung đột lợi ích lớn, cơ bản của thị trường.
Thị trường tài chính - trung gian của nền kinh tế - nơi dòng tiền khổng lồ huy động từ số đông ít hiểu biết về các sản phẩm tài chính phức tạp được dùng để tài trợ cho các sản phẩm tài chính phức tạp. Bởi vậy, bảo vệ người gửi tiền và nhà đầu tư nhỏ và tạo ra một thiết chế tài chính an toàn, minh bạch không thể là các tuyên bố chính trị, nó phải luật hoá, hình sự hoá bởi các bức tường lửa đủ lớn, đủ dày dặn. Nếu không làm nổi điều đó, thị trường sẽ trở thành "lò mổ" đúng nghĩa. Cứ mỗi vài năm, chúng ta lại đối mặt với giải cứu nhỏ, mỗi thập kỷ lại đối mặt với giải cứu lớn. Tiền giải cứu chính là "thuế ẩn" tính trên đầu mỗi chúng ta. Nước nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, không có ngoại lệ.
Một trong những bài học kinh điển về khủng hoảng là sự thao túng thị trường tài chính của các tập đoàn kinh tế tư nhân phi tài chính. Rất nhiều, nhưng chúng ta nói về tình huống gần gũi nếu xét tới thời gian và địa lý với chúng ta, ấy là Hàn Quốc vào thập kỷ 90. Hãy nhớ lại các Chaebol Hàn đã "làm thịt" thị trường thế nào.
HÀN QUỐC VÀ CÁC CHAEBOL CỦA HỌ
Nhằm ngăn chặn các Chaebol biến ngân hàng thành "két sắt riêng", Đạo luật Ngân hàng Hàn Quốc năm 1982 đã tính tới điều này, thiết lập nguyên tắc Geumsan Bunri (tách biệt tài chính và thương mại). Theo đó, một tập đoàn kinh tế phi tài chính (như các Chaebol) chỉ được phép sở hữu tối đa 10% tổng số cổ phần tại một NHTM (năm 1994 giảm còn 8%), và quyền biểu quyết bị giới hạn cực kỳ khắt khe ở mức tối đa 4%. Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu này chính là cho các ông chủ Tập đoàn kinh tế tư nhân phi tài chính rất nhiều "quyền lực" trong ngân hàng. Đặc biệt, nếu các "tường lửa" giữa ngân hàng chính thức và các ngân hàng ngầm (có thể là công ty tài chính, CTCK) mà nó trợ không được thiết lập thì tỷ lệ sở hữu 10% (và được phép sở hữu) chính là mỏ vàng cho Chaebol.
Quả đúng vậy! Rào cản này đã thất bại trong việc ngăn ngừa rủi ro tín dụng hệ thống vì hai nguyên nhân cốt lõi: (i) mặc dù chỉ nắm quyền biểu quyết 4%, nhưng trong bối cảnh cơ cấu cổ đông của các ngân hàng thương mại lúc bấy giờ rất phân tán, mức 4% – 10% là đủ để các Chaebol đóng vai trò cổ đông lớn, họ có ảnh hưởng lớn tới hoạt động, quyết định của NHTM; (2) Họ tận dụng tính ỷ lại của các cổ đông nhỏ lẻ để thao túng các quyết định thẩm định tín dụng, buộc ngân hàng phải phục vụ lợi ích của tập đoàn. Lách luật qua các ngân hàng ngầm => Để bù đắp cho sự hạn chế tại các NHTM, các Chaebol đã tích cực thâu tóm các công ty tài chính (ngân hàng ngầm để đảo nợ, vay nợ nhằm tránh vi phạm việc cổ đông lớn có đặc quyền vay nợ lớn ấy mà).
Thế là các NHTM - thông qua ngân hàng ngầm - đã thực hiện "cho vay sân sau - chính là các Chaebol" ồ ạt, bỏ qua các tiêu chuẩn đánh giá rủi ro độc lập để bơm vốn cho các công ty con trực thuộc hệ sinh thái.
Dữ liệu thực nghiệm của IMF ghi nhận, trước thềm khủng hoảng 1997, 30 Chaebol lớn nhất chiếm tới hơn 60% tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng, với tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu trung bình bùng nổ lên mức hơn 500%. Khi điều kiện vĩ mô biến động, sự sụp đổ của các công ty con lập tức kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng, dẫn tới một cuộc khủng hoảng tín dụng trầm trọng.
Sau sai lầm này, 2000 Hàn Quốc đã phân loại tập đoàn kinh tế thành 02 nhóm: Tập đoàn kinh tế phi tài chính và Tập đoàn tài chính. Ông thuộc nhóm nào thì không được sở hữu chéo cái ông còn lại. Trong cùng một tập đoàn: công ty con A không được sở hữu cổ phần công ty con B trong cùng tập đoàn (để tránh tăng vốn ảo, chuyển giá ảo, trốn thuế má tùm lum ấy), công ty con A không được sở hữu cổ phần công ty mẹ, công ty cháu không được sở hữu cổ phần công ty con.....
Tóm lại, ông sản xuất thì không nên và không thể sở hữu, thâu tóm một thực thể nào trong thị trường tài chính. Lại càng không thể sở hữu ngân hàng hay các ngân hàng ngầm được. Mà các NHTM nếu có thể cho vay qua ngân hàng ngầm thì các ông lớn chỉ cần sở hữu ngân hàng ngầm hoặc thao túng được hệ thống ngân hàng ngầm là xong.
LUẬT CỦA VIỆT NAM VÀ BỨC TƯỜNG LỬA CỦA CHÚNG TA
Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (Luật số 32/2024/QH15), chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2024 đã giảm tỷ lệ cổ phần, vốn mà ông chủ các tập đoàn kinh tế tư nhân phi tài chính và người liên quan được nắm giữ từ 20% xuống còn 15%, nếu đứng trên danh nghĩa tổ chức thì tỷ lệ được giảm giữ giảm từ 15% xuống còn 10%.
Và đặc biệt yêu cầu minh bạch thông tin là phải kê khai, báo cáo....
Báo chí ca ngợi, người gửi tiền yên tâm, người làm Luật cũng cảm thấy thành tựu. Và tất cả đều không sai.
Nhưng chúng ta chẳng học được gì từ sự đổ vỡ của Hàn Quốc, Chile, Evergrande hay bất kỳ cuộc khủng hoảng nào trước đó.
Bởi vì, chỉ cần được sở hữu, thì tỷ lệ cao hay thấp một chút, chế độ báo cáo khắc nghiệt một chút cũng không có ý nghĩa gì NẾU bức tường lửa giữa NHTM chính thống (mà Chaebol được sở hữu) và các ngân hàng ngầm (Công ty tài chính, công ty chứng khoán) không được thiết lập, thậm chí còn không được giám sát.
Nên nhớ, bạn có thể rút tiền từ hệ thống NHTM thông qua một công ty chứng khoán/tài chính có liên kết với NHTM này bằng rất nhiều các sản phẩm tài chính huy động vốn cho bạn (ví dụ như TPDN chẳng hạn). Thông qua hệ thống ngân hàng ngầm, bạn có thể đảo nợ, vay nợ và đưa tiền gửi của người dân vào cuộc phiêu lưu không hồi kết của bạn: mọi thứ sẵn và rẻ trong khi lách vào khe hở này bạn lại không phải trả giá bằng các khoản phạt bằng tiền đủ lớn hoặc án hình sự đủ răn đe.
Đây mới là mấu chốt của rủi ro, chỉ cần nó tồn tại, nó sẽ vô hiệu hoá ngay lập tức các nỗ lực của Luật các tổ chức tín dụng 2004 trong việc: (i) mở rộng không gian giám sát (mở rộng đáng kể để bao trùm các mối quan hệ sở hữu chéo đa tầng, công ty mẹ – con, công ty liên kết, nhằm chặn đứng hành vi lập "công ty ma" để vay vốn); (ii) Cách ly dòng vốn (TCTD bị nghiêm cấm cấp tín dụng cho các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và người thân của họ, cũng như các pháp nhân mà những cá nhân này đang nắm quyền kiểm soát); (iii) thu hẹp van tín dụng sân sau (Điều 136); (iv) minh bạch hoá cấu trúc sở hữu 'bóng' (Điều 49).
Cho nên, Luật thực ra chỉ cần đơn giản là nhắm trúng vấn đề một cách hệ thống thì không cần phải cồng kềnh đến thế trong các Điều khoản có vẻ bề ngoài "an toàn".
Mấy hôm nay, nghiên cứu Luật một số ngành (phục vụ công việc), mình lại càng buồn, một số ngành có sự tiến bộ đáng ca ngợi, nhưng riêng ngành tài chính thì .....
P/S: Lướt thấy cái tít báo hay hay, mình cảm thán chút thôi. Hình chỉ mang tính minh hoạ. Bài viết không nhắm vào cá nhân hay tổ chức nào
